TRẦN NHẬT VY
Chữ quốc ngữ chính thức được phổ biến toàn quốc từ cuối năm 1919. Sau một thời gian chuẩn bị khoảng hơn 20 năm, triều Nguyễn đã quyết định chấm dứt “nho học” và chuyển toàn bộ chương trình giáo dục ở miền Trung và Bắc trở thành chương trình Việt-Pháp giống như chương trình giáo dục ở Nam Kỳ, nghĩa là trong chương trình dạy bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, trong các kỳ thi cả hai thứ tiếng này đều nằm trong chương trình và chữ nho hoàn toàn bị loại khỏi.
Kể từ đó chữ quốc ngữ đã trở thành thứ chữ của người Việt trên toàn cõi Việt Nam. Và cũng từ đó, ngoài báo chí, văn chương quốc ngữ bắt đầu phổ biến rộng khắp.
So với Saigon và Nam Kỳ, văn chương quốc ngữ ở miền Trung và Bắc xuất hiện chậm hơn nửa thế kỷ. Năm 1925, hai cuốn tiểu thuyết “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách và “Quả dưa đỏ” của Nguyễn Trọng Thuật ra đời tại Hà Nội. Hai cuốn tiểu thuyết này trong suốt thế kỷ 20, được vinh danh là tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên.
Cho tới khi “Thầy Lazaro Phiền” in tại Saigon năm 1887 xuất hiện thì sự tự hào “đầu tiên” ấy mới giảm bớt, nhưng tới nay vẫn chưa được sửa chữa trong các sách giáo khoa và trong hệ thống giáo dục.
Thực tế cho thấy, ở miền Bắc hai tiểu thuyết nói trên ra đời sau tiểu thuyết ở Nam Kỳ, tức miền Nam hiện nay, gần nửa thế kỷ nếu tính từ năm 1881. Thậm chí, so với “Hà Hương phong nguyệt truyện” của Lê Hoằng Mưu đăng trên Tân Đợi Thời Báo từ năm 1915, hai tiểu thuyết in ở Hà Nội cũng đi sau gần 10 năm.
Cái gì cũng có nguyên nhân! Và nguyên nhân lớn nhất chính là sự giao lưu văn hóa quốc ngữ giữa các miền.
Khi miền Bắc và Trung Việt còn quay cuồng theo nho học, một hình thức giáo dục “dạy con người để làm quan” đã có từ hàng ngàn năm, thì Sài Gòn đã bắt đầu học và phát triển chữ quốc ngữ. Và khi báo chí quốc ngữ phổ biến rộng ở Sài Gòn, Nam Kỳ thì hai miền nói trên vẫn chưa biết gì về báo chí, đặc biệt là báo chí quốc ngữ. Không chỉ vậy, báo chí quốc ngữ ở Nam Kỳ còn “không được” phổ biến ở miền Bắc. Một mặt là do chính sách của Pháp lẫn triều Nguyễn không cho lưu thông sách báo giữa hai miền. Mặt khác, người miền Bắc không hiểu nhiều về tiếng nói và chữ nghĩa của miền Nam. Chưa kể việc học chữ quốc ngữ cũng đi sau Nam Kỳ hơn nửa thế kỷ.
Khoảng năm 1905, miền Bắc mới xuất hiện một tờ báo chữ quốc ngữ. Trên Hà Thành Ngọ Báo số 2592, ra ngày 2/5/1936, tác giả Phan Trần Chúc cho biết ở Bắc Kỳ tới năm 1905 mới thực sự có báo Quốc ngữ. Tờ báo này có tên “Đại Việt tân báo” do ông F. Babut làm chủ nhiệm, tòa soạn ở số 90 Hàng Mã, Hà Nội. Ông Chúc nhận định “Báo quốc ngữ sở dĩ ra chậm như vậy là vì hai cớ: Không có chữ và không có người đọc.” Ông cho biết chữ Quốc ngữ, ngoài những chữ giống chữ Pháp (ký tự Latin), lại có nhiều dấu, trong chữ in tiếng Pháp không có. Vì vậy, muốn ra báo chữ quốc ngữ, nhà in phải thuê Pháp đúc cho mình bộ chữ in riêng. Công đúc lâu, đường đi xa xôi. Muốn ra báo hoặc viết sách quốc ngữ, ít ra phải dự bị hàng năm. Có tờ báo trong tay vẫn chưa chắc chắn đã sống được. Vì số người đọc báo đã hiếm, đọc được chữ Quốc ngữ những năm đầu thế kỷ 20 còn hiếm nữa.
Cái khó khăn mà báo giới nước ta trải qua từ cuối thế kỷ 19 gần như vẫn còn (ở thời đại của ông Phan Trần Chúc) vì chữ in mà Đông Dương dùng vẫn phải thuê đúc ở bên Pháp và số người đọc cũng không quá 50.000 trên tổng số 20 triệu dân!
Phan Trần Chúc đã viết “trái với thông lệ văn hóa đi từ miền Bắc xuống, báo xứ mình đi từ phía Nam đi lên. So với nước Pháp, báo nước mình chậm ngót hai trăm năm. Nhưng giữa Hà Nội và Sài Gòn, báo Bắc kỳ còn ra chậm hơn báo Nam kỳ hai chục năm nữa.”
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân cũng đã nói tới điều này trong tác phẩm Khi những lưu dân trở lại xuất bản tại Sài Gòn năm 1969 “từ 1862 đến 1932 thì miền Nam đã vọt lên vai tiên phong, hướng dẫn cả mọi phương diện phát triển văn học quốc ngữ, mà còn đào tạo những nhà văn, nhà báo cho cả hai miền một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.” [Nguyễn Văn Xuân, Khi những lưu dân trở lại, Thời Mới, Sài Gòn 1969, trang 10]. Đây là một thực tế không thể chối cãi!
Trở lại với báo Đại Việt tân báo – tờ báo Quốc ngữ đầu tiên ở Bắc Kỳ, ông Phan Trần Chúc cho biết báo này ra theo thể tạp chí, mỗi trang có hai cột, một bên Quốc ngữ, một bên chữ Hán. Người giữ việc biên tập là ông Hoàng Giáp Đào Nguyên Phổ, xã Thượng Phán, huyện Quỳnh Côi, Thái Bình.
Tuy nhiên, Phan Trần Chúc không đánh giá cao nội dung của báo này. Ông viết: “Đại Việt tân báo kể cũng chẳng làm vinh hạnh cho báo giới Bắc Kỳ vì phần quốc văn, cũng như tờ báo ấy chỉ chuyên đăng những tin lặt vặt, những bài đoản bình, không có ý nghĩa gì khác là ôm chân những nhà quyền quý…”.(theo https://luutru.gov.vn/nhung-to-bao-chu-quoc-ngu-dau-tien-o-mien-bac.htm)
Trên trang tự điển mở wikipedia thì ghi nhận:
Alfred-Ernest Babut (1878-1962) là một người Pháp sống tại Đông Pháp, được biết đến trong các hoạt động đấu tranh đòi dân quyền cho người Việt cùng với những nhà cách mạng Việt Nam dưới thời Pháp thuộc đầu thế kỷ 20.
Năm 1905 ông đứng tên làm chủ nhiệm tờ Đại Việt Tân báo (tên tiếng Pháp là L’Annam); báo này là tờ báo tư nhân đầu tiên ở Hà Nội in ra bằng chữ Quốc ngữ kèm thêm một phần chữ Nho. Trụ sở báo đặt ở số 90 phố Hàng Mã với Đào Nguyên Phổ làm chủ bút. Tờ báo này đã đăng những bài xã luận đầu tiên của Phan Châu Trinh. Sau khi Babut biết đến đường lối tranh đấu ôn hòa của họ Phan ông liền mời Phan Châu Trinh về cộng tác.
Đại Việt Tân báo hoạt động được ba năm, từ Tháng 5, 1905 đến Tháng 5, 1908 thì ngừng.
Babut có thiện cảm công khai với các nhà ái quốc người Việt và đã dùng Đại Việt Tân báo là cơ quan ngôn luận không chính thức của Đông Kinh Nghĩa thục”. (https://vi.wikipedia.org/wiki/Ernest_Babut)
Tờ báo quốc ngữ được người miền Bắc thích thú và tự hào cho tới nay do ông Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút là tờ “Đông Dương tạp chí” xuất hiện ở Hà Nội năm 1913. Đây là “phụ san” của tờ Lục Tỉnh Tân Văn ở Sài Gòn được xuất bản ở Hà Nội. Tạp chí ra ngày thứ Năm hàng tuần, do F. H. Schneider, người Pháp gốc Đức, nhà kinh doanh ngành in tại Việt Nam sáng lập, ông đồng thời là chủ tờ “Lục Tỉnh Tân Văn” ở Sài Gòn trong giai đoạn này. Lâu nay, các học giả miền Bắc vẫn tung hô Đông Dương tạp chí là “tờ báo riêng” bằng chữ quốc ngữ ở miền Bắc. Sau khi tờ “Lục Tỉnh Tân Văn” lọt vào tay ông Nguyễn Văn Của, một chủ nhà in ở Sài Gòn, thì Đông Dương tạp chí bị đóng cửa vào năm 1919 vì ông Của “không quản lý được tiền bạc,” vì “xa xôi quá!”
Trong thế kỷ 20, phần lớn các nhà nghiên cứu khi nói tới “Đông Dương tạp chí” đều không nói gì đến “Lục Tỉnh tân văn.” Có thể do thiếu thông tin hoặc vì một nguyên nhân nào đó!
Các nhà nghiên cứu cũng đánh giá cao Đông Dương Tạp Chí về các phương diện:
“Tìm cách phổ biến chữ Quốc ngữ trong mọi tầng lớp dân chúng, với lối hành văn ngắn gọn, rõ ràng và rành mạch. Phá tan thành kiến xưa, chỉ xem văn vần hay lối văn biền ngẫu mới là văn chương. Dùng lối văn xuôi gãy gọn để diễn đạt tư tưởng, để nghị luận và phê bình văn học. Truyền bá tư tưởng Âu Tây bằng cách dịch những tác phẩm hay của nước ngoài, nhất là của Pháp. Bên cạnh đó, những tư tưởng cũ của nền văn học Á Đông vẫn được nghiên cứu với tinh thần mới.”
Với tinh thần “cải cách” ấy trong một xã hội đang coi chữ quốc ngữ là thứ chữ ngoại lai đã giúp cho tạp chí này sống lâu hơn thời gian sáu năm tồn tại.
Qua năm 1917, Hà Nội ra đời tờ “Nam Phong” do chánh Sở mật thám Đông Dương là Louis Marty làm chủ nhiệm, Phạm Quỳnh làm chủ biên chữ quốc ngữ, Nguyễn Bá Trác chủ biên chữ hán, tòa soạn ban đầu ở nhà số 1 phố Hàng Trống, Hà Nội – cùng nhà Phạm Quỳnh lúc bấy giờ, năm 1926 chuyển về nhà số 5 phố Hàng Da, Hà Nội.
Nam Phong thường đăng nhiều bài văn, thơ, truyện ngắn, phê bình văn học, và tài liệu lịch sử bằng chữ Quốc ngữ và chữ Hán. Đây là tờ báo được thực dân Pháp dùng để tuyên truyền cho chế độ. Tuy nhiên, tạp chí đã góp phần vào việc truyền bá chữ Quốc ngữ và bước đầu gây dựng nền quốc học bằng chữ Quốc ngữ ở miền Bắc. Nam Phong “hoàn thành nhiệm vụ” vào tháng 12 năm 1934 sau khi ra được 210 số báo.

Sau Nam Phong thì hàng loạt báo quốc ngữ ra đời ở Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc như “Annam,” “Đông Phương,” “Đông Tây,” “Hà Tĩnh Tân Văn,” “Hà Thành Ngọ Báo,” “Học Báo,” “Hữu Thanh,” “Trung Bắc Tân Văn,” “Thanh Nghệ Tịnh” [không phải Tĩnh] “Tân Văn”… lần lượt ra đời góp phần làm nhộn nhịp thị trường báo chí Việt.
Cũng cần nhắc lại, theo Luật báo chí 1898, báo chí quốc ngữ muốn ra đời phải có giấy phép của Toàn quyền Đông Dương ký và chủ nhiệm phải là người Pháp. Mãi tới năm 1917, do muốn sử dụng lực lượng báo chí tiếp tay cho nhà cầm quyền Pháp trong việc vận động dân chúng đóng góp tiền của để xây dựng lại nước Pháp sau thế chiến thứ I, Toàn quyền Albert Sarraut đã mở cửa cho phép người Việt “làm chủ báo.” Do vậy, từ năm này, rất nhiều tờ báo quốc ngữ do người Việt làm chủ, làm chủ nhiệm ra đời.
Trong gần ba thập niên đầu tiên của thế kỷ 20, báo chí Sài Gòn gần như bị cấm hoàn toàn việc bán ra miền Bắc. Nguyên nhân thì như đã nêu trên, trong đó nguyên nhân lớn nhất vẫn là “người Bắc không hiểu tiếng Nam.” Trong hồi ký về nghề báo, nhà báo Thiếu Sơn dẫn ra một chi tiết đáng chú ý về vấn đề này. Thiếu Sơn cho biết nhà Đào Trinh Nhất, một nhà báo rất nổi tiếng trong thập niên 2040, đã kể cho ông nghe. Khoảng năm 1927, Đào Trinh Nhất bỏ Hà Nội vào Sài Gòn làm báo, nhưng suốt một năm trời bài ông gửi tới các báo đều không được đăng. Bực mình một ngày nọ ông đến một tòa soạn hỏi lý do, thì chủ bút trả lời “Ông viết cái gì mà chúng tôi đọc còn không hiểu thì độc giả làm sao hiểu!” Ông Nhất phải bỏ ra một năm để học tiếng Sài Gòn để đến năm 1929 ông về làm chủ bút tờ “Phụ Nữ Tân Văn,” một trong những tờ báo ở Sài Gòn sống không lâu nhưng để lại nhiều ấn tượng trong lịch sử cho đến nay.
“Phụ Nữ Tân Văn,” cũng là tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Sài Gòn được bán công khai ở Hà Nội, và được độc giả phía bắc đón nhận rất nhiệt tình. Có thể do tờ báo viết chữ quốc ngữ “dễ hiểu” hơn so với các tờ báo khác, hoặc do chủ bút là người Bắc nên người Bắc thích? Hay các vấn đề nóng mà tờ báo này đặt ra được độc giả Bắc ưa thích? Trong số đó có tin tức những vụ nổi loạn, tin tức về thơ mới, về quyền tự do của phụ nữ!
Ngày nay, đọc lại “Phụ Nữ Tân Văn” thì thấy chữ nghĩa cũng bình thường như các tờ báo khác!
Đặc điểm của báo chí toàn quốc trong thời kỳ này là văn xuôi quốc ngữ nở rộ. Tất cả các tờ báo, từ báo tỉnh đến báo tôn giáo đều dành những trang thích đáng cho truyện dịch của phương Tây, tiểu thuyết mới của các tác giả Việt. Đồng thời chữ quốc ngữ trên các báo cũng tương đồng, không nhiều khác biệt giữa Nam-Bắc.
Khi báo chí miền Bắc nở rộ từ sau năm 1917, thì phong trào “viết tiểu thuyết đăng báo” cũng nở rộ từ đầu thập niên 1920. Hầu như tờ báo nào cũng có tiểu thuyết, ban đầu là tiểu thuyết dịch của các nước.

Và phong trào này thực sự mạnh lên vào thập niên 1930. Tờ báo được nhận định là đi đầu chính là tờ tuần báo “Phong Hóa,” ra số đầu tiên vào ngày 16/6/1932. Trong số này đoàn thiên tiểu thuyết “Mưu sâu đã đắp” của Ký Hoa được đăng đầu tiên. Đây là tờ báo khởi xướng để hai năm sau đó thành hình Tự lực văn đoàn. Sự ra đời của văn đoàn được người đọc cả nước đón nhận nồng nhiệt. Người miền Bắc “vui” vì có tiểu thuyết “của riêng mình”, tất nhiên hầu hết là giới có học chữ quốc ngữ! Còn người miền Nam “vui” vì được đọc loại tiểu thuyết “mới, lạ” để hiểu biết thêm về phương Bắc xa xôi mà lâu nay chỉ được biết chút ít qua những người đến đây làm việc, buôn bán…
Và nhóm văn bút này cho tới ngày nay đã được ca ngợi rất nhiều. Các tác phẩm tiêu biểu của nhóm như “Hồn bướm mơ tiên,” “Tiêu Sơn tráng sĩ,” “Thừa tự,” “Nửa chừng xuân,” “Đoạn tuyệt”… đã được đánh giá rất cao và được đưa vào chương trình giáo dục của cả nước. Và Linh mục Thanh Lãng, giáo sư về văn học ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn, đã chọn năm xuất hiện của Tự Lực văn đoàn là sự “khởi đầu” của tiểu thuyết Việt Nam.
Có thể từ đó mà đã xuất hiện câu thành ngữ “văn Bắc-báo Nam” để mặc định “viết văn phải là người Bắc, còn người Nam thì chỉ làm báo!”
Nhưng thực tế thì….(Còn tiếp)
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/tran-nhat-vy/



