Cảm thức Xuân trong nhạc Việt

by Tim Bui
Cảm thức Xuân trong nhạc Việt

NGUYỄN THANH BÌNH

Mùa Xuân, trong văn hóa Việt Nam, không chỉ là sự chuyển giao của đất trời mà còn là thời khắc giao cảm sâu sắc giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái cũ và cái mới, giữa quá khứ và tương lai. Và, trong thế giới của cái tôi trữ tình của các nhạc sĩ, tùy theo bối cảnh xã hội, tâm trạng, khi chạm mặt mùa Xuân có thể để lại những vọng âm đa dạng, những sắc thái biểu cảm có thể khác biệt đến mức trái ngược hẳn với nhau. Nếu nhà thơ Xuân Diệu háo hức đến mức thốt lên: “Hỡi Xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi” (Vội vàng), thì Chế Lan Viên lại muốn gom hết lá thu vàng để “chắn nẻo Xuân sang” (Xuân).  

Âm hưởng Xuân trong các dòng nhạc Việt

Nhắc đến hình ảnh mùa Xuân trong nhạc Việt, có lẽ không người yêu nhạc nào lại xa lạ với “Ly rượu mừng” (1952) của nhạc sĩ Phạm Đình Chương: “Ngày Xuân nâng chén ta chúc nơi nơi…”. Với nhịp điệu Valse và niềm hân hoan chào đón Xuân về, ngoài những lời chúc Xuân cụ thể dành riêng cho từng lớp đối tượng sĩ, nông, công, thương; mẹ già, những binh sĩ và cả những đôi uyên ương, thông điệp chính của ca khúc muốn vang lên là: “Lời ước thiêng liêng/ Chúc non sông hoà bình, hoà bình/ Ngày máu xương thôi tuôn rơi/ Ngày ấy quê hương yên vui/ đợi anh về trong chén tình đầy vơi…” 

Những ca khúc Xuân dòng nhạc Bolero với những nhạc sĩ như Trần Thiện Thanh, Thanh Sơn, Nhật Ngân và nhiều nhạc sĩ khác đã viết nên những “Mùa Xuân của người nghèo,” “Mùa Xuân của người lính,” chúng ta đều có thể dễ dàng nhận ra cảm thức Xuân ở đây là ước muốn đoàn viên, là nỗi nhớ nhà, là khát vọng hòa bình rất đời thường, chân thật và gần gũi với tâm trạng và cảm xúc của đại chúng. Bỏ qua dòng nhạc này là bỏ qua tiếng lòng của hàng triệu con người bình dân.

 Mỗi ca khúc trong dòng nhạc Bolero hay nhạc trữ tình đều có hương sắc thú vị riêng, nghe rất gần gũi, nhưng thường dừng lại ở mức “tả thực cảm xúc.” 

Để nhận diện rõ hơn cảm thức Xuân trong nhạc Việt, chúng ta sẽ dừng lại lâu hơn với cảm thức Xuân trong tâm cảnh của ba nhạc sĩ: Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, là những nhạc sĩ có nhạc ngữ riêng, phong cách riêng, kiến tạo được khí quyển âm nhạc riêng có sức cuốn hút và có tác động đến mỹ cảm của người nghe nhạc nhiều thế hệ. 

Văn Cao: Sự chuyển hóa từ “Bến Xuân” đến “Mùa Xuân đầu tiên”

Nhắc đến nhạc Xuân trong bối cảnh âm nhạc thời tiền chiến, người yêu nhạc không thể bỏ qua ca khúc “Bến Xuân,” vì đây là một bức họa bằng âm thanh như một sự giao thoa giữa thực và mộng, ghi lại tâm cảnh của Văn Cao vào thời điểm mà “cái tôi nghệ sĩ” đang ở độ trẻ trung, đa tình và đầy mộng ảo nhất. 

Bài hát mở đầu bằng một lời giới thiệu nhẹ nhàng, từ tốn, vừa đủ để phác thảo một bức tranh với bố cục tối giản:”Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước…”. Nhưng ngay sau đó là một biến cố làm thay đổi hoàn toàn cục diện: “Em đến.” Sự xuất hiện này giống như một viên sỏi ném xuống mặt hồ phẳng lặng, làm xao động cả không gian và thời gian. 

Bến Xuân” chính là nơi cái đẹp chạm vào tâm hồn Văn Cao, là cõi mơ khiến “hồn mùa ngây ngất trầm vương.” Ở đó, thời gian như ngừng lại, chỉ còn tình yêu và âm nhạc lững lờ trôi. 

Thế nhưng vào khoảng cuối năm 1975, khi viết “Mùa Xuân đầu tiên,” dường như Văn Cao đã không còn giữ cái cảm xúc lãng mạn trào dâng của thời viết “Bến Xuân,” mà thay vào đó là một niềm vui đã nhuốm sắc thái nghiệm sinh, đằm sâu, và thấm đẫm chất nhân văn. Bài hát “Mùa Xuân đầu tiên” mở đầu bằng từ “Rồi…” như một cách kể tiếp câu chuyện đã xảy ra từ rất lâu về trước. Thông tin cũ được biết sẵn là “mùa Xuân theo én về,” nhưng thông tin mới được Văn Cao nhấn mạnh không phải nằm ở chỗ “mùa Xuân là mùa vui nay đã về,” mà sự kiện chính ở đây là “mùa Xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên/Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông/một trưa nắng cho bao tâm hồn…” 

Chỉ với vài nét chấm phá bình dị, nhạc sĩ Văn Cao đã vẽ nên mùa Xuân mơ ước ấy” cho bao tâm hồn. 

Hình ảnh người mẹ và đàn con là biểu tượng của sự đoàn tụ sau chiến tranh. Sau bao nhiêu năm chia cắt mùa Xuân thực sự chỉ đến khi người con trở về trong lòng mẹ. 

Dù đã sống qua rất nhiều mùa Xuân của đất trời, nhưng với tâm hồn nghệ sĩ, trong cảm thức của Văn Cao, “Mùa Xuân đầu tiên” chính là mùa Xuân hòa bình đầu tiên. 

Ba dòng cuối cùng chính là “nhãn tự” của ca khúc, thể hiện sự chuyển biến sâu sắc trong tâm cảnh Văn Cao: 

Từ đây người biết quê người/ Từ đây người biết thương người/ Từ đây người biết yêu người…” 

Người biết quê người” không còn sự phân biệt vùng miền, phía này hay phía kia. Chiến tranh kết thúc là lúc con người nhận ra nhau như những đồng bào. Sau những đổ vỡ và mất mát, mùa Xuân trong tâm cảnh Văn Cao không phải là mùa Xuân của khải hoàn ca, mà là mùa Xuân của sự hàn gắn. Ông mong muốn một tương lai nơi con người đối xử với nhau bằng sự tử tế và lòng trắc ẩn. 

Dõi theo tâm cảnh của Văn Cao từ “Bến Xuân” (1942) đến “Mùa Xuân đầu tiên” (1976), có thể thấy đó là một hành trình dài đi từ cái tôi mộng ảo đến cái ta nhân bản, từ sự đắm say cá nhân đến sự nghiệm sinh về hòa bình. 

Nếu “Bến Xuân” là bức tranh sơn dầu rực rỡ, lộng lẫy về một giấc mơ tình ái lãng mạn, thì “Mùa Xuân đầu tiên” là một bức tranh thủy mặc thanh tao, với nét vẽ tối giản nhưng ẩn chứa tình đời, tình người mênh mông. 

Văn Cao từ một nghệ sĩ lãng mạn đã trở thành một hiền triết âm nhạc, và đã tìm thấy lại thiên thai ngay trong lòng cuộc đời thực tại ở “Mùa Xuân đầu tiên.” 

Xuân ca”trong tâm cảnh Phạm Duy

Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui/ Một đêm, một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về!...” Nếu “Mùa Xuân đầu tiên” của Văn Cao là một tiếng thở phào nhẹ nhõm, đầy nhân bản sau một hành trình dằng dặc của dân tộc, thì “Xuân ca” của Phạm Duy lại là một bài ca về sự sống. Cảm thức Xuân trong tâm cảnh Phạm Duy không dừng lại ở thời tiết hay thời cuộc, mà nó là một dòng chảy đi từ sinh học đến tâm thức, từ cá nhân đến vũ trụ. Ông nhìn thấy sự sống không có điểm kết thúc, mà chỉ có những vòng lặp rực rỡ. 

Phạm Duy luôn yêu con người và tụng ca thân xác con người một cách nồng nhiệt. Xuân của ông có thịt xương có máu huyết. Ông nhìn mùa Xuân bằng con mắt của một nhà sinh học đầy thi vị. Ông biết ơn và kinh ngạc trước phép màu của sự sống. Mùa Xuân bắt đầu từ trong huyết quản. Đây là cái nhìn rất đời và rất người, khác hẳn với cái vẻ thoát tục, bảng lảng của Văn Cao. “Xuân đi tới kẽ răng, bờ môi / Xuân dâng lên tới con mắt / Rồi dâng tới kẽ tóc…“. Xuân lúc này là năng lượng tính dục, là sức sống tràn trề của tuổi trẻ. Ông không ngập ngừng như Văn Cao, ông đón nhận mùa Xuân bằng mọi giác quan, bằng sự tận hưởng. 

Phạm Duy không mượn cảnh để tả tình như các nhạc sĩ cùng thời, mà ông dùng chính tiếng lòng mình để áp đặt lên cảnh vật, bắt cảnh vật phải rung động theo nhịp đập của trái tim đang khát sống. Đó là một tâm thế chủ động, mạnh mẽ và đầy lạc quan. Cái ngông và sự nồng nhiệt này của Phạm Duy rất khác với vẻ trầm mặc, u hoài thường thấy trong nhạc tiền chiến. 

Trong nhiều ca khúc Xuân của Phạm Duy như: Đêm Xuân (1948); Hoa Xuân (1953); Xuân thì (1953); Xuân Hồng (1956); Xuân hành (1959); Xuân ca (1961); Mùa Xuân yêu em; Hoa đào ca; Tuổi Xuân; Xuân hiền, ta thường nghe thấy cái luyến láy của các làn điệu dân ca. Những nốt hoa mỹ, nhấn nhá trong cách vận dụng của Phạm Duy tạo thêm sự lả lơi, tình tứ rất người. Dân ca Việt Nam thiên về tự sự (kể chuyện). Phạm Duy vận dụng điều này để biến lời ca thành lời tâm tình. 

Chất dân ca trong nhạc Xuân của Phạm Duy chính là chìa khóa để giải mã tại sao âm nhạc của ông lại đời và tràn trề sức sống. Nếu Văn Cao dùng âm hưởng cổ điển Tây phương để tạo ra vẻ sang trọng, tao nhã, thì Phạm Duy lại dệt những giai điệu Xuân những từ câu hò, điệu lý để phả vào đó hơi thở của đất đai và nòi giống. Bằng cách đưa chất dân gian vào, ông đã kéo mùa Xuân từ trên cao của các văn nhân thoát tục xuống mặt đất, đặt nó vào trong lòng mẹ, đưa vào trong huyết quản của mỗi cá nhân. Đó chính là lý do âm nhạc của ông có sức lay động trực diện vào bản năng yêu sự sống của mỗi người Việt.

Trịnh Công Sơn & “Mùa Xuân trong đôi mắt nhìn…”

Trong mắt nhìn của Trịnh Công Sơn, thời gian là một dòng trôi bất tận, và trong dòng trôi ấy, “không chờ mà đến/không hẹn mà đi/ Bốn mùa thay lá/ thay hoa, thay mãi đời ta” (Bốn mùa thay lá). Trước sự vô thường của cuộc sống, ông chỉ mong mùa Xuân mang lại “những nụ mầm mới” cho “bên trời xanh mãi,” và con người “Để lại trong cõi thiên thu hình dáng nụ cười.” Cảm thức Xuân trong nhạc Trịnh đa nghĩa, đa tầng. Mùa Xuân có khi là biểu tượng của tình yêu và sức sống: “Mùa Xuân trên những mái nhà/ có con chim hót tên là ái ân…” (Đóa hoa vô thường). Trong “Hoa Xuân ca:” “cây sẽ cho lộc và cây sẽ cho hoa/Xuân đến bên kia đồi, trời mở ra cánh én.” Và, khi “em đến bên tôi ngồi, đời mở ra cuộc tình.” Rõ ràng “em” chính là “xuân,” và cuộc tình cũng chính là cánh én. 

Thành phố mùa Xuân” có lẽ là ca khúc bộc lộ khá rõ cảm thức Xuân của Trịnh Công Sơn sau năm 1975. 

Với Trịnh, thời gian không đứt đoạn: “Sài Gòn mùa Xuân/ Còn thoáng lá vàng bay / Có mùa Thu nào đang ở lại.” Ngay giữa mùa Xuân rực rỡ, ông vẫn thấy bóng dáng của mùa Thu. Đây là một cái nhìn rất tinh tế, cho thấy mùa Xuân của ông không ồn ào mà có sự trầm mặc, suy tư. 

Mùa Xuân của Trịnh Công Sơn trong bài hát này là một mùa Xuân của lòng người. Ông không đi tìm mùa Xuân ở những điều xa xôi mà tìm thấy nó ngay trên mặt đường, trong kẽ lá và trong nụ cười của người thành thị. Đó là một mùa Xuân dịu dàng, đầy sự an ủi cho những phận người sau một mùa đông dài. 

Điều ít ai ngờ là bài hát hiền hòa và mang âm hưởng ca ngợi thành phố, lại từng phải chịu số phận lận đận trong ngăn kéo một thời gian dài trước khi được trả lại giá trị thực. Nếu ở trong nước, ca khúc “Thành phố mùa Xuân” của ông bị đặt thành dấu hỏi vì chuyện còn thoáng lá vàng bay, thì đâu đó ở hải ngoại, ông lại bị chỉ trích gay gắt vì những hình ảnh như “bình minh thay đêm tối.

Với Trịnh Công Sơn, chiến tranh đi qua, hòa bình trở lại là một “bình minh.” Ông nhìn sự kiện 30/4/1975 bằng con mắt của một người yêu chuộng hòa bình, mong muốn “nối vòng tay lớn.” Với một số người Việt xa xứ thời đó, cụm từ “đêm tối” bị hiểu là ám chỉ chế độ cũ (VNCH) và “bình minh” là ca ngợi chế độ mới. Họ xem đây là sự “quay xe,” sự phản bội của một người nghệ sĩ từng được yêu mến dưới chế độ cũ. 

Cách cảm thụ âm nhạc dựa trên những suy diễn ngoài văn bản như thế đã khiến Trịnh Công Sơn rơi vào tình cảnh trớ trêu: người ở lại thì chê ông chưa đủ “đỏ,” người ra đi thì trách ông đã quá “hồng.” Ông trở thành nạn nhân của những định kiến chính trị từ cả hai phía, trong khi tâm hồn nghệ sĩ của ông có lẽ chỉ muốn hướng tới sự hòa giải và tình yêu con người. 

Bên tách trà Xuân nhìn lại, dù từng bị xem là phản bội hay thiếu lạc quan, thì cuối cùng, thời gian đã gạn đục khơi trong. Những người nghe nhạc hôm nay yêu “Thành phố mùa Xuân” không phải vì xu hướng chính trị, mà vì vẻ đẹp của một Sài Gòn năng động, và chính những vết sẹo không đáng có này lại làm nên tầm vóc của Trịnh Công Sơn. 

Ông không viết nhạc theo đơn đặt hàng của bất kỳ ai, mà viết bằng sự rung cảm của một trí thức trước vận mệnh dân tộc. Nghệ thuật cuối cùng vẫn là nơi trú ngụ an toàn nhất, vì ở đó, một chiếc lá vàng hay một tia nắng sớm đều được trân trọng như nhau, miễn là chúng làm cho tâm hồn con người trở nên bao dung hơn. 

Những đóa hoa Xuân trong nhạc Trịnh là đóa hoa vô thường. Chúng nở ra không phải để khoe sắc mãnh liệt như Phạm Duy, mà để nhắc nhở con người về sự ngắn ngủi của kiếp người. Tâm cảnh của ông là một sự an nhiên nhưng đượm buồn, đón nhận mùa Xuân như một phần của vòng sinh – diệt. Xuân của Trịnh không dành cho những đám đông ồn ào, nó dành cho những tâm hồn muốn ngồi lại một mình, soi chiếu vào nội tâm và mỉm cười với cái đẹp dẫu đang kết nụ hay phai tàn. 

Nếu Văn Cao nhìn Xuân là giấc mộng tìm thấy được trong lòng thực tại lịch sử, Phạm Duy nhìn Xuân là sức sống từ trong huyết quản, thì với Trịnh Công Sơn, mùa Xuân dường như cũng mang một thân phận. 

Xuân trong tâm cảnh của Trịnh không rộn ràng, không phồn thực. Xuân của ông thấm đẫm triết lý Phật giáo: vừa lộng lẫy, vừa mong manh; vừa đến đó, đã toan tính chuyện ra đi. 

Nếu những nhạc khúc Xuân của Bolero – Nhạc trẻ – Nhạc nhẹ góp phần làm nên “Vườn hoa Xuân rực rỡ,” đại diện cho hơi thở sinh động, đa sắc của cuộc sống thường nhật và nhắc đến những ca khúc Xuân thuộc các dòng nhạc này là nhắc đến chiều rộng của đời sống tinh thần thì nhắc đến Văn Cao – Phạm Duy – Trịnh Công Sơn là nhắc đến những tượng đài âm nhạc, có tầm vóc tư duy và cảm thức Xuân của họ chạm đến mạch ngầm của chiều sâu văn hóa. 

Phân tích ngôn ngữ ca khúc là cách tốt nhất để thấy được vân tay của người nghệ sĩ in dấu lên mùa Xuân như thế nào. Mỗi dòng nhạc, mỗi nhạc sĩ lại sử dụng một hệ thống từ vựng và hình ảnh khác nhau để xây dựng nên thế giới của họ. Âm nhạc cũng như mùa Xuân, nó luôn ở đó, chỉ đợi lòng người đủ tĩnh lặng để lắng nghe và thấy được những vẻ đẹp khuất lấp. Đó là những ‘mã tự sự’ khắc ghi tâm cảnh không chỉ của các nhạc sĩ, mà là của cả một dân tộc qua từng thăng trầm lịch sử. Mùa Xuân trong nhạc Việt, vì thế, là một bức tranh đa sắc: có cái hân hoan rực rỡ của niềm tin, có nét trầm mặc của những hoài niệm, và có cả sự bao dung của những tâm hồn đã đi qua giông bão. Dù ta chọn đắm mình trong những suy tưởng uyên bác của các ‘đại thụ’ hay tìm về sự an ủi bình dị trong những bản tình ca nhẹ nhàng, thì đó cũng là lúc ta đang lắng nghe nhịp đập của chính mình. Bởi mùa Xuân rốt cuộc không chỉ nằm ở sắc đào, sắc mai ngoài kia, mà luôn hiện hữu trong lòng người đủ tĩnh lặng để thấu cảm và trân trọng vẻ đẹp của sự sống vốn dĩ vẫn luôn tuần hoàn, diệu kỳ.  

Similar articles: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/doi-song/am-nhac/

You may also like

Verified by MonsterInsights