LÝ THÀNH PHƯƠNG
Trước Công nguyên (TCN), những bộ lạc người Celtic sống trên những hòn đảo mà ngày nay là lãnh thổ của nước Anh. Di tích của những bộ lạc này là những công trình còn tồn tại cho đến ngày nay như vòng đá Avebury và Stonehenge.
Năm 55 TCN, dưới thời Hoàng đế Julius Caesar, Đế quốc La Mã đã hai lần nỗ lực đánh chiếm các đảo Anh nhưng đều thất bại, có lẽ vì quân La Mã không sở trường về hải chiến. Cho đến năm 43, cuối cùng Đế quốc La Mã cũng thôn tính được vùng đất này và biến thành tỉnh Britannia nằm trong hệ thống lãnh thổ của Đế quốc La Mã.Trong thời gian La Mã thống trị, nền văn hóa Hy Lạp và La Mã bắt đầu du nhập vào đảo Anh với luật pháp La Mã, hệ thống đường xá và kiến trúc La Mã trải rộng khắp nước, cống dẫn nước và rãnh thoát nước, tơ lụa và nhiều mặt hàng nông nghiệp. Hầu hết hệ thống đường xá này còn tồn tại cho đến ngày nay và trở thành những con đường chính ở nước Anh. Một xã hội bán khai được tiếp cận nền văn minh hiện đại và dần dần chuyển mình.

Vào thế kỷ thứ 5, trong giai đoạn suy thoái của Đế quốc La Mã, các đơn vị quân đội phải triệt thoái khỏi các đảo ở Anh để củng cố lực lượng trên lục địa, cuộc cai trị của Đế quốc La Mã xem như kết thúc. Đảo Anh bị bỏ ngỏ trước sự xâm chiếm của người Viking. Danh từ Viking là tên gọi của những người xuất phát từ bán đảo Scandinavia, lãnh thổ của các nước Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Iceland và Phần Lan ở Bắc Âu ngày nay. Họ bao gồm các thương nhân, nhà thám hiểm, chiến binh rất giỏi về hàng hải và cả những nhóm cướp bóc tàn bạo.
Nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công của người Viking, những bộ tộc người Celtic đã nhờ đến những người lính đánh thuê khác, cũng rất giỏi về hàng hải và thủy chiến, là người Anglo và Saxon đến từ Bắc Âu. Không ngờ người Anglo-Saxon này lại trở thành một thế lực xâm lược mới. Họ nhân cơ hội này chiếm lấy những vùng đất tốt để định cư và đẩy người Celtic đến những vùng xa xôi, hẻo lánh. Cuối cùng, các chủng tộc Anglo-Saxon trở thành nhóm thống trị đảo Anh.
Chiến tranh với người Viking kéo dài nhiều thế kỷ. Trong thời gian này có bảy vương quốc của người Anglo-Saxon được hình thành trên đảo Anh.
Bảy vương quốc đó là Essex, Sussex, Wessex, Kent, East Anglia, Northumbria và Mercia, trong đó Wessex là vương quốc mạnh nhất. Vào năm 927, vua của Wessex là Alfred đã đánh bại các vương quốc khác, thống nhất lãnh thổ và thành lập nước Anh (England). Sau đó, vua Alfred xây dựng một hạm đội hùng mạnh để đẩy lùi các cuộc tấn công của người Viking. Sau này, ông được người Anh xem như là cha đẻ của Hải quân Anh.

Danh từ England có xuất xứ từ tiếng Anh cổ là Englaland, có nghĩa là vùng đất của người Anglo. Danh từ England được người Trung Quốc phiên âm thành “Anh Cát” và được người Việt đọc là Anh quốc.
Cũng trong thời kỳ Viking, những nhóm Viking khác đến chiếm lĩnh vùng đất mà ngày nay là lãnh thổ nước Pháp, chỉ cách đảo Anh một eo biển Pas-de-Calais với chiều ngang khoảng 30 km. Những người này xây dựng một vương quốc phong kiến văn minh hơn ở Normandy, thuộc Pháp ngày nay. Vào thế kỷ thứ 11, người Norman xâm lược đảo Anh. Trong giai đoạn lịch sử này, giới quý tộc Norman đã đem khái niệm về chế độ phong kiến vào nước Anh. Xã hội bắt đầu được phân chia thành các tầng lớp – nông dân, hiệp sĩ, quý tộc – và nhà vua là tối thượng; tầng lớp dưới phải đóng thuế hoặc phục vụ cho tầng lớp trên.
Người Norman thống trị đảo Anh trong khi vùng Normandy vẫn là một phần của nước Pháp ngày nay. Trong thời kỳ phong kiến này, sự xung đột giữa vương triều gốc Norman với giới quý tộc gốc Anglo-Saxon ngày càng trở nên căng thẳng. Cuối cùng, vào năm 1215, giới quý tộc thắng thế, buộc vua ký Đại Hiến chương Magna Carta – một văn bản công nhận nhiều quyền chính trị và tự do cá nhân ở Vương quốc Anh, trong đó luật pháp được áp dụng một cách nghiêm ngặt đối với bất kỳ ai, kể cả nhà vua.
Vào thời kỳ vua Edward I (1239–1307), để có tiền thực hiện các cuộc chiến tranh mở rộng lãnh thổ, ông triệu tập hội đồng với sự tham dự của giới quý tộc toàn vương quốc tại cung điện Westminster để bàn cách gây quỹ. Những cuộc họp như vậy mở đầu cho chế độ nghị viện hiện đại ngày nay.
Trong khoảng thời gian này, mặc dù chính trị trải qua nhiều mâu thuẫn lớn, nhưng nền kinh tế và xã hội Anh vẫn trên đà phát triển và tiến bộ.
Sang thế kỷ thứ 14, đại dịch Tử thần Đen – bệnh dịch hạch – xảy ra trên thế giới, mà đỉnh điểm là ở châu Âu, đã làm thiệt mạng gần một nửa dân số Anh.
Khi bệnh dịch kết thúc thì đến cuộc Chiến tranh Trăm Năm tranh giành lãnh thổ giữa Anh và Pháp. Kết quả là người Anh thua trận và mất gần như toàn bộ lãnh thổ trên đất Pháp.
Kế tiếp là cuộc nội chiến giữa hai phe Lancaster và York để giành lấy ngai vàng. Nhà văn Walter Scott sau này gọi đó là Cuộc chiến Hoa Hồng vì biểu tượng của dòng Lancaster là hoa hồng đỏ, còn của York là hoa hồng trắng.
Năm 1485, Henry Tudor thuộc dòng Lancaster lên ngôi vua, lấy hiệu là Henry VII. Ông cưới Elizabeth thuộc phe York để chấm dứt mối hận thù truyền kiếp. Cuộc chiến Hoa Hồng thực sự kết thúc và nước Anh bắt đầu một trang sử mới, với việc khai thác hàng hải và thương mại được đẩy mạnh trên trường quốc tế.
Vào thế kỷ thứ 16, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trở thành hai đế quốc hàng hải mạnh nhất thế giới. Những đoàn tàu vượt đại dương trở về với vô số của cải và hàng hóa đã thúc đẩy Vương quốc Anh non trẻ nhập cuộc.
Nền móng của Đế quốc Anh bắt đầu được xây dựng khi Anh và Scotland vẫn còn là hai vương quốc riêng biệt nằm kề nhau. Vương quốc Anh khởi đầu bằng việc thuộc địa hóa Ireland, một vương quốc nằm bên cạnh nước Anh.
Trong thế kỷ thứ 17, sau những khám phá của người Tây Ban Nha tại Tân Lục địa châu Mỹ, hải quân Anh bắt đầu tiến chiếm Bắc Mỹ, thành lập các thuộc địa ở Canada ngày nay và 13 thuộc địa ở bờ Đông (New England) của nước Mỹ hiện nay, bao gồm Washington, D.C. và New York. Trong giai đoạn này, người Anh cũng thiết lập các thuộc địa trên nhiều đảo nhỏ trong vùng biển Caribbean.
Song song với công cuộc chiếm lĩnh thuộc địa, chính phủ Anh thành lập các công ty tư nhân, đáng chú ý nhất là Công ty Đông Ấn Anh, để quản lý thuộc địa và mậu dịch hải ngoại. Công ty này đã mở đường cho Đế quốc Anh thôn tính tiểu lục địa Ấn Độ.
Hai năm sau, Công ty Hoàng gia châu Phi được thành lập. Công ty này được vua Anh ban cho độc quyền giao dịch nhằm cung cấp nô lệ cho các thuộc địa của Anh tại vùng Caribbean, Nam Mỹ và 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ. Để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động này, Hải quân Anh đã chiếm giữ nhiều vùng lãnh thổ ở châu Phi và xây dựng hàng loạt pháo đài dọc bờ biển Tây Phi.
Hoạt động buôn bán nô lệ hình thành nên cái gọi là “mậu dịch tam giác” giữa châu Âu, châu Phi và châu Mỹ, trở thành một trụ cột kinh tế quan trọng của Đế quốc Anh trong thời kỳ đó.
Cũng trong thời kỳ này, Vương quốc Scotland có những nỗ lực riêng nhằm thiết lập thuộc địa ở Nam Mỹ để tranh giành ảnh hưởng với Đế quốc Tây Ban Nha.
Để tạo nên sức mạnh đủ cạnh tranh với Đế quốc Tây Ban Nha, hai vương quốc Anh và Scotland đã đi đến một quyết định chính trị mang tính lịch sử: thành lập Liên hiệp Anh – Scotland vào năm 1707, gọi là Vương quốc Anh (Great Britain), dưới sự cai trị của một hoàng gia và một quốc hội duy nhất đại diện cho cả hai nước.
Qua các cuộc xung đột giữa những cường quốc thực dân Tây Âu, bao gồm Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp và Vương quốc Anh, để tranh giành ảnh hưởng và thuộc địa trên toàn thế giới, Đế quốc Anh non trẻ đã thắng thế và giành quyền kiểm soát khu vực Địa Trung Hải cùng phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ.
Với những chiến thắng trước các đối thủ thực dân Tây Âu, đặc biệt là chiến thắng trước lực lượng quân đội hùng mạnh của Hoàng đế Napoleon thuộc Đế quốc Pháp, Vương quốc Liên hiệp Anh trở thành cường quốc mạnh nhất thế giới vào thời điểm đó.
Mặc dù lãnh thổ chính chỉ là một quần đảo ở châu Âu, Liên hiệp Anh đã kiểm soát vùng Địa Trung Hải, phần lớn Ấn Độ, nhiều nước ở châu Á và châu Phi, phần lớn Bắc Mỹ, nhiều đảo ở Nam Mỹ, và sau này là toàn bộ châu Úc và New Zealand. Thuộc địa của Đế quốc Anh từng trải rộng khắp toàn cầu, khiến các sử gia nhận định rằng: “Mặt trời không bao giờ lặn trên Đế quốc Anh”.
Vào thế kỷ thứ 18, sự trỗi dậy của Đế quốc Nga dẫn đến cuộc cạnh tranh giữa hai đế quốc Anh và Nga nhằm tranh giành ảnh hưởng tại các lãnh thổ của Đế quốc Ottoman ở Trung Đông. Mặc dù thất bại trong cuộc xâm lược Afghanistan, cuối cùng Đế quốc Anh vẫn giành được ưu thế trước Đế quốc Nga.
Đầu và giữa thế kỷ thứ 20, sự kiện nổi bật là sự trỗi dậy của Đế quốc Đức và sau đó là Đức Quốc xã dưới sự lãnh đạo của Adolf Hitler. Là một đế quốc hình thành muộn, với tham vọng tranh giành thuộc địa, Đức đã phát động Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Mặc dù là quốc gia chiến thắng trong cả hai cuộc chiến, Đế quốc Anh đã bị suy kiệt nghiêm trọng về nhân lực và vật lực.
Thời kỳ vàng son của Đế quốc Anh bắt đầu suy tàn khi liên quân của 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ, với sự trợ giúp của Đế quốc Pháp, đánh bại quân đội Anh và tuyên bố độc lập năm 1776, thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (United States of America). Tiếp theo là sự ra đời của các quốc gia như Canada, Úc và New Zealand.
Năm 1807, Đế quốc Anh chính thức bãi bỏ việc buôn bán nô lệ. Tính đến thời điểm đó, Đế quốc Anh đã vận chuyển khoảng 3,5 triệu nô lệ châu Phi sang châu Mỹ.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa bùng nổ mạnh mẽ. Sự suy sụp về tài chính và ngân sách quân sự buộc chính phủ Anh phải nhượng bộ. Mở đầu là Ấn Độ được trao trả độc lập năm 1947, tiếp theo là các lãnh thổ tại Địa Trung Hải năm 1964, châu Phi năm 1968, khu vực Caribbean và Nam Mỹ năm 1970, các lãnh thổ châu Á và cuối cùng là Hong Kong vào năm 1997. Mặc dù Đế quốc Anh tan rã, người Anh vẫn để lại nhiều dấu ấn văn minh tại các quốc gia từng bị trị. Phần lớn các quốc gia này đồng ý gia nhập Khối Thịnh vượng chung Anh (Commonwealth).
Anh quốc ngày nay
ương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland), thường gọi tắt là Anh quốc, Vương quốc Anh, Liên hiệp Anh hoặc Anh (United Kingdom hoặc Great Britain), là một liên hiệp gồm bốn quốc gia: Anh (England), Scotland, Wales và Bắc Ireland. Lãnh thổ của Liên hiệp Anh nằm ngoài khơi lục địa châu Âu, bao gồm đảo Anh, phần Đông Bắc đảo Ireland và nhiều đảo nhỏ. Bắc Ireland là bộ phận duy nhất của Liên hiệp Anh có biên giới trên bộ với quốc gia độc lập là Cộng hòa Ireland. Bao quanh Liên hiệp Anh là Đại Tây Dương. Ngoài biên giới trên bộ này, Vương quốc Liên hiệp Anh còn làm chủ 14 lãnh thổ hải ngoại, bao gồm quần đảo Falkland, Gibraltar và một số đảo trên Ấn Độ Dương.
Liên hiệp Anh là quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến, có dân số khoảng 66 triệu người, thủ đô là Luân Đôn (London).
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là quốc gia công nghiệp hóa đầu tiên trên thế giới, từng là cường quốc đứng đầu thế giới trong thế kỷ 19 và 20. Hiện nay, Liên hiệp Anh là một cường quốc phát triển, có nền kinh tế lớn thứ năm thế giới, với ảnh hưởng đáng kể về kinh tế, văn hóa, quân sự, khoa học và chính trị trên phạm vi quốc tế. Đây cũng là quốc gia có vũ khí hạt nhân được công nhận và từng xếp hạng thứ bảy thế giới về chi tiêu quân sự vào năm 2016.
Anh quốc có đóng góp rất lớn cho nền văn minh nhân loại trong thời kỳ cận đại. Đây là nơi hình thành khái niệm nghị viện, đặt nền móng cho các thể chế chính trị dân chủ và cộng hòa phổ biến trên thế giới, trong đó người dân lựa chọn lãnh đạo để quản trị xã hội dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập, tiến bộ hơn so với chế độ quân chủ chuyên chế trước kia.
Về kinh tế, cuộc Cách mạng Công nghiệp ở Anh đã hình thành nền kinh tế tư bản với quyền tư hữu, thúc đẩy sản xuất gia tăng mạnh mẽ, khiến thực phẩm và hàng tiêu dùng trở nên dồi dào. Những đóng góp khoa học như máy hơi nước, tàu thuyền, máy dệt, điện và viễn thông đã đặt nền móng cho nhiều phát minh khác trên toàn thế giới trong thời kỳ hiện đại.
Liên hiệp Anh từng là thành viên tích cực của Liên minh châu Âu. Trong bối cảnh liên minh này rơi vào khủng hoảng, Anh đã quyết định rút khỏi Liên minh châu Âu vào đầu năm 2020 nhằm bảo vệ nền kinh tế quốc gia. Sự kiện này được gọi là Brexit, viết tắt của Britain exit.
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/i-to-p/ly-thanh-phuong/

