Nguyên tác: The stars – Tale of a Provençal Shepherd
Tác giả: Alphonse Daudet
Chuyển ngữ: THẨM THỆ HÀ
Lời thuật của chàng mục đồng xứ Provence:
Hồi tôi còn chăn cừu ở miền Luberon thuộc dãy núi Alps, tôi đã sống chuỗi ngày êm ả, thanh nhàn với đàn cừu dễ thương, với con chó Labri trung thành, với ổ rơm ấm và lương khô. Đời kẻ chăn cừu miền sơn dã là đời cô đơn với cỏ nội hoa hèn, giữa ngàn sao sáng.
Thỉnh thoảng, nhà ẩn sĩ ở núi Ure đi ngang qua hoặc mấy chú làm than ở Piémont về kiếm củi. Nhưng đó là những tâm hồn mộc mạc, họ quen với cảnh sơn dã, tánh tình họ cũng hóa ra trầm tĩnh, không còn ham nói và cũng không biết mảy may gì về những chuyện xảy ra dưới thị thành. Gặp tôi, họ gật đầu để đáp lại lời chào, mắt họ nhìn biểu lộ sự thăm hỏi qua loa và kín đáo. Đời sống bình dị quá, chúng tôi không còn gì để tâm sự với nhau.
Qua những phút gặp gỡ ấy, tôi lại tiếp tục cuộc sống trầm lặng bên cạnh cuộc sống dao động của đàn cừu, sự sống âm thầm bí mật của sơn khê trùng trùng điệp điệp. Hàng ngày, đàn cừu ngoan ngoãn gặm cỏ non ở sườn đồi, có khi dại dột xông vào bụi cây gai. Có khi chúng lại đùa
giỡn bên khe, rủi lỡ chân một tí thì rơi ngay xuống dòng thác lũ.
Chúng giống như đám trẻ ngây thơ khờ dại. Động một chút là mồm chúng kêu ó lên, tôi đã quá quen thuộc với thứ nhạc hỗn loạn ấy rồi.
Các bạn ơi, những lúc trông thấy cỏ non mơn mởn, cây xanh ngút ngàn, bướm bướm vờn hoa, nghe tiếng suối róc rách lưng đồi, tôi cảm thấy tâm hồn phiêu diêu, lơ lửng. Tôi bỗng nhớ đến một người, nhớ thật nhiều và tha thiết.
Lâu lâu, nhớ những người láng giềng dưới thung lũng, tôi leo lên mỏm đá cao nhìn xuống chân núi, cố tìm vài bóng dáng thân yêu. Tôi chỉ thấy gác chuông nhà thờ, khu chợ nhỏ, mái trường làng, cái trại của chủ tôi với con rạch nhỏ uốn quanh. Tất cả chỉ là những chấm nhỏ, những vệt mờ trong sương chiều hoặc nắng sớm. Rất tiếc, tôi không thể bỏ đàn cừu để xuống thăm làng quê trong chốc lát.
Cái trại kia nào phải của tôi đâu, vậy mà tôi thấy nhớ nó ghê! Nghe thông reo trên đỉnh núi mùa hè, tôi nhớ đến mùa đông dưới trại. Cây Thông đứng trơ mình sau trại, cạnh chuồng bò, reo vang giữa ngàn hoa tuyết trắng rơi rơi… Trên đỉnh non cao này, cây thông đã reo vang trong lòng tôi suốt cả mùa hè. Cho đến khi có trận mưa đầu thu, tôi lùa đuổi đàn cừu về trại. Mùa đông qua, mùa xuân đến. Dân làng thường tổ chức những buổi dạ hội, treo đèn kết hoa, tưng bừng rực rỡ. Họ mở bò thết nhau, uống rượu và khiêu vũ. Cô con gái của chủ tôi khiêu vũ
mãi. Cô vui vẻ với mọi người, chỉ trừ tôi ra. À quên, cô nào thấy tôi đâu? Tôi nấp sau lưng thiên hạ. Tôi cũng muốn ra sân cỏ, nắm tay các cô gái xinh xinh, quay tròn theo điệu nhạc, nhưng chiếc áo tôi cũ và rách, tôi thẹn quá chỉ đứng xem mà thèm thuồng, ao ước.
Đến nửa mùa xuân, tôi đuổi đàn cừu lên núi. Vẫn con đường mòn quen thuộc, nhưng rừng cây hình như vừa thay lá. Cỏ non, cánh bướm, ngàn hoa…
Đời kẻ chăn cừu thật là êm đềm, bình thản. Tôi chỉ có một an ủi là cứ độ nửa tháng, tôi ra đường mòn xuống núi, chọn một phiến đá sạch ngồi chơi và chờ đợi. Tôi chờ đợi tiếng lạc của con la vang lên từ dưới triền núi con la chở đồ ăn cho tôi mỗi kỳ hay trông chừng chiếc mũ
chóp của thằng tiểu đồng dưới trại hoặc vành khăn mỏ kết của dì Norade.
Mỗi tháng hai kỳ, chủ tôi cho người mang lương khô lên cho tôi. Gặp thằng bé con lém lỉnh hay dì Norade hiền lành, tôi đều vui mừng thành thật. Ở đây, tôi chỉ nghe tiếng kêu của đàn cừu, có ai đâu để chuyện trò cho thỏa thích? Này nhé, tôi bắt họ thuật lại những tin tức dưới làng, những cuộc lễ rửa tội, những đám cưới xin, ông xã trưởng hay nhậu say túy lúy, ông bác sĩ hay đánh xe đi thăm bệnh nhân, nhất là cô con gái nhỏ của chủ tôi, cô Stéphanette. Có lẽ cô chủ nhỏ tôi vẫn thắt chiếc nơ màu hồng, vẫn đi dự những buổi dạ hội có khiêu vũ, vẫn thường
vui cười với bọn trai trẻ trong làng. Tôi còn lạ gì các cậu ấy, hễ trông thấy cô Stéphanette đâu là lập tức bu quanh để tán tỉnh, để khen cô đẹp nhất làng…
Nếu dì Norade hóm hỉnh hỏi: — Cô Stéphanette có ăn thua gì đến kẻ chăn cừu? Cậu hỏi thăm cô ấy làm chi?
Tôi đỏ mặt nhưng có can đảm đáp: — Cô chủ nhỏ của kẻ chăn cừu! Tôi đã hai mươi tuổi rồi, nàng là cái gì đẹp đẽ, quý báu nhất đời, tôi không hỏi thăm nàng thì còn hỏi ai đây?
Một bữa chúa nhật, tôi đang nóng đợi kỳ vận lương thường lệ, vì lần này đồ ăn đến trễ. Buổi sáng đợi mãi mà không thấy, tôi đã tự nhủ: “Có lẽ tại người ta bận đi lễ.” Đến trưa, trời mưa dông, tôi cho là tại con la không thể lên đường được vì cơn mưa. Sau cùng, vào lúc ba giờ,
trời đã quang đãng và sườn núi đã lấp lánh ánh mặt trời. Nên trời bao la, xanh biếc. Tôi nghe, qua tiếng nước rót thánh thót ở mấy cành lá và tiếng rách tràn vì quá ngập, tiếng lạc reo vang của con la như tiếng chuông đổ trong ngày lễ Phục Sinh.
Tôi lấy làm ngạc nhiên là lần này không phải là thằng tiểu đồng mang lương thực cho tôi, cũng không phải dì Norade với cái miệng móm xọm. Các bạn thử đoán xem người đó là ai? Người đó, các bạn ơi! Chính là nàng, cô bé Stéphanette, cô chủ nhỏ yêu quý của tôi.
Tôi mở mắt mà ngỡ mình chiêm bao. Tôi dụi mắt, nhìn cho tận tường, người đẹp đang ngồi giữa những bao bàng miên liễu, vẻ mặt nàng tươi hơn cỏ hoa, tóc nàng phất phới như gió quyện mây ngàn. Tôi mừng quá, rừng cây xanh hình như cũng mừng với tôi.
Tôi cầm tay nàng đỡ xuống đất, rồi đem theo bao đồ ném vào hang đá, cạnh ổ rơm. Cô chủ nhỏ theo bên tôi, hí hửng kể chuyện: thằng nhỏ ở phải bệnh, dì Norade về quê nhà, và sở dĩ cô đến trễ là vì một trận mưa rào ác ôn làm cho cô lạc đường. Nhưng mà tôi có dễ tin như thế
đâu? Cứ trông cô mặc đồ lễ, cái giải băng hồng viền quanh mái tóc vàng óng ả, cái váy màu xanh tươi tắn với những sợi ren, đóa hoa hồng đỏ thắm cài trên tóc, cái thập giá vàng lấp lánh trên bộ ngực căng tròn. Và còn nữa, đôi môi nàng như còn dư vị của những phút
vui chưa trọn vẹn, đôi mắt nàng như gửi vào đâu đâu, xa xôi, diệu vợi… Tất cả đã tố cáo rằng nàng đã nói dối, nàng có vẻ đến từ một cuộc khiêu vũ nào hơn là vừa lạc lối trong bụi rậm giữa cơn mưa.
Tôi biết rằng nàng rất đẹp, rất duyên dáng, rất khả ái, khiến cho bọn con trai luôn luôn bao quanh làm cho nàng chậm chân, rồi đến trễ, rồi nói dối. Nhưng tôi không hề giận nàng, tôi chỉ biết rằng tôi yêu, Sơn Thần đã chứng minh cho lòng tôi.
Stéphanette, nàng tiên của mục tử!
Hỡi cô bé dễ thương! Tại sao mắt tôi nhìn cô mà không biết chán! Không lần nào tôi thấy cô đẹp như lần này. Mái tóc buông lơi xuống đôi vai tròn, đôi môi mọng đỏ như chùm nho, cái ngực tròn như quả đồi, ngón tay thon thon như chiếc đũa của bà tiên. Thật ra, lâu nay chưa lần nào tôi có dịp đứng gần nàng, nhìn tận mắt nàng để ngắm nàng cho thỏa thích. Có những lúc đông về, khi đàn cừu đã về trại và tôi về đồn điền để dùng bữa, tôi thường thấy nàng thoăn thoắt đi ngang qua phòng ăn, nhưng nàng là cô chủ, tôi là kẻ ở, nàng có khi nào nói với tôi một
lời? Có lần đang ở sau trại, trông thấy nàng ra cửa, tôi vội vàng nhìn theo thì bóng nàng đã khuất sau hàng giậu xanh. Tôi thấy nàng có vẻ kiêu kỳ làm cho tôi khó chịu. Nhưng lần này, cô chỉ đứng đối diện trước mặt tôi. Vẻ mặt nàng rất hiền từ, đôi môi nàng có một thứ gì rất
duyên dáng. Tôi tưởng như lúc bấy giờ nàng là của riêng của tôi và tôi thấy tâm hồn tôi rộn lên những cảm xúc sôi nổi và phức tạp.
Tôi đang sống trong cảnh nửa thực nửa mộng, bỗng Stéphanette cất tiếng gọi tôi: — Này mục tử, anh đưa tôi đi xem dinh thự của anh đi.
Nàng đưa tay vén váy lên cho khỏi vướng, rồi kéo tôi lần vào hang đá.
Nàng xem qua chỗ tôi nằm ngủ, thùng đựng cỏ với da trừu, áo choàng tôi treo trên tường, và cả đến cây súng gỗ của tôi máng trên vách đá. Dường như lấy làm vui thích, nàng nhìn tôi nhoẻn cười: — Anh ở nơi này hả, mục tử?
Không đợi tôi trả lời, nàng hỏi tiếp: — Sống cô độc nơi non cao hiu quạnh này, chắc là buồn lắm phải không anh? Anh thường làm gì? Anh thường nghĩ gì? À quên, anh thường nhớ tới ai?
Tôi muốn trả lời: “Tôi thường chăn cừu cho cô, tôi không có gì phải nghỉ ngơi, tôi thường nhớ tới cô, nhớ tha thiết, chẳng những nhớ mà còn thương cô nữa là khác.” Nhưng tôi bối rối, không thốt được ra lời.
Tôi hồi hộp quá, có cái gì chặn nghẹt cổ tôi.
Thấy tôi lúng túng, nàng cười vang lên, đầu hơi nghiêng nghiêng, mắt biếc lóng lánh như những vì sao. Ôi, mắt nàng đẹp hơn cả ngàn sao sáng.
Nàng tinh nghịch đùa: — Này mục tử, anh có cô bạn gái nào thường lên núi thăm anh không? Có con chiên vàng và nàng tiên Estérelle thường ngao du trên đỉnh núi để phù hộ cho anh chớ?
Nghe nàng hỏi, tôi muốn trả lời rằng tôi không hề quen biết với cô gái nào khác hơn là nàng, tôi cũng không hề gặp gỡ Estérelle tiên nữ của toàn thể mục nhân. Tôi chỉ biết nàng là tiên nữ của lòng tôi. Nhưng tôi lại ấp úng, vẫn có cái gì chặn nghẹt cổ, không thể thốt thành lời.
Tôi đỡ nàng lên lưng la. Nàng mỉm cười hóm hỉnh: — Tạm biệt mục tử nhé. Bao giờ gặp nàng ấy, nhớ bảo rằng tôi có lời nhắn thăm. Tạm biệt!
— Chào cô chủ.
Nàng vui vẻ bước đi, bóng nàng khuất sau một lối đường mòn. Tôi dường nghe tiếng sỏi đá rên rỉ dưới cẳng la, vang dội vào tim tôi. Tôi giữ cái cảm giác ấy rất lâu, dư âm tiếng lạc reo như còn vương vấn mãi.
Thế là hết, mới lúc nãy một bàn tay nắm lấy một bàn tay, đôi mắt nhìn nhau, nụ cười hồn nhiên bên nụ cười e ấp, vụng về. Tất cả thoáng qua như một giấc mơ hoa.
Bỗng tôi thấy dưới đường một cánh hoa hồng lăn lóc. Phải rồi, đó là đóa hồng nàng cài trên tóc. Tôi cúi xuống nhặt đóa hoa, thở dài thương cho hoa và cũng thương cho mình.
Tôi ngồi xuống phiến đá, nâng niu đóa hoa hồng. Trong sự tĩnh mịch của buổi chiều tà, tôi lắng nghe lòng mình bâng khuâng chua xót. Tôi không dám cử động, sợ rằng cái phút giây êm ái đó tan đi. Tôi mơ màng hình dung một nàng con gái đẹp như hoa xuân, nhanh nhẹn như cừu non.
Rừng núi lặng im như cũng tôi tưởng nhớ đến nàng. Tôi đưa đóa hồng lên môi, mơ hồ không biết là hôn hoa hay hôn nàng, hương hoa hay là hương mái tóc nàng còn quyện trên môi tôi. Tôi chỉ biết là tôi yêu nàng, và tôi hôn là vì nàng chớ đâu phải vì hoa.
Stéphanette đã hai mươi tuổi. Đối với tôi, nàng là cái đẹp nhất trần đời.
Màn đêm buông xuống. Thung lũng đang nhấp ánh chiều vàng bỗng biến thành một vực đen thăm thẳm. Con chó Labri đuổi đàn cừu vào chuồng lúc nào tôi không hay. Tôi mãi mơ màng, nhưng nhớ đến hình dáng ai kia.
Ngày đã tàn. Khung trời mờ sương, rừng xanh lạnh lẽo, những vì sao lốm đốm trên nền trời. Tôi buồn quá nhưng tôi không khóc. Khóc làm gì chớ?
Tôi muốn cất lên vài câu ca tình tứ, nhưng lòng tôi tràn ngập tình thương nỗi chua xót làm lưỡi tôi tê lại.
Qua cơn gió thoảng, tôi nghe như có tiếng ai gọi tôi. Tôi nín thở, lắng nghe. Phải rồi, có tiếng gọi tôi, nhưng biết đâu chẳng là tiếng vang của núi rừng âm u, huyền bí. Tiếng gọi trở nên vồn vã, cấp bách:
— Mục tử ơi! Mục tử ơi!
Tôi vội vàng chạy ra con đường mòn xuống núi. Trời ơi! Ai mà ngờ trước được? Cô chủ nhỏ của tôi đây mà. Quần áo của nàng ướt hết. Nàng đi bộ, tay nắm cương la, dáng đi trông thật là thiểu não. Nàng run rẩy ngả vào lòng tôi. Trong bóng đêm mờ, tôi thấy thương hại nàng quá. Nào vẻ kiêu kỳ, nào điệu bộ nhí nhảnh đều biến đâu mất, chỉ còn lại đôi mắt biếc mờ như sao nhạt, đôi môi mếu xệch thật đáng thương.
Có lẽ đến cuối sườn non, nàng thấy rạch tràn nước sau trận mưa dông nàng không thể tìm lối nào khác để trở về đồn điền, nên đành trở lên núi. Và có lẽ nàng cũng đã sẩy chân và suýt chút nữa là lâm nạn.
Nàng gục đầu vào vai tôi, khóc thút thít. Tôi tìm lời an ủi: — Thôi nín đi cô. Cô khóc mãi thì tôi cũng khóc theo, rồi còn ai đâu mà dỗ dành cho hai đứa?
Stéphanette mỉm cười nhìn tôi, lệ chưa ráo mắt: — Mục tử, anh đưa tôi về nhé?
— Không được đâu. Tôi đi thì bỏ đàn cừu lại cho ai? Vả lại, đi đêm trong rừng, lỡ lạc lối thì nguy lắm. Lại còn thác lũ nữa, lỡ chân một tí là toi mạng ngay.
Nghĩ đến sự lo ngại của người nhà và sự phải ở trọn đêm trên đỉnh non cao, Stéphanette sợ sệt, sụt sịt muốn khóc nữa. Tôi tìm cách dỗ dành: — Tháng bảy, đêm rất ngắn, cô chủ à…
Tôi dẫn nàng đến cửa hang đá, nhóm ngọn lửa, cho nàng sưởi ấm và hơ bộ lễ phục đẫm ướt. Tôi đem cho nàng nào sữa, nào phô mát, nàng khẽ đẩy nhẹ tay tôi, lắc đầu. Dưới ánh lửa hồng, mắt nàng long lanh ngấn lệ chứng tỏ nàng vẫn khóc tự nãy giờ. Tôi bùi ngùi, muốn khóc òa theo. Nể lời tôi lắm, nàng mới chịu uống ít sữa nhưng không chịu ăn. Chúng tôi ngồi yên lặng bên nhau, không biết được bao lâu.
Rồi đêm đến. Ngàn sao lấp lánh trên nền trời đen. Tôi vào ổ rơm, lấy tấm da cừu mới tinh trải trên thảm cỏ cho nàng nằm. Tôi mời nàng vào. Có lẽ do thói quen khi còn ở trong gia đình, nàng hồn nhiên níu vai tôi, chìa má cho tôi hôn và chúc tôi ngon giấc.
Tôi lảo đảo như người say rượu. Sơn Thần hãy chứng minh cho lòng tôi. Mặc dù tôi yêu nàng tha thiết, mặc dù lửa tình đang bốc cháy trong lòng, tôi không hề có chút ẩn ý hay tà tâm. Tôi chỉ thấy sung sướng và hãnh diện được che chở người mình yêu trong một đêm lỡ bước.
Bên chỗ nàng nằm, mấy con cừu non ngơ ngác nhìn nàng. Chúng làm sao biết được đây là nữ tiểu chủ của chúng? Riêng tôi, nhìn đàn cừu, tôi bỗng có một ý tưởng ngộ nghĩnh. Tôi tưởng tượng cô Stéphanette là một con chiên quý giá nhất, đẹp đẽ nhất và trong trắng nhất mà chủ nhân đã giao phó cho tôi bảo vệ một đêm thôi.
Tôi ngồi nhìn ngọn lửa hồng nhảy múa trong màn đêm… Trên đầu tôi, ngàn sao mở hội. Ngàn sao như đám hơi nước, lóng lánh như kim cương. Gió quét sạch mây đen. Bầu trời đầy sao, bao la như tình kẻ chăn cừu.
Có tiếng chân nhè nhẹ đến gần tôi. Tôi ngoảnh đầu lại. Thình lình cánh liếp giở lên và cô Stéphanette hiện ra. Nàng bảo rằng nàng không thể ngủ được vì mấy con thú cứ cựa mình sột soạt hoặc be be từng hồi. Vả lại, trong ổ rơm hơi nóng, nàng thích ra ngoài cho mát.
Tôi thêm vài que củi. Ngọn lửa cháy bùng lên, nhảy múa chập chờn. Stéphanette ngồi xuống cạnh tôi, ghé sát vào người tôi. Thỉnh thoảng, nàng quay lại nhìn tôi và cả hai cùng cười vớ vẩn.
Đêm càng khuya, sương xuống nhiều. Sợ nàng lạnh, tôi lấy miếng da cừu của tôi choàng lên vai nàng rồi dùng một que củi khều cho ngọn lửa cao lên. Chúng tôi ngồi bên nhau, im lặng.
Bạn ơi! Có khi nào bạn thức ngoài trời, giữa một đêm sao sáng?
Những đêm ấy, bạn sẽ thấy trong lúc chúng ta ngủ, một thế giới huyền bí đang sống dậy trong cảnh cô đơn. Những ngọn lửa nhỏ lập lòe khắp đó đây, những vị Sơn Thần tự do đi lại. Lại có những tiếng động nhỏ nhỏ đến không thể nghe nhưng khiến cho ta có cảm giác như nghe cây cỏ đâm chồi, ngàn hoa nảy lộc. Ngày là đời sống của muôn người, đêm là đời sống của vạn vật. Nếu ta không quen với thế giới huyền bí đó, ta sẽ mất cả sự bình tĩnh và đâm ra sợ sệt.
Bỗng có tiếng cành khô gãy kêu răng rắc và tiếng hú lanh lảnh từ rừng sâu vang lại. Cô Stéphanette hoảng sợ, ôm chầm lấy tôi. Tôi dịu dàng đón nàng trong vòng tay.
Một vì sao xẹt ngang đầu chúng tôi. Tôi vội vàng làm dấu thánh giá.
Stéphanette cũng bắt chước làm theo, mặt lộ vẻ nhớn nhác, sợ hãi. Nàng lại nép sát vào người tôi. — Gì thế hả anh? — Một linh hồn vừa lìa khỏi xác để lên Thiên Đàng. — Ghê quá! Anh có sợ không?
Tôi mỉm cười, lắc đầu. Đôi mắt thiếu nữ sáng lên. Nàng thì thầm qua hơi thở dồn dập: — Mục tử à, có ma hay không, hở anh?
Tôi muốn trấn tĩnh nàng nhưng vô tình làm cho nàng thêm sợ: — Có lẽ không có ma. Đêm nào tôi cũng thức canh chừng đàn cừu mà nào có thấy ma đâu. Nhưng nếu có Thần Núi, Thần Sông, thì chắc có quỷ. Nếu không có quỷ thì có ông thần để làm gì chớ?
Stéphanette ngoan ngoãn như một con chiên, gật đầu tỏ vẻ đồng ý với luận điệu ngây ngô của tôi. Nàng ngước mắt lên không, có vẻ trầm mặc.
Đột nhiên nàng hỏi:
— Mục tử này, có phải các anh đều là phù thủy cả không? Anh có biết pháp thuật không? Anh cứ nói thật đi, tôi không sợ đâu.
Tôi bật cười, ôm chặt nàng trong vòng tay: — Không, cô à. Cũng như những người dưới đồng bằng, chúng tôi nào biết pháp thuật gì đâu. Ở đây, trên đỉnh non cao, chúng tôi sống gần với các vì sao, nên chúng tôi thấy rõ hơn mọi việc ở trên trời. Kìa, sao Thánh Giam…
Stéphanette tựa mạnh vào tôi, đôi mắt nàng vẫn nhìn lên không, đôi mắt nàng dưới ngàn sao chỉ còn là hai chấm đen: — Ờ nhiều quá! Đẹp quá! Ở dưới ấy, không bao giờ tôi thấy được nhiều sao như vậy.
— Đây này, ngay trên đầu chúng ta, vệt sáng rộng và kéo dài, đó là con đường của Thánh Jacques (Ngân hà). Đường đó đi từ Pháp sang Tây Ban Nha. Thuở xưa, Thánh Jacques vẽ con đường đó để chỉ lối cho Charlemagne đem binh chinh phạt quân Ả Rập. Kia là “chiếc xe linh hồn” với bốn cái trục sáng. Cô có thấy những vì sao bao bọc quanh chiếc xe chăng? Đó là những linh hồn mà Thượng Đế không chịu rước. Xuống thấp kia là sao Bắc đẩu trông giống như cái bánh lái. Sao này hướng dẫn dân chài ra khơi đánh cá.
— Lạ quá! Anh kể tiếp cho tôi nghe đi.
— Còn nữa. Nghiêng nghiêng trên đỉnh đầu chúng ta, trông sáng rực như bó đuốc đang cháy, đó là sao Thiên Lang. Nó là ngọn đuốc của các vị tinh tú. Người ta kể một sự tích như vầy: một đêm Sao Thiên Lang cùng Sao Lạp Hộ và Sao Kim Ngưu được mời đi ăn đám cưới. Sao Kim Ngưu háu ăn hơn hết vội vã đi trước, cho nên nó lên cao nhất. Sao Lạp Hộ lật đật chạy theo gần kịp, chỉ có Sao Thiên Lang vì lười biếng bị rơi lại sau cùng. Hắn ta nổi giận, lấy gậy phang vào đầu Sao Lạp Hộ, vì vậy mà Sao Lạp Hộ cũng có tên là “Cây gậy của Thiên Lang.”
Stéphanette ngây thơ hỏi: — Ngôi sao mà cũng có đám cưới, cũng lấy nhau như mình à? — Ừ, sao cũng lấy nhau như chúng mình lấy nhau vậy.
Này, trông theo tay tôi, vì sao sáng nhất, đẹp nhất là sao của chúng tôi đấy: Sao Mục Đồng. Nó chiếu sáng khi rạng đông, lúc chúng tôi mở chuồng đuổi đàn cừu non đi ăn; nó chiếu sáng khi về chiều, lúc chúng tôi đuổi đàn cừu về chuồng. — Không, nàng Maguelonne đấy mà. — Đúng
thế. Sao Mục Đồng cũng gọi là sao Maguelonne (tức Sao Hôm). Cô Maguelonne đẹp tuyệt trần sánh duyên cùng chàng Saturne (Thổ Tinh), bảy năm hai kẻ yêu nhau mới được gặp nhau một lần… — Tội nghiệp họ quá! Tại sao bảy năm họ mới được gặp nhau, hả anh? — Saturne là một
chàng mục tử ở xứ Provence này. Chàng nghèo như tôi vậy, còn nàng Maguelonne thì giàu có như…
Tôi định kể tiếp câu chuyện tình bi đát của hai vì sao yêu nhau, chờ nhau, chờ suốt bảy năm, nhưng bỗng có cái gì êm ái đè nhẹ trên vai tôi. Thì ra cô nàng đã thiu thiu giấc mơ, đầu ngả vào tôi, giải băng và mái tóc nàng phất phơ trước gió. Mặc dầu nằm trong cánh tay tôi nhưng có lẽ hồn nàng đã về đồng bằng hay phiêu du trong mộng đẹp.
Ngực nàng lên xuống đều đều, hơi thở nàng thơm như sữa, hơi ấm trong người nàng truyền sang tôi. Lòng tôi rộn rực, đắm đuối mối tình đầu…
Stéphanette, tôi yêu nàng! Tôi muốn hôn đôi mắt đẹp đang khép lại, tôi muốn hôn đôi má đào mơn mởn thơm mùi sữa, tôi muốn hôn đôi môi ngọt ngào mọng đỏ đang kề gần môi tôi. Có lúc, cầm lòng không đặng, tôi suýt bộc lộ tình yêu tha thiết, nồng cháy của mình.
Trên đầu tôi, ngàn sao vẫn rực rỡ. Ngọn lửa tàn dần rồi tắt hẳn.
Tôi bỗng có ý tưởng lạ kỳ và ngộ nghĩnh. Tôi mường tượng như nàng là một vì sao lạc đường rơi xuống đây, dựa vào vai tôi mà mơ một giấc mơ tiên giới…
Đêm đen thăm thẳm nhưng tâm tình tôi dần dần sáng đẹp. Ngàn sao lũ lượt đi về chân trời như đàn cừu ngoan ngoãn kéo nhau về cánh đồng xa. Màn sương phủ kín như lớp bụi mù. Tôi ngồi lặng im, bất động, sợ một cử động nhỏ sẽ làm cho người mình yêu mất giấc ngủ ngon, cho đến lúc các vì sao mờ dần trong cánh đêm về sáng, nhường bước cho bình minh
quang đãng trở về…
Similar articles: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/sang-tac/truyen-ngan/
________________________________
Thẩm Thệ Hà(1923-2009), tên thật là Tạ Thành Kỉnh, người huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Là con ông Tạ Thành Tàu và bà Nguyễn Thị Tám, thuộc gia đình trung lưu.
Học tiểu học tại quê nhà, trung học tại Sài Gòn, đỗ Tú Tài Pháp. Tham gia Cách mạng từ 1945 trong ban Điệp báo Sài Gòn. Cùng nhà văn Vũ Anh Khanh (1926-1956) mở nhà Xuất bản Tân Việt Nam. Từ 1952, dạy Việt văn tại nhiều tư thục lớn ở Sài Gòn: Nguyễn Văn Khuê, Chi Lăng, Đức Trí, Trần Hưng Đạo… Năm 1966, cùng Tô Nguyệt Đình (1920-1988) còn gọi là Tiêu Kim Thủy, thành lập nhà Xuất bản Lá Dâu (1966) và hoạt động trong ban Văn-Báo-Giáo Sài Gòn. Cả hai nhà xuất bản đã in được nhiều tác phẩm mang nội dung đấu tranh cách mạng.
Trước 1975, Thẩm Thệ Hà viết bài và biên tập cho các báo và tạp chí:
Văn hóa, Việt Bút, Tiếng chuông, Dân tộc, Nhân loại, Tiểu thuyết thứ bảy… , phụ trách mục “Phê bình sách mới’’ và Những áng thơ hay trên tạp chí Phổ thông (1958-1965) của Nguyễn Vỹ (1912-1971).

