Chữ quốc ngữ, chữ nước ta, kỳ 25 Báo chí và văn chương quốc ngữ

by Tim Bui
Chữ quốc ngữ, chữ nước ta, kỳ 25 Báo chí và văn chương quốc ngữ

TRẦN NHẬT VY

Chữ quốc ngữ chính thức ra mắt công chúng tại Nam Kỳ từ năm 1865, qua tờ Gia Định Báo. Chính tờ báo này đã trở thành “chiếc xe” chuyên chở những tác phẩm văn chương quốc ngữ đầu tiên—đặc biệt là văn xuôi—đến với người Việt. Tuy nhiên, phải đến năm 1881, tức 16 năm sau, mới xuất hiện người Việt “viết văn” và cho đăng tác phẩm của mình trên báo chí.

Trước đó, theo giáo sư Nguyễn Văn Trung trình bày trong “Lục Châu Học,” người Việt viết văn bằng chữ quốc ngữ sớm nhất được ghi nhận là linh mục Phi Líp Phê Bỉnh. Các tác phẩm của ông, ra đời vào khoảng năm 1822, gồm một số bài thơ, một cuốn lịch sử Việt Nam, và cuốn “Sách sổ sang các việc,” được viết tại Bồ Đào Nha bằng chữ quốc ngữ.

Người thứ hai được nhắc đến là linh mục Phan Văn Minh, người từng giúp việc cho Giám mục Taberd Từ trong quá trình soạn cuốn từ điển Việt–Latinh tại Ấn Độ. Ông được phong thánh năm 1988 và để lại tập thơ “Phi Năng thi tập,” viết bằng chữ quốc ngữ vào năm 1842.

Về sau, người ta còn tìm ra thêm cuốn “Vãn và Tuồng,” viết bằng văn vần chữ quốc ngữ, được in lần thứ sáu vào năm 1899; lần in đầu và tên tác giả đều không rõ. Đến thập niên cuối của thế kỷ 20, sau khi nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển qua đời, giới nghiên cứu mới phát giác thêm truyện vừa “Thầy Lazaro Phiền” của Nguyễn Trọng Quản, in tại Sài Gòn năm 1887—một tác phẩm được xem là dấu mốc quan trọng của văn xuôi quốc ngữ buổi đầu.

Và cho tới nay, chưa ai tìm được văn bản nào khác bằng chữ quốc ngữ được viết trước những thập niên 1860 của thế kỷ 19, trừ cuốn “Tự điển Annam–Latinh” của giám mục Bá Đa Lộc, đặc biệt là loại tác phẩm viết văn xuôi theo lối phương Tây.

Sau khi ra đời được một năm, Gia Định Báo có đăng một số truyện văn xuôi dịch từ các báo Pháp và báo tiếng Hoa. Những truyện này đăng lẫn lộn với các tin tức trong mục Thứ vụ, khiến người đọc khó phân biệt đâu là tin tức, đâu là truyện. Đầu năm 1869, báo bắt đầu đăng nhiều kỳ bộ truyện “Ro Bên Son.” Đây là cái tên mà chúng tôi cũng mất nhiều thời gian để xác tín đó chính là truyện du ký “Robinson Crusoe.” Và đây là truyện bằng chữ quốc ngữ đăng nhiều kỳ đầu tiên trên báo quốc ngữ.

Truyện “Ro Bên Son” trên Gia Định Báo ngày 8/6/1869

Đối với người Việt, văn vần gần như là “tiếng nói bình thường:” cứ mở miệng ra, mỗi người—dù là trí thức học cao hiểu rộng cho chí những người nông dân chân lấm tay bùn—đều “có vần có điệu.” Có phải vì vậy mà ca dao, hát hò, những lời răn dạy của người xưa, những tác phẩm văn chương của người Việt phần lớn đều là văn vần?

Bớ ghe sau chèo mau anh đợi,
Trời tối rồi bờ bụi tối tăm
Anh từ ngoài Huế vô thăm
Em cho anh mượn chỗ nằm một đêm!

Hoặc: 

Trồng trầu xứ Huế,
Ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
Thương người xa xứ
Lạc loài tới đây.

Tới đây thì ở lại đây
Chừng nào bén rễ quen cây rồi hãy….dìa!

Hay than vãn:

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Ngó về quê mẹ, chín chiều ruột đau!

Hay: 

Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu?

Chưa có những nghiên cứu chính thức và sâu về vấn đề này, nguyên nhân người Việt thích “vần điệu,” song từ thực tế trong đời sống bình thường có thể nhận định được rằng: văn vần dễ truyền đạt, dễ phổ biến, dễ nhớ. Trong điều kiện giao thông chưa phát triển, việc đi lại từ nơi này sang nơi khác quá khó khăn, cách trở; việc học hành quá tốn kém; chữ Nho rất khó học; sách vở ít ỏi… thì việc truyền đạt văn chương, lời dạy bảo, ca hát… bằng văn vần là một phương pháp tối ưu. Có thể vì vậy mà các tác phẩm văn chương mà tiền nhân chúng ta để lại “phần lớn là văn vần,” như “Truyện Kiều” hay “Lục Vân Tiên”

Khi có báo chí ra đời, văn xuôi cũng bắt đầu xuất hiện trong cuộc sống bình thường. Bởi lúc này, chữ quốc ngữ do dễ học, dễ viết và xuất phát từ tiếng nói bình thường của dân chúng nên đã bắt đầu đi vào cuộc sống. Và viết văn xuôi theo phương pháp của phương Tây, có thể là chủ trương của người Pháp, cũng bắt đầu và dần dà trở thành bình thường với người Việt.

Ông Trương Minh Ký, một người thông thạo cả ba ngôn ngữ Việt–Pháp–Hoa, một người có thể viết, kể chuyện bằng văn vần dài hai ba ngàn câu, cũng bắt đầu viết truyện bằng văn xuôi.

Ngày 1/12/1881, ông đăng hai truyện ngắn đầu tiên, lấy nội dung từ thơ La Fontaine, đăng trên Gia Định Báo, có tựa là “Tên chăn bò;” “Thằng ăn trộm và con heo.”

Tên chăn bò

Có một người buôn bán gởi mấy gói hàng của nó cho tên chăn bò kia đi một đàng [đường] với nó. Nửa đàng, người buôn bán xáng bịnh đau nặng, theo không kịp bầy bò. Lâu ngày, tên chăn bò thấy vắng mặt người bán hàng, tưởng nó đà chết rồi, mới bán phức mấy bó hàng, lại bỏ nghề cũ đi. Khi người buôn bán mạnh, tới thành kiếm tên chăn bò, lâu ngày mới gặp, hỏi nó mấy bó hàng. Nó chối, nói mình không phải là kẻ chăn bò. Người bán hàng tức mình, đâm đơn kiện với quan sở tại. Quan không biết xử làm sao, chuyện vô bằng, mới bỏ đi vô. Khi hai người tiên cáo, bị cáo đi khỏi dinh, ông quan ấy đi quanh ra phía rào, đứng kêu lớn lên: “Ớ chú chăn bò lại biểu một chút”. Tên chăn bò vùng ngó lại, quên lửng rằng mình mới chối làm nghề đó. Đó, ông quan này cho đòi người buôn bán lại, rồi dạy tra anh chăn bò, khai hết tự sự. Quan ấy dạy thưởng cho anh bán hàng rồi làm án anh ta.

Thằng ăn trộm với con heo


Hai tên dắc gấu đi vừa đến một cái quán ở trong làng thì trời đà tối rồi, tính tạm nghỉ tại đó. Lúc ấy tên quán mới bán con heo nó nuôi bấy lâu nay nên chuồng heo trống, đem gấu nhốt vào đó.

Qua canh ba, có một tên ăn trộm đến rình bắt heo; nó nhóng để anh quán nuôi cho trọng trọng, vì chú chàng không hay chủ quán cũng thấy heo đà trọng nên đem bán rồi. Nó lén mở cửa chuồng, chun vào trong tối, xốc lại cõng quách lấy con gấu, ngỡ là con heo. Gấu giựt mình rống lên, nhảy chụp ôm riết chú bợm ta lại, chặc cứng cựa quậy; vùng vẫy là không đặng, giãy hết sức cũng không ra.

Túng quá phải la lớn lên; bộ hành ai nấy không biết chuyện gì, nghe la chạy ra tiếp cứu. Họ chữa thôi đà hết hơi hết sức mới gỡ được anh ta ra khỏi; thì mình mẫy gấu nó quào trầy xể rách nát, máu chảy ròng ròng.

Tuy vậy chớ không khỏi họ dẫn nộp cho quan.

Đây là hai truyện ngắn đầu tiên của người Việt xuất hiện trên báo quốc ngữ.

Năm 1884, ông cho in một tập truyện ngắn văn xuôi mang tên Truyện Phansa diễn ra quấc ngữ do nhà in Guilland et Martinon, Saigon in.  

Tập truyện có 12 truyện ngắn viết từ nội dung của nhiều nhà thơ trên thế giới, gồm:

  1. Kẻ thi nhơn với đứa ăn trộm (của J.Wirth)
  2. Một đứa con gái nhỏ hảo tâm (của Schmid)
  3. Con chuột lắt với con mèo (của P.Larousse)
  4. Một lời khuyên hay (của P.Larousse)
  5. Con ruồi với con ông (của P.Larousse)
  6. Con chuột lắt (của P.Larousse)
  7. Kẻ mù (của P.Larousse)
  8. Củ cải (của P.Larousse)
  9. Người với suối (của P.Larousse)
  10. Con khỉ với hai con mèo (của R.Dodsley)
  11. Nước kỳ diệu (của P.Larousse)
  12. Hai cái lưỡi cày (của P.Larousse)

Tập truyện nhanh chóng được tái bản ngay trong năm lần đầu tiên. Và trong lần tái bản thứ  hai vào năm 1886, “Truyện Phansa diễn ra quốc ngữ” được bổ sung thêm rất nhiều truyện và thơ, với 150 tác phẩm; trong số đó có cả hai truyện ngắn đầu tiên in trên Gia Định Báo ngày 1/12/1881.

Việc học thông thạo một thứ chữ mới tới mức có thể viết văn được thường trải qua một số giai đoạn. Đó là sao chép, dịch thuật và sáng tạo.

Sau khi đã thông thạo một “ngoại ngữ” thì người học bắt đầu bằng việc sao chép những gì người khác viết, ghi lại những gì tai nghe mắt thấy. Đó là bước thứ nhất. 

Ở bước thứ hai thì người ta bắt đầu dịch lại những tác phẩm từ nguyên bản. Bước kế tiếp là ghi chép những chiêm nghiệm của bản thân về các vấn đề xã hội và thiên nhiên quanh mình. 

Và bước cuối cùng là sáng tạo. Bước này có hai mức. Mức đầu tiên là sáng tạo ra những gì không có trong thực tế mà gần giống với thực tế. Mức tiếp theo là tư duy từ nhiều thực tế để tổng hợp lại rồi rút ra kết luận chung mà nay chúng ta gọi là triết học.

Hai truyện ngắn đầu tiên của ông Trương Minh Ký là bước tiến vượt bậc của chữ quốc ngữ. Nhờ thứ chữ này bắt nguồn từ tiếng nói của người Việt nên chỉ trong 20 năm phổ biến, tính từ năm 1862, chữ quốc ngữ đã có “tác phẩm mang tính văn chương.”

Trước đó, khi chữ quốc ngữ bắt đầu phổ biến đã có người nghi ngờ rằng thứ chữ này không đủ sức diễn tả nổi những thực tế, kể cả văn chương và triết học. Sự ra đời của truyện ngắn là câu trả lời cho mọi người rằng: chữ quốc ngữ đủ sức chuyên chở và truyền đạt tất cả các vấn đề của cuộc sống.

Trương Minh Ký là người có nhiều tài năng trong thế kỷ 19. Xuất thân từ trường Sư Phạm Thành Phố, dạy học ở trường Bổn Quốc rồi chuyển sang làm báo, ông đã viết khá nhiều sách. Khác với ông thầy Trương Vĩnh Ký, phần lớn viết tự điển, và lớp đàn anh là ông Huỳnh Tịnh Của, chỉ tập trung viết những chuyện cổ và cổ lệ rồi cuối cùng viết tự điển Việt–Việt, ông Trương Minh Ký luôn cập nhật tình hình gắn với nghề nghiệp của mình.

Để có sách dạy học, ông viết và dịch các loại sách dạy học trò như “Tập dạy học tiếng Phansa và tiếng Annam,” “Ấu học khải mông,” “Pháp học tân lương,” “Quốc ngữ sơ giai,”… Khi được đi ngoại quốc về, ông viết “Như Tây nhựt trình,” “Chư quốc thại hội,” như một nhà văn chính hiệu. Khi làm báo, có lẽ là thời gian ông được tập trung nhiều nhất để viết và viết rất phong phú. Ngoài “Truyện Phansa diễn ra quốc ngữ,” tập họp nhiều truyện ngắn và thơ đã đăng báo, ông còn viết “Phú bần truyện diễn ca,” “Tuồng Joseph,” “Tuồng Phong thần Bá Ấp Khảo,” “Tuồng Kim Vân Kiều,” “Thi pháp nhập môn,”… Ngoài ra, ông còn rất nhiều truyện ngắn, thơ đăng trong báo Nam Kỳ dưới bút danh Mai Nham, đồng thời viết nhiều bài báo về xã hội đương thời.

Có thể nói ông đã dành hết tuổi thanh xuân của bản thân cho chữ quốc ngữ. Đáng tiếc khi ở độ tuổi sung sức và chín nhất ông lại qua đời ở tuổi 45, năm 1900. Đáng tiếc nhất là hầu hết các tác phẩm của ông đều ít được phổ biến và in lại trong thế kỷ 20! Và đáng tiếc hơn nữa, cho tới nay tên tuổi ông vẫn bị “xếp xó” như một tội đồ!

Sau ông, chúng ta sẽ bắt đầu thấy nhiều hơn những cây viết văn người Việt xuất hiện. Và người đầu tiên chính là ông Nguyễn Dư Hoài. Sau đó là Trần Đại Học, Nguyễn Trọng Quản, Nguyễn Khắc Huề, Trần Chánh Chiếu, Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu…

Trong số này, ông Nguyễn Dư Hoài là người đầu tiên có tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên báo Nam Kỳ, có tên là “Đố ngộ cố nhân, tương đàm thục ký,” đăng sáu kỳ. Đáng tiếc là sau truyện này không thấy ông viết tiểu thuyết nữa.

Cuối thế kỷ 20, người ta phát giác tập tiểu thuyết dài hai mươi chín trang in của ông Nguyễn Trọng Quản, in tại Sài Gòn năm 1887, là cuốn “Thầy Lazaro Phiền,” và nhiều người cho rằng đây là tiểu thuyết đầu tiên. Ông Quản là bạn đồng học với ông Diệp Văn Cương, một học trò của ông Trương Minh Ký, sau là rể của ông Trương Vĩnh Ký. Tác phẩm của ông ra đời sau “Truyện Phansa diễn ra quốc ngữ,” năm năm, sau hai truyện ngắn đầu tiên sáu năm, thì không thể nói là tiểu thuyết đầu tiên được. Có thể đây là nhận định vội vã của một số người chưa hiểu sâu về văn chương chữ quốc ngữ ở miền Nam.

Qua đầu thế kỷ 20, ngày càng xuất hiện nhiều nhà văn hơn. Nguyễn Chánh Sắt với tác phẩm “để đời” là “Chàng Cà Mum,” Lê Hoằng Mưu với “Hà Hương phong nguyệt,” “Đêm cuối cùng của người tử tù,” Phú Đức với hàng loạt tiểu thuyết dài hơi mà nổi tiếng nhất đến ngày nay là “Châu về hiệp phố,” Trương Duy Toản với “Phan Yên ngoại sử,” Biến Ngũ Nhi với một số truyện trinh thám như “Ba Lâu ròng đạo tặc.”

Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu trên tờ Tân Đợi Thời Báo ngày 2/3/1915

Tất cả tác phẩm của các nhà văn này đều bắt đầu xuất hiện khi được đăng báo. Hầu hết các báo chí ở Sài Gòn từ cuối thế kỷ 19 cho tới năm 1975 đều có dành những phần quan trọng cho văn chương. Có khi là truyện dịch, có khi là sáng tác và tất cả đều là sáng tác mới toanh. Các nhà văn ở Sài Gòn nói riêng và cả miền Nam nói chung, báo chí là miếng đất màu mỡ cho các nhà văn sáng tạo và phát triển. Ở miền Bắc trước năm 1954 cũng thế. Chính báo chí là người đỡ đẻ cho sáng tác của nhà văn và cũng là nơi phát hiện, phát triển tài năng viết văn của người Việt. Đơn cữ trường hợp nhà văn Phú Đức, nếu không có Phó chủ bút Trung Lập Báo là ông Trương Duy Toản thì không có Phú Đức sau này. Năm một nghìn chín trăm hai mươi bốn, ông Phú Đức còn là thầy giáo tiểu học ở Gia Định, đã viết tiểu thuyết đầu tay Câu chuyện canh tràng gởi cho báo. Truyện không thật xuất sắc, song ông Trương Duy Toản nhìn thấy được tương lai của cây viết này, nên đã đề nghị ông viết tiếp. Từ đó, hàng loạt tiểu thuyết dài hơi của Phú Đức lần lượt ra đời, giúp ông bỏ nghề dạy học và chuyên tâm viết văn.

Phần lớn các nhà văn ở Sài Gòn đều nổi tiếng từ những tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên báo. Sau đó, họ mới tập họp, chỉnh sửa lại rồi in thành sách.

Nhiều tờ báo còn “mướn riêng” một hay vài cây viết chuyên viết tiểu thuyết để thu hút độc giả. Mỗi ngày, một nhà văn phải viết từ 1200 đến 1500 chữ cho cuốn truyện của mình trên báo. Chỉ cần qua một hai ngày, nếu truyện hấp dẫn thì tác giả ấy nổi tiếng ngay không cần chờ đợi lâu. Nếu viết không ăn khách thì nhà văn ấy liệu kiếm đường khác mà sống và chủ báo sẽ cắt hợp đồng ngay lập tức.

Một số nhà văn về sau nổi tiếng với danh xưng “vua feuilleton” như Phú Đức, Hồ Biểu Chánh, An Khê… Trong số này, ông An Khê mỗi ngày viết năm truyện khác nhau cho năm tờ báo, để rồi mỗi năm xuất bản được từ năm đến bảy cuốn tiểu thuyết! Nếu không có báo chí thì các nhà văn này… bó tay, khó mà nổi tiếng ngay sau khi viết truyện đầu tiên.

Còn ngày nay thì…

(Còn tiếp)

Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/tran-nhat-vy/

You may also like

Verified by MonsterInsights