Mặc khải đêm giao thừa

by Tim Bui
Mặc khải đêm giao thừa

TRẤN LỮ

Giao thừa năm ấy, chúng tôi lên thăm người thầy dạy kèm tiếng Pháp hồi chúng tôi còn ở trung học. Nói là thầy nhưng chúng tôi xem nhau như bạn bởi vì thầy chỉ lớn hơn chúng tôi chưa đến bốn tuổi – một khoảng cách đủ gần để dễ hiểu nhau nhưng cũng đủ xa để dẫn dắt những tâm hồn đang tập tành bước vào đời. 

Đường đến nhà thầy, độc đạo và ngoằn ngoèo. Nhà thầy nằm trên lưng giốc của triền đồi Trabuco Canyon, không xa đô thị lắm, nhưng cũng hẻo lánh và hoang sơ, vì vậy mà ít người đến thăm.

Thầy bảo: “Các anh đến thăm vào đúng giao thừa thật tốt quá! Lát nữa đây, chúng ta ra sân sau đốt đóm lửa, ngắm trăng sao, và cảm nhận giờ phút giao thừa linh thiêng có lẽ cũng thú lắm!

Và chúng tôi mang ít đồ nhắm ra sân, rồi cùng thầy thổi bùng một đóm lửa nhỏ. Những thanh củi khô bắt đầu nổ lách tách, tỏa ra làn khói thơm mùi gỗ mục và nhựa thông. Một vài người bạn quấn quanh mình mấy chiếc chăn dày để chống chọi với cái lạnh se sắt của vùng đồi núi lúc về đêm. Sau khi thăm hỏi nhau về những căn bệnh mà chúng tôi ai cũng không ít thì Nhiều đều mắc phải, chúng tôi nhắc lại những câu chuyện ngày xưa, rồi cuối cùng câu Chuyện xoay quanh các vì sao. 

Chúng tôi, những người cận kề bảy mươi tuổi, không ít thì nhiều cũng đã trải qua bao nhiêu kinh nghiệm sống, có người đã ly dị, có người dâng cả tuổi đời để tu hành và thiền định, có người tỷ phú còn tiếc nuối những cơ đồ còn dang dở…  Mỗi người một tâm trạng, nhưng có lẽ cùng chung một niềm tin rằng năm mới rồi mọi sự sẽ khá hơn.

Đặc biệt là đêm ấy trời thật tối đen, những ngôi sao dường như sáng hơn thường lệ, trông chúng như những viên kim cương vãi tung tóe trên tấm thảm nhung thiên thanh. Có lẽ vì những nơi hoang vắng, đêm thực sự là đêm, chẳng có chút ánh sáng đèn đường nào làm nhiễm màu.

Từ thuở hồng hoang, khi còn sống trong những hang động lạnh lẽo, chưa có những tòa nhà chọc trời hay ánh đèn điện rực rỡ làm lu mờ màn đêm, con người đã quen ngước mắt nhìn lên bầu trời. Ban đầu, màn đêm đen mang đến những hãi hùng, nhưng dần dà, con người nhận ra, bầu trời đêm là tấm bản đồ đầu tiên và vĩ đại nhất. Trước khi có hệ thống định vị hay la bàn, những người đi biển, những kẻ du mục đã dựa vào vị trí của các chòm sao để định hướng. 

Bầu trời cũng là người thầy, là người dẫn đường thầm lặng. Vũ trụ đánh thức trong chúng ta những câu hỏi triết học lớn lao nhất. Khi đứng trước sự bao la vô tận, nơi mà khoảng cách được đo bằng năm ánh sáng chứ không phải bằng cây số, con người bỗng nhận ra sự nhỏ bé của mình. Cảm giác đó không phải là sự tự ti, mà là một sự kính sợ. Chúng ta tự hỏi: “Con người từ đâu đến?”, “Liệu chúng ta có cô đơn trong cõi đời này không?”, và “Điều gì đang chờ đợi chúng ta ở phía bên kia của những vì sao?”

Thầy khều nhẹ đóm lửa, ánh lửa vàng rực nhảy múa trong đôi mắt. Lúc ấy Bắc đẩu sừng sững trên cao.  Một vì sao băng ngang. Chúng tôi lặng im, mỗi người một ý nghĩ.  Bỗng thầy nói:  — Cũng một đêm trăng sao như thế này…, các anh còn nhớ câu chuyện “Những vì sao” của Alphonse Daudet? (1)

Alphonse Daudet là một tác giả chuyên viết truyện ngắn ở khoảng giữa thế kỷ 19.  Truyện ngắn hay nhất của ông có lẽ là “Những vì sao…”  

Một anh bạn nói:  — Xin thầy kể

Thầy hắng giọng, rồi bắt đầu dẫn chúng tôi vào thế giới của Alphonse Daudet qua lời kể của một anh chàng chăn cừu trẻ tuổi trên đỉnh núi Luberon. Anh chàng này sống cô độc giữa bầy cừu, hàng tuần liền không thấy bóng người, chỉ biết trò chuyện cùng cỏ cây và những vì sao. Anh chàng kể lại rằng, mỗi khi nhìn thấy gã đưa lương thực từ dưới đồng bằng lên, anh lại hỏi dồn dập về những tin tức của cô chủ nhỏ Stéphanette – đóa hoa xinh đẹp nhất vùng.

Rồi một ngày, định mệnh đưa nàng đến tận túp lều tranh của anh trên đỉnh núi cao. Nàng không đi xe mà cưỡi trên lưng một chú lừa, với những dải ruy băng rực rỡ và những đường đăng ten thêu thùa trên áo như một tiên nữ giáng trần. Do con sông Sorgue dâng nước sau trận mưa lớn, nàng không thể trở về ngay trong ngày. Đêm ấy, giữa không gian bao la của núi rừng, chàng chăn cừu đã thức canh cho nàng nghỉ lại.

Anh chỉ cho nàng thấy “Con đường của Thánh Giam,” còn gọi là Dải Ngân Hà – sáng rực như một dải lụa trắng, do các vị thánh vạch ra để dẫn đường cho quân đội nước Pháp. Anh nói về chòm sao Đại Hùng Tinh – chiếc xe khổng lồ của bầu trời; về sao Vệ Nữ dịu dàng mà anh gọi là tấm gương của những người chăn cừu. Anh say sưa kể về những vị tinh tú đang mở tiệc linh đình trên cao xanh. 

Nghe thầy kể đến đây, chúng tôi nhìn lên bầu trời, như muốn tìm những vì sao mà chàng mục tử đã kể cho cô chủ Stéphanette xinh đẹp.

Ngừng một chút để mọi người quan sát, thầy tiếp tục…

Sau khi chỉ cho nàng các vì sao, anh trầm giọng, nói về sao Mục đồng, một cách hãnh diện:

Nhưng cô chủ ơi, ngôi sao đẹp nhất trong tất cả những vì sao lại là ngôi sao của chúng tôi, đó là sao Mục đồng, nó soi đường cho chúng tôi lùa đàn súc vật ra bãi lúc bình minh và xua chúng về chuồng lúc hoàng hôn. Chúng tôi còn gọi ngôi sao ấy là Maguelonne, nàng Maguelonne xinh đẹp chạy theo chàng Pierre de Provence, và cứ bảy năm một lần lại kết hôn với chàng.

Rõ ràng là chàng mục tử đã gửi gắm bao nhiêu tâm tình với từng vì sao.

Nhưng trong câu chuyện của Daudet, dù chàng mục đồng có say sưa kể về các vì sao đến thế nào, khoảnh khắc đẹp nhất, thiêng liêng nhất lại không phải là khi anh nhìn lên trời. Đó chính là lúc nàng Stéphanette, vì quá mệt và đêm quá khuya, đã khẽ tựa đầu lên vai anh và ngủ thiếp đi. Chàng mục đồng kể lại trong niềm hạnh phúc: “Và cứ thế tôi nhìn nàng ngủ, lòng hơi xao xuyến… ngỡ đâu một trong những ngôi sao thanh tú nhất, rực rỡ nhất… đã lạc đường và đến đậu trên vai tôi mà thiếp đi.”

Hóa ra, ngôi sao đẹp nhất đối với chàng mục đồng không phải là Sao Mộc hay Sao Kim lạnh lẽo trên cao, mà chính là con người đang ở ngay bên cạnh anh. Hơi ấm từ mái tóc, nhịp thở đều đặn của Stéphanette mới chính là trung tâm vũ trụ của anh trong đêm thanh vắng đó. Mọi huyền thoại về tinh tú đều lùi xa, nhường chỗ cho một sự gắn kết nhân bản ngay trước mặt.

Cái kết rất “người” của câu chuyện khiến tôi có cảm tưởng ánh lửa bừng sáng hơn, chiếu rõ từng khuôn mặt thân quen của những người bạn đang ngồi xung quanh.

Chàng mục tử, với cuộc sống cô đơn trên đỉnh núi, lấy niềm vui ở những huyền thoại của những vì sao để gửi gắm tâm tình của mình. Daudet đã gói ghém rất tài tình tâm tình của con người thời đó vào câu chuyện của chàng mục tử.

Một bạn khác hỏi thầy: — Người xưa kể chuyện rất lãng mạn, không biết bây giờ người ta nghĩ về vũ trụ như thế nào?

Lúc Daudet ra mắt “Những vì sao,” con người quả thật lãng mạn hơn bây giờ. Thời nay, hơn 100 năm sau, những tiến bộ về kỹ thuật khiến con người khi nhìn vào trăng sao là nghĩ đến việc chinh phục để thỏa mãn một mục tiêu xa vời nào đó.

Tác phẩm khoa học viễn tưởng Star Trek là một thí dụ.

Tác phẩm khoa học viễn tưởng “Star Trek” là một thí dụ.

Sau năm 1975, nhiều người trong chúng tôi tỵ nạn qua Mỹ đúng vào thập niên mà bộ phim Star Trek được chiếu trên truyền hình mỗi đêm. Lúc ấy, chúng tôi say mê xem Star Trek là một bộ phim vừa viễn tưởng lại vừa không tưởng. Toàn bộ tác phẩm vẽ nên một tương lai vào thế kỷ 23 và 24, nơi trái đất đã trở thành một thiên đường đúng nghĩa. Ở đó không còn tiền bạc, không còn lòng tham vật chất. Con người làm việc không phải để tích lũy của cải, mà để hoàn thiện bản thân và cống hiến cho cộng đồng. 

Và Captain Kirk, do William Shatner thủ vai, đã trở thành vị lãnh đạo khôn ngoan, đại diện cho loài người đi chinh phục những chân trời mới. Suốt nhiều thập niên, ông đóng vai một lữ khách vũ trụ gan dạ trên màn ảnh.  Ít người biết rằng, ông từng ao ước một ngày nào được bay vào không gian bằng một chiếc phi thuyền thực sự.

Rồi đến một ngày, vận may gõ cửa, mơ ước của ông trở thành sự thật.  Vào năm 2021, ở tuổi 90, ông thực hiện chuyến thám hiểm vũ trụ trong một phi thuyền tối tân của Blue Origin do lời mời của tỷ phú Bezos.

Hãy thử hình dung tâm trạng của một cụ ông 90 tuổi, người đã dành cả đời để diễn xuất về việc bay vào không gian, nay được tham dự một chuyến du hành vũ trụ trong một chiếc phi thuyền thực thụ. Sự chuẩn bị cho chuyến đi không chỉ là những bài tập thể lực hay kỹ thuật, mà còn là sự đối diện với nỗi sợ hãi rất bản năng. Shatner kể lại rằng khi nhóm của ông được đưa đi xem bệ phóng, họ được dẫn vào một căn phòng bê tông dày đặc với các bình dưỡng khí. Khi ông hỏi bâng quơ về mục đích của căn phòng, để được nghe câu trả lời thản nhiên đến lạnh người: “Ồ, các ông sẽ chạy vội vào đây nếu phi thuyền phát nổ.” Một căn phòng an toàn nằm chơ vơ giữa không trung, ở tầng thứ mười một, để phòng khi khối thuốc nổ khổng lồ bên cạnh gặp vấn đề! Quả là một khởi đầu không mấy êm ả.

Vào ngày khởi hành, những ký ức về thảm kịch Hindenburg cứ lởn vởn trong đầu người diễn viên già. Ông tự nhủ mình là một người chuyên nghiệp, và “buổi diễn” phải được tiếp tục – the show must go on, nhưng nỗi lo âu vẫn ám ảnh. Sự căng thẳng càng leo thang khi có thông báo hoãn lại vì một “sự bất thường” ở động cơ. Một sự bất thường trong động cơ của phi thuyền? Tại sao họ lại nói điều đó với những hành khách đang bị thắt chặt vào ghế ngồi và không còn đường lui? Dù mọi việc đã được giải quyết nhanh chóng và phi thuyền được phép rời bệ phóng, những khoảnh khắc đó đã lột tả sự mong manh của con người trước sức mạnh của công nghệ và thiên nhiên.

Khi phi thuyền lao vút lên cao, để lại trái đất phía sau, Shatner đã phải chịu đựng những lực hấp dẫn đè nặng lên cơ thể già nua của mình. Ông lo sợ khuôn mặt mình sẽ tan chảy, cơ thể sẽ không chịu nổi. Nhưng rồi, tất cả bỗng chốc tan biến khi trạng thái không trọng lực xuất hiện. Trong khi những người bạn đồng hành vui vẻ nhào lộn và tận hưởng cảm giác trôi nổi, Shatner lại chỉ muốn nhìn ra cửa sổ. Ông khao khát được nhìn thấy điều kỳ diệu của vũ trụ.

Và đó chính là lúc sự vỡ mộng ập đến.

Trong cuốn tự truyện Boldy Go, xuất bản một năm sau chuyến bay ấy, ông kể:  Ban đầu, tôi nhìn lại phía sau và thấy một vệt mây, dấu vết nơi con tàu vừa đâm toạc bầu khí quyển mỏng manh của trái đất. Nhưng khi quay đầu nhìn vào không gian sâu thẳm, nơi tôi hy vọng tìm thấy sự huyền bí và vẻ đẹp của các vì sao, tôi chỉ thấy một màu đen kịt. Đó không phải là màn đêm lấp lánh đầy sao mà chúng ta vẫn thấy trên phim ảnh. Đó là một màu đen của sự chết chóc, lạnh lẽo và trống rỗng đến tận cùng. “Tôi chẳng thấy sự bí ẩn hay vẻ đẹp nguy nga tráng lệ nào cả… tất cả những gì tôi thấy là cái chết,” ông viết.

Sự tương phản này chính là điểm mấu chốt trong tự truyện của William Shatner. Khi nhìn lại trái đất, ông thấy sự sống. Ông thấy độ cong của hành tinh, màu beige của sa mạc, màu trắng của mây và màu xanh của bầu trời. Đó là mẹ trái đất, là Gaia, là sự nuôi dưỡng và bao bọc. Rời xa nó để lao vào khoảng không đen tối kia không phải là một cuộc phiêu lưu hào hùng, mà là một sự chia ly đau đớn!

Shatner từng nghĩ rằng việc bay vào không gian sẽ mang lại sự thanh lọc tâm hồn, một bước tiến đẹp đẽ để hiểu về sự hài hòa của vũ trụ. Nhưng thực tế, ông nhận ra rằng vẻ đẹp không nằm ở ngoài kia, giữa những ngôi sao xa xôi lạnh lẽo, mà nằm ngay dưới này, giữa tất cả chúng ta. Việc rời bỏ trái đất đã khiến mối liên lạc của ông với hành tinh nhỏ bé này trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết.

Ông viết: “Khi nhìn ngắm trái đất từ quỹ đạo, tôi thấy, ranh giới giữa các quốc gia biến mất, những mâu thuẫn chính trị trở nên vô nghĩa, tất cả những ý niệm chia rẽ chúng ta trên mặt đất bắt đầu phai nhạt khi nhìn từ không gian.”

Cảm xúc chính của ông là nỗi buồn da diết. Một nỗi buồn đổ ập vào đầu khi ông nhận thức rõ ràng về sự tàn phá mà con người đang gây ra cho trái đất. Mỗi ngày, chúng ta đối mặt với tin tức về sự tuyệt chủng của các loài động vật, sự biến mất của thực vật – những thứ đã mất hàng tỷ năm để tiến hóa, nay bỗng chốc vĩnh viễn biến mất do sự can thiệp của con người. Chuyến đi vào không gian, được dự định là một buổi liên hoan ăn mừng cho thành tựu của con người, với ông lại mang cảm giác như một đám tang. Một đám tang cho trái đất đang bị tổn thương.

Tuy nhiên, bài viết của ông không kết thúc trong tuyệt vọng. Từ nỗi buồn sâu thẳm đó, Shatner thấy một tia hy vọng. Nhận thức về sự nhỏ bé của con người trước sự hùng vĩ của vũ trụ, và sự mong manh của trái đất, là một món quà. Nhận thức về sự nhỏ bé của con người trước sự hùng vĩ của vũ trụ, và về sự mong manh của trái đất, thực ra là một món quà. Con người có một khả năng đặc biệt mà có lẽ nhiều loài khác không có: ý thức. Chúng ta biết mình nhỏ bé, nhưng cũng đồng thời hiểu rằng vẻ đẹp mong manh ấy cần được che chở và giữ gìn.

Khi đạt được đến ước nguyện của mình, Shatner mới nhận ra đấy không phải là điều ông mong muốn.

Ở một góc nhìn nào đó, câu chuyện của Shatner cũng có kết cục tương tự như chuyện của chàng mục đồng, vẻ đẹp thực sự không nằm ở những đốm sáng lạnh lẽo kia, mà nằm ngay dưới chân chúng ta, ngay trong hơi ấm của nàng Stéphanette, hoặc ngay trong ngôi nhà chung của con người.

Tôi liên tưởng đến người bạn thiền sư đang ngồi bên cạnh. Sau bao năm ăn chay và quyết tâm thiền định để đạt đến các tầng niết bàn cao siêu; một hôm anh thổ lộ với tôi:  — Tu mãi mà đã đạt được đến đâu đâu!  Chắc còn phải nhiều kiếp sau!  Không biết trong khi mải miết tu, anh có thấy cái thiên đường ngay ở trước mắt, ở những người thân xung quanh, ở những niềm vui đơn giản của kiếp người?

Còn người bạn tỷ phú, tiền bạc thì rất nhiều, nhưng càng nhiều tài sản, gánh nặng của của cải càng nặng trĩu trên người anh.  Bao nhiêu căn hộ cho mướn là bấy nhiêu người gọi vào phàn nàn.  Vợ chồng anh đi đâu cũng mang theo hai ba cái điện thoại cầm tay để còn điều động công việc kinh doanh.  Họ ăn cơm tiệm là chính, không hề có thời giờ săn sóc nhau như hồi còn nghèo khổ.  Khi đạt đến đỉnh cao của sự giàu có, tôi nghĩ anh mong muốn có những bữa cơm nhà đầm ấm và an bình.

Có phải thiên đường chính là nơi đây, chỗ chúng ta đang đứng?  Tại sao cứ phải đuổi theo những ảo tưởng để rồi quên mất thiên đường đang hiện diện bên mình?

Lúc ấy, giao thừa đã qua nhưng chúng tôi vẫn lặng im nhìn lên bầu trời, mỗi người một tâm sự. Những vì sao vẫn lấp lánh, nhưng giờ đây chúng không còn là những “miền đất hứa” xa xăm nữa. Chúng trở thành những ngọn đèn rọi sáng cho sự quý giá của mái nhà chung. Sự mê hoặc của nhân loại đối với vũ trụ, có lẽ thực chất là một nỗi lòng hướng về cội nguồn, để chúng ta biết quay về nâng niu những gì đang ở trước mặt.

Đêm giao thừa ấy, giữa cái lạnh của núi đồi, chúng tôi quấn chặt chăn hơn và xích lại gần đóm lửa. Đóm lửa của thầy vẫn cháy đều, tỏa ra hơi nóng ấm áp lên những khuôn mặt đã hằn dấu vết thời gian. Tôi cảm thấy thật may mắn khi được ngồi đây, với bạn bè đồng trang lứa, giữa một vùng đồi núi hoang sơ, uống chén trà nóng và chia sẻ những suy nghĩ về cuộc đời.

Những ngôi sao trên kia vẫn sẽ tiếp tục tỏa sáng qua bao thế hệ, vẫn sẽ là nguồn cảm hứng cho những bài thơ và những bộ phim khoa học viễn tưởng. Nhưng đêm nay, bầu trời đen đã nhắc nhở với chúng tôi rằng, hãy quay về nâng niu những gì đang hiện diện. Hơi ấm từ bàn tay bạn bè, tiếng gió xào xạc qua tàng cây, và sự gắn kết giữa những tâm hồn – đó mới chính là vẻ đẹp thực sự mà không một vì sao nào có thể thay thế được. Chúng ta không cần phải bay vào không gian để tìm kiếm ý nghĩa của sự tồn tại, vì ý nghĩa đó đã nằm ngay trong từng hơi thở và trong những giây phút giao mùa bình yên như thế này.

Trần LữMời độc giả đọc truyện “Những vì sao” của tác giả Alphonse Daudet do Thẩm Thệ Hà chuyển ngữ, ở trang….

You may also like

Verified by MonsterInsights