HAI DỐT
Đây là ba động từ nghe qua và cả viết nữa, chả liên quan gì nhau. Vậy mà mấy động từ này đang “bị” hay “được” ép vô nhập thành một trong một vài trường hợp!
Điều đó đã khiến cho tiếng Việt mỗi ngày càng khó hiểu, ít phong phú và bị thoái hóa dần. Phải chăng đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân khiến người ngoại quốc học tiếng Việt đều thấy “quá khó?”
Hiện nay, trên báo chí, sách giáo khoa hay dùng động từ “đốt” hay “đánh” để chỉ việc người bị ong chích hay muỗi hút máu. Cách viết tiếng Việt này là phương ngữ của miền Bắc, một cách nói, viết đang được áp đặt cho cả nước Việt, mà ngay cả Google hay AI cũng phải xài!
Tại sao như vậy thì Hai bó tay và xin mọi người hãy hỏi “bên thắng cuộc” chớ Hai ở “bên thua cuộc” nói ra lý do thì sẽ có người chụp cho cái nón mà ngày nay bị gom lại thành “cái mũ!”
Dưới góc độ chữ nghĩa, Hai xin được phân tích.
Đốt, nếu bạn là người Việt chính hiệu, thì chắc chắn bạn phải hiểu liền là chữ này đi liền với lửa! Không có lửa thì không thể nào đốt được! Ngược lại, muốn đốt thì phải có lửa. Và có lửa thì…cháy, thì phỏng chớ không ngứa, hay sưng lên!
Ông Huỳnh Tịnh Paulus Của từ cuối thế kỷ 19 định nghĩa chữ đốt như sau: Nổi lửa, làm cho cháy, một khúc, một hồi, chọc giận.
Và ông chép khoảng 20 nghĩa liên quan đến chữ đốt, như:
- Lửa đốt: lửa cháy thiêu
- Đốt nhà: phát lửa, bỏ lửa làm cho cháy nhà
- Đốt pháo: châm lửa làm cho pháp nổ
- Đốt lói: đốt thứ pháo nạp vào ống tre, ống sắt, dựng đứng mà châm ngòi. Bộ người lơ láo, bơ vơ….
- Đốt cây bông: đốt các thứ pháo phát ra màu sắc, thường hiểu về pháo hoa cải
- Đốt đèn: thắp đèn
- Đốt nhang: thắp nhang
- Đốt thuốc: châm điếu thuốc cho cháy mà hút
- Đốt dinh liệu: chất cây củi mà đốt cho sáng
- Đốt đồng: nổi lửa đốt cỏ ngoài đồng
- ….
Trước đó, ở thế kỷ 18, ông Bá Đa Lộc cũng định nghĩa: Đốt là cháy. Tuy vậy, ông cũng có chữ “ong đốt bằng ngòi.” Có thể do loài ong, nhứt là ong vò vẽ, một loại ong rất độc mỗi khi chích một phát giống như bị “lửa đốt” nên nói như vậy! Song chữ “ong đốt” là chữ “rất không phổ biến ở miền Nam và Trung, chỉ thấy người miền Bắc xài. Còn lại đã nói “đốt” là phải có lửa.
Còn tự điển Hoàng Phê in năm 1991 ở Hà Nội thì ngoài nghĩa “làm cho cháy” thì có thêm nghĩa “côn trùng dùng vòi hoặc ngòi đâm vào da người hoặc động vật gây ngứa, đau.” Tự điển Văn Tân năm 1991 in ở Hà Nội chữ đốt cũng có nghĩa gần giống như Hoàng Phê. Trong khi đó, Tự điển Việt Nam phổ thông của Đào Văn Tập in ở Sài Gòn 1951 thì đốt cũng “phải có lửa!”
Nói như vậy để thấy rõ rằng, Đốt chỉ phổ biến ở cả nước Việt là “phải có lửa,” còn nghĩa “côn trùng dùng vòi đâm vào da…gây ngứa, đau” chỉ có ở miền Bắc.
Và câu hỏi: Vậy tại sao nay lại bắt người Việt ở mọi nơi phải “xài”? Xin nhường câu trả lời cho nhà chức trách Việt.
Còn cắn. chữ này thường liên quan đến…răng! Hễ nói cắm thì phải có răng, có nanh. Một người, một con vật muốn làm cho con người e ngại, khiếp sợ thì ngoài vuốt cần phải có nanh, có răng. Bởi không thể cắm mà không có răng. Người ta, chỉ cắn răng mà chịu chớ không thể cắn bằng bất cứ thứ gì khác được. Cắn mà không có răng là…thua!
Trong ngữ cảnh “muỗi cắn” là phương ngữ của người miền Trung. Một số người ở miền Nam cũng hay dùng chữ này, có thể do gốc hoặc lai tạp cách nó của người miền Trung.
Loài vật thường bị cho là cắn như muỗi, ong… hoàn toàn không dùng răng để ‘động chạm” đến con người. Chúng có vòi để hút máu, có kim ở đít nên chỉ “chích” khi cần thiết hành sự. Bởi chúng chúng đâu có răng! Ví dụ con bò cạp có hai cái càng rất đáng nể nhưng con vật này khi bảo vệ bản thân hay tấn công kẻ thù chỉ dùng càng để hù dọa là chính. Vũ khí chính của nó chính là mũi kim có nọc độc ở chót đuôi. Người bị nó chích cho một phát là đau thấy mấy ông trời và bị hành mấy bữa nữa lận! Hay con ong, nhứt là ong vò vẽ, một loại ong sát thủ rất dữ dằn, thì càng đáng sợ. Thân hình chúng không to lớn như ong bầu, nhưng vũ khí của nó là cây kim độc ở dưới đít. Bị ong vò vẽ chích một phát là có thể bị sốt mấy ngày, nếu bị cả bầy ong tấn công, người yếu yếu có thể đi theo… ông bà luôn!
Nhưng tại sao lại là chích?
Chích thời ông Bá Đa Lộc thì chỉ có nghĩa là “trích máu,” “châm chọc,” “làm cho đau lòng”. Đến thời ông Huỳnh Tịnh Paulus Của thì lại rất phong phú.
- Chích là “nướng.” Chích mật: nướng bằng mật, chích rượu là nướng bằng rượu hay ướp rượu mà nướng
- Chích là “châm chích” như trích máu, làm cho máu chảy ra, kim đâm, kiến cắn, ong châm
- Chích là đơn chiếc, lẻ loi, tiếng kêu của vật lẻ loi như chích mác là góa bụa, mất vợ hay mất chồng; ở riêng một mình (chích bóng nay kêu là chiếc bóng); chích cành là gãy cành, nhánh làm lẻ đôi, lẻ bạn; chích mích là làm mất lòng nhau….
Tất cả những chữ này đều là chữ nho. Riêng chữ chích có nghĩa là đơn chiếc là chữ nôm.
Ở đây chúng ta thấy chữ chích phát triển theo một hướng khác trong ngôn tự và chữ viết của chúng ta.
Với nghĩa “chích là châm chích” thì chữ quốc ngữ đã tiến xa và bỏ hẳn chữ Hán cùng nghĩa là chữ “tiêm.” Tiêm cũng có nghĩa là chích nhưng người Việt không xài phổ biến chữ tiêm trừ một vài trường hợp như máy bay tiêm kích chẳng hạn. Như vậy khi “bị một vật nhọn đâm vào thì kêu là chích” là một cách nói phổ biến trong dân gian và cả trên các văn bản và sách vở, chứ không nói là cắn hay đốt. Tất nhiên, tùy địa phương mà có cách nói khác nhau, song phổ biến là chích! Ngày nay dường như người ta thích dùng phương ngữ phía Bắc và sính chữ Hán hơn nên không nói chích nữa mà nó là tiêm.
Và chích trong tiếng nói thường ngày của người Việt ở thế kỷ 19 đã đã dần bị “biến dạng” trong thế kỷ 20 và 21. Bây giờ không ai nói là “chích bóng” với nghĩa là lẻ loi, đơn chiếc mà nói là chiếc bóng. Và chữ chiếc đã mang nghĩa là đơn lẻ.Từ chích thành ra chiếc trong phát âm cũng không xa nhau lắm.
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/hai-dot/

