KHÔI AN
Tháng Một, Nàng Xuân đã lấp ló bên khung cửa với ánh nắng trong trẻo và những búp non mũm mĩm.
Trong những khu mua sắm của người Việt, Tết Bính Ngọ cũng đang đến bằng rực rỡ hoa trái, bánh mứt và du dương âm nhạc. Âm điệu của Ly Rượu Mừng, Xuân Yêu Thương, Xuân Họp Mặt… vui tươi, rộn rã như trẻ con đón Tết, nhưng có lẽ niềm vui của người Việt mất quê hương chẳng bao giờ trọn vẹn nên những Xuân Này Con Không Về, Đồn Vắng Chiều Xuân, Phiên Gác Đêm Xuân, Tôi Chưa Có Mùa Xuân… – viết về người lính Cộng Hòa từ hơn năm mươi năm trước – vẫn vang lên mỗi khi Xuân trở lại.
Nghe thì quen thuộc, nhưng giờ còn mấy ai lắng lòng để cảm được tâm tình của người lính chiến ngày xưa?
“Đón Giao Thừa một phiên gác đêm, Chào Xuân đến súng xa vang rền, Xác hoa tàn rơi trên báng súng…” (1)
Ngày đó, những người lính – đầy sức sống và còn rất trẻ – đã hẹn “Con biết không về mẹ chờ em trông, Nhưng nếu con về bạn bè thương mong, Bao lứa trai cùng chào Xuân chiến trường… Mẹ thương con xin đợi ngày mai.” (2)
Thế mà, năm mươi năm sau khi chiến tranh chấm dứt, các thương binh VNCH vẫn chưa từng thấy trọn vẹn hạnh phúc của mùa Xuân. Hố ngăn cách giữa những người được hưởng quyền làm giàu và những người khốn khó ngày càng rộng mênh mông.
“Khi đất nước chia đôi, Xuân đi làm sao tới?” (3). Và, những người lính ngày xưa – nay khuyết tật và già yếu – vẫn nằm ở tận đáy sâu thăm thẳm của vực phân chia.
**
Họ sống lay lắt trong buồn tủi, cô đơn. Họ từng mòn mỏi đợi chờ một phép lạ đem họ ra khỏi cảnh khốn cùng, nhưng nay điều đó đã thành vô vọng.
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
làm thân cây cỏ gục ven bờ
chợt nghe từ đáy hồn thương tích
vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa (4)
Ngoài gia đình, thường cũng nghèo khó, họ chỉ có một nơi duy nhất để trông mong chút giúp đỡ, đó là cộng đồng người Việt tỵ nạn ở hải ngoại.
Nhưng, có lẽ lòng tốt của con người cũng đã phai nhạt theo năm tháng. Cũng bởi vì những lần “giậu đổ, bìm leo” từ cả hai phía, người tổ chức và người nhận. Cho nên, ngày nay, ngay cả một số cựu quân nhân VNCH cũng nhún vai, đáp lại những lần quyên góp bằng “nào biết tiền đến tay ai…”
Rất may, sự nghi ngại đó được giải đáp phần nào bằng những hội kết nối trực tiếp người bảo trợ với thương binh, chẳng hạn như trang Mỗi Gia Đình Một Thương Phế Binh ở Úc Châu hay Báo Trẻ Online. Bên cạnh đó, còn có những hội ái hữu của các binh chủng, nơi vẫn lưu giữ hồ sơ chính xác, cập nhật về các đồng đội kém may mắn, và công bố chi thu minh bạch hàng năm.
Tôi may mắn quen biết nhiều cựu sĩ quan trong Quân Lực VNCH. Thông qua họ, tôi đã có dịp tham gia chương trình quà Tết của Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến VNCH, Hội Ái Hữu Biệt Động Quân, và Gia Đình Mũ Đỏ Hoa Kỳ gửi các thương binh ở Việt Nam.
Mỗi năm, khi nhìn danh sách những người được nhận quà do ban chấp hành của các hội gửi đến, tôi cảm thấy một chút an ủi cho những người kém may mắn và cho chính lương tâm của mình.
2025 là một mốc lịch sử lớn khiến nhiều người bâng khuâng nghĩ đến những mất, còn sau năm mươi năm đằng đẵng. Với sự góp sức của gia đình và bạn bè, chúng tôi đã gom góp được nhiều quà cho thương binh hơn, như lời nhắn nhủ rằng vẫn có những người không quên họ.
Nhờ sự giúp đỡ tận tình của Gia Đình Mũ Đỏ Hoa Kỳ (GĐMĐ), tất cả số tiền chúng tôi thu góp đã được trao tận tay ba mươi ba thương phế binh của nhiều sư đoàn và cả địa phương quân. GĐMĐ đã gửi lại biên nhận để trừ thuế cùng với danh sách những người đã nhận quà với đầy đủ chi tiết, nhiều người còn kèm cả số quân.
Số quân!
Tôi cứ tưởng trong những ngày khủng hoảng, tăm tối nhất sau 30 tháng 4, 1975, khi mà một quyển sách cũng có thể trở thành lý do buộc tội, thì những gì liên quan đến quân đội VNCH đã bị đốt sạch. Vậy các số quân này là do những người thương binh còn dấu giấy tờ hay họ vẫn ghi nhớ trong đầu suốt nửa thế kỷ qua? Có phải họ vẫn nuôi hy vọng những bằng chứng này sẽ cứu giúp họ khi ngặt nghèo? Vậy trong năm 2025, khi những cay đắng, thiệt thòi, tủi nhục trở về rõ nét, điều gì có thể an ủi họ, để cho họ thấy rằng những chắt chiu, trông đợi của họ không là vô nghĩa?
Sau nhiều phân vân, cuối cùng tôi chọn đi về Việt Nam để thăm một nhà dưỡng lão ở Cần Giờ nơi các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế cưu mang một số thương binh VNCH không nơi nương tựa. Dù chỉ nhìn thấy nơi này một lần trên YouTube, tôi tin mình có thể hỏi thăm và tìm được.
**
Sài Gòn nóng nực, náo nhiệt và quá tải, nhưng vẫn là nơi cho cơ hội, vì thế dân nghèo cả nước đổ về kiếm sống. Người nghèo có được một nơi trú ngụ ở Sài Gòn là một điều khó khăn. Vì thế, tôi đã rất mừng khi thấy trong danh sách hồi báo nhận quà có một vài thương binh vẫn còn trụ lại được ở thành phố này. Lựa người có vẻ ở gần tôi nhất, tôi bấm số điện thoại…
Người trả lời là anh S, thương binh của Sư Đoàn Nhảy Dù. Khi tôi gọi, anh ấy đang chống nạng đi bán vé số ở Quận 10. Tôi hỏi thăm anh về nhà dưỡng lão ở Cần Giờ, anh S cho biết anh đã từng ở đó, nhưng chỗ đó hiện giờ không còn là nơi nương thân cho thương binh VNCH. Từ ngày nhà cầm quyền đến quản lý, các Cha đã bị đổi đi xa, các thương binh tan tác, người lết về quê bám víu họ hàng, kẻ lê về Sài Gòn kiếm ăn qua ngày trên khắp các nẻo đường.
Tôi hỏi anh S có cách nào cho tôi gặp vài anh từng sống ở Cần Giờ thì anh S nói rằng có vài người vẫn còn liên lạc với nhau. Dù đa số đang sống ở ngoại thành, anh S sẽ gọi họ đến. Tôi ngập ngừng, “Ở ngoại thành đi vào thành phố xa xôi quá. Các anh lại di chuyển khó khăn, vất vả cho các anh quá…” Anh S mau mắn nói, “Không sao, cô đừng ngại! Có người còn quan tâm, chia sẻ, các anh ấy mừng lắm! Gặp nhau trò chuyện ấm lòng lắm, cô ơi.”
Tôi nhờ anh S tìm một quán ăn, anh trầm giọng, “Ra quán người ta nhìn ngó, không thoải mái đâu. Thôi, cứ ghé phòng trọ của tôi, tuy chật chội nhưng mấy anh em được ngồi bên nhau là vui rồi.”
Thế là chúng tôi hẹn nhau, 10 giờ sáng thứ Năm.
**
Chúng tôi đến nơi hẹn rất đúng giờ, nhưng các anh đã có mặt từ sớm. Căn phòng nhỏ xíu, cửa mở rộng để lấy chỗ cho hai chiếc ghế thấp dành cho chúng tôi.
Anh S và anh B, hai thương binh Nhảy Dù, ngồi trên chiếc giường nhỏ kê sát vách ngăn bằng gỗ. Ngồi bệt trên sàn, dựa lưng vào tường là anh Th thuộc Đại Đội Trinh Sát của Sư Đoàn 1 Bộ Binh, anh A thuộc Biệt Động Quân, và anh M thuộc Pháo Binh.
Sau lời giới thiệu, anh Th chào mừng chúng tôi bằng một bài nhạc lính. Giọng anh vẫn còn khỏe nhưng buồn; anh làm tôi nhớ lại tiếng hát thê thiết của những thương binh hát dạo ở các bến xe, quán chợ, với những bài hát não lòng đã từng ám ảnh tôi từ ngày còn bé.
Rồi các anh kể cho tôi nghe những điều mà đã lâu họ không chia sẻ với ai…
Đa số thương binh VNCH còn ở tại Việt Nam là lính trơn hoặc hạ sĩ quan. Đó là những người xông lên đầu tiên sau tiếng hô “Xung phong” nhưng được nhắc đến cuối cùng khi loan tin chiến thắng.
Tuy nhiên, khi nhắc lại những tháng ngày băng rừng, lội suối, tử thần rít ngang tai, họ vẫn nghĩ rằng đó là những ngày vui. Thời gian đó, họ chịu nhiều gian khổ nhưng được tự hào, hy vọng. Sau khi bị thương tật rồi miền Nam sụp đổ, tất cả chỉ còn là tủi nhục và đau đớn. Một số người có gia đình làm nơi bám víu, nhưng rất nhiều người không có hoặc không muốn làm phiền người thân, đành sống vất vưởng bên lề xã hội.
Thật ra, trong năm mươi năm qua, họ cũng đã từng thấy lấp lóe chút hy vọng được bình an.
Bắt đầu năm 2010, Hòa Thượng Thích Không Tánh ở chùa Liên Trì, Quận 2 đã khởi đầu chương trình Tri Ân Thương Phế Binh VNCH. Sau bao năm bị lãng quên, sự quan tâm của Hòa Thượng đã như một dòng nước mát tưới lên những mảnh đời cằn cỗi. Các thương binh bảo nhau tìm đến, ngày càng đông. Năm 2013, Hòa Thượng Thích Không Tánh đã trao công tác này cho các linh mục ở Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng. Các Cha đã cố gắng hết sức để thực hiện các chương trình giúp đỡ cần thiết như chữa bệnh, phát thuốc, và làm chân tay giả cho các thương binh ở quanh Sài Gòn, cũng như giúp họ tìm cách mưu sinh.
Tiếng lành đồn xa, số thương binh đến với chương trình mau chóng tăng cao. Năm 2017, tổng số lên đến gần năm ngàn người. Mỗi năm, vào dịp cận Tết các linh mục còn tổ chức họp mặt. Thương binh trên khắp các miền đất nước đã được tài trợ lộ phí để về hội ngộ. Anh em gặp nhau mừng mừng, tủi tủi, ăn uống, ca hát, hàn huyên, khi ra về mỗi người còn được chút tiền sắm Tết.
Trong thời gian này, Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng đã xây được hai căn nhà ở khu Lộc Hưng, Phường 6, Quận Tân Bình. Trước năm 1954, khu đất rộng khoảng 48,000 mét vuông này thuộc quyền sở hữu của Hội Đồng Quản Trị Công Giáo Sài Gòn (hiện nay là Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn). Việc sở hữu đất có tài liệu rõ ràng và được chính quyền thành phố lúc đó thừa nhận.
Năm 1954, khi nhiều tín đồ Thiên Chúa Giáo từ miền Bắc di cư vào Nam, Hội Đồng Quản Trị Công Giáo Sài Gòn đã cho vài chục gia đình con chiên cất nhà sinh sống tại vùng Lộc Hưng dưới hình thức cho thuê đất hoặc ở nhờ.
Người dân ở đây phần lớn kiếm sống bằng nghề trồng rau, tuy vất vả nhưng họ rất cần cù và ngoan đạo. Qua ba thế hệ, mảnh đất hoang đầy cỏ dại ngày trước đã trở thành một xóm đạo khang trang, có cả một nhà thờ, một đài Đài Đức Mẹ và nhà nguyện. Khu này được gọi với tên mới là Vườn Rau Lộc Hưng.
Sau năm 1975, người dân ở Vườn Rau Lộc Hưng vẫn đóng thuế đầy đủ cho nhà cầm quyền, nhưng đến năm 1999, các cơ quan nhà nước nói rằng họ không có phép sử dụng đất và không nhận tiền thuế của họ nữa. Người dân đã miệt mài khiếu nại từ cấp địa phương đến trung ương nhưng chẳng nhận được hồi đáp rõ ràng. Họ cứ sống bấp bênh trên mảnh đất do chính tay họ khai phá, và trông mong vào sự công bằng của chính quyền.
Hai căn nhà do Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng xây lên tại Vườn Rau Lộc Hưng được đặt tên là Nhà Đơn Thân; đó là nơi trú ngụ của mười tám thương binh không có gia đình. Đối với hầu hết các anh, đây là lần đầu tiên trong mấy chục năm, họ có một nơi để gọi là “nhà.” Ban ngày họ vẫn bôn ba kiếm sống trên khắp nẻo đường, nhưng ban đêm họ có một nơi để trở về. Ở đó, họ có được bữa cơm nóng, gặp được những người mà họ có thể chia sẻ buồn vui. Và họ cảm thấy bình an.
Nhưng, chỉ vài ngày trước Tết năm 2019, công an đột ngột kéo đến bao vây khu Vườn Rau Lộc Hưng. Người dân chỉ kịp quơ vội vài món quý giá trước khi sáu xe ủi đất đến san bằng hơn năm trăm căn nhà, trong đó có cả hai ngôi Nhà Đơn Thân.
Các thương binh bị xua ra khỏi nhà trong vài phút, nhiều người không kịp đem theo thứ gì, ngay cả chiếc chân giả hay cặp nạng. Vài người lê được đến Nhà Thờ Chúa Cứu Thế, số còn lại phải qua đêm ngay trên lề đường hay dưới hàng hiên của những người dân có lòng trắc ẩn.
Thế là, ở tuổi bảy, tám mươi, những mảnh đời khốn khổ lại tan tác. Khi dịch Covid bùng phát ờ Sài Gòn, rất nhiều người đã không qua khỏi. Một số người sống sót phải về quê nương tựa ở họ hàng, còn những người không có nơi bám víu thì theo các Cha về nhà dưỡng lão ở Cồn Dầu. Khi cơ sở Cồn Dầu cũng không còn là nơi dung thân, các linh mục phải gửi các anh về vài nhà trọ mà chủ là các con chiên trong họ đạo. Lúc đầu các Cha còn giúp tiền thuê phòng hàng tháng, nhưng sau đó quỹ cũng cạn. Mấy năm gần đây, các thương binh phải tự xoay sở, vật lộn với mưa nắng từng ngày.
**
Trong năm người thương binh tôi gặp được ngày hôm đó, anh Th có tuổi đời nhỏ nhất nhưng hoàn cảnh bi đát nhất.
Năm 1956, anh chào đời ở Bệnh Viện Trung Ương Huế, và mẹ anh qua đời ngay sau đó. Đứa bé mồ côi ấy được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi và đặt tên là Lê Thái Th. Sau này, anh nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai.
Dù được các soeur thương yêu và cố gắng nuôi dạy, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Gia Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Sư Đoàn 1.
Thời gian trong quân ngũ là những năm tháng đầy tự hào đối với anh Th. Nhưng chưa được bao lâu thì quân đội VNCH cạn vũ khí và rơi vào tình trạng ngặt nghèo. Tháng Ba, 1975, Sư Đoàn 1 đang ở miền Trung, bị Cộng quân tấn công ác liệt. Họ phải vừa đánh vừa rút, nhưng đi đến đâu dân chúng cũng ùn ùn chạy theo nên cuộc lui quân trở nên rất khó khăn.
Ngày 23 tháng 3, 1975, khi đoàn quân về đến quận Hương Trà, Huế, anh Th bị trúng mìn rất nặng. Đồng đội vừa chống cự với mưa pháo, vừa tải thương, khi về đến Thuận An thì mọi người đều kiệt sức. Các chiến sĩ vội đưa những người bị thương vào bệnh viện rồi rút ngay.
Lúc đó, đạn pháo vẫn nã xối xả vào thành phố nhỏ xíu này; các nhân viên y tế đã tản cư hết, bệnh viện không còn ai ngoài những thân xác bất động, đầy máu của các thương binh. Anh Th nằm mê man suốt một ngày. Mãi đến sáng hôm sau, mấy bà soeur ở nhà thờ Thuận An mới lén chạy ra, kéo các anh vào trong nhà thờ, dùng nước sôi rửa vết thương và băng bó tạm. Một lần nữa, anh Th sống sót nhờ những bàn tay dịu dàng của các soeur.
Ngày 26 tháng 3, 1975, Huế mất. Sau đó, “chính phủ lâm thời” chuyển tất cả thương binh Quốc, Cộng về trạm xá ở An Dương. Lúc này, vết thương đã quá nặng, các bác sĩ đành cưa hai chân anh. Không có thuốc mê, khi lưỡi cưa sống đi qua chân, anh Th hét lên rồi không biết gì nữa. Khi tỉnh lại, anh thấy người chòng chành, trời đất tối sầm. Cả ngày sau anh mới nhận thức được rằng mình đã bị cụt cả hai chân, mất bốn ngón tay, và mù mắt phải. Lúc đó, anh mới mười chín tuổi!
Sau mười ngày ở trạm xá An Dương, anh Th được chuyển về Bệnh Viện Trung Ương Huế. Anh nằm ở đó khoảng một tháng, không biết gì về tình hình chiến sự bên ngoài. Trong suốt thời gian đó, “ủy ban quân quản” giữ lại nhiều bác sĩ và nhân viên y tế cũ để làm việc cho họ nhưng thuốc men còn lại chỉ dành riêng cho thương binh Bắc Việt. Không trụ sinh, không cồn, không thuốc bôi nên vết thương ở chân của anh Th cứ lở loét dai dẳng mãi.
Ngày 1 tháng 5, 1975, anh Th bị quăng ra khỏi bệnh viện. Choáng váng ngồi trên vỉa hè, ngước lên thấy cờ đỏ rợp trời, cúi xuống nhìn máu thấm ướt băng, anh Th nghĩ lần này mình không còn hy vọng sống.
Lê lết trên đường với những vết thương chưa kín miệng, anh Th qua khỏi là nhờ những củ khoai, bát cháo, và chút bông băng, thuốc sát trùng của bà con trong chợ Đông Ba. Thỉnh thoảng anh có gặp lại vài đồng đội, cả Đại Đội Trưởng cũ. Người vã mồ hôi trên chiếc xích lô, người cắm mặt đẩy xe thồ, kẻ mệt mỏi bên thùng thuốc lá, gặp nhau hỏi han, tâm sự vài câu, dúi cho mấy đồng lẻ, rồi vội vã chia tay để tránh sự hạch hỏi của công an và những đôi mắt cú vọ của đám người theo gió trở cờ.
Đầu năm 1976, chính quyền mở cuộc truy quét ăn xin, anh Th bị bắt đem về Lao Thừa Phủ ở Huế. Sau 6 tháng, anh bị đưa về trại Hoàng Cát Tê 2 ở Cam Lộ, Quảng Trị, nơi giam vài ngàn người, bao gồm tù hình sự, tù chính trị, và cả những người lang thang không nhà.
Tại đây, mỗi phòng có tới mấy chục người nằm san sát trên những mảnh chiếu cói; bệnh tật lây lan, đói khát triền miên nên rất nhiều người đã chết. Dù tật nguyền nhưng sức trẻ đã giúp anh Th cầm cự suốt ba năm. Sau khi được thả ra, không có một người thân nào trên đời, anh Th phải lê về Đà Nẵng rồi lại bị bắt vào trại lần thứ hai. Ra trại một thời gian ngắn, anh Th bị bắt lần thứ ba khi đang lang thang ở Quy Nhơn. Tổng cộng anh đã trải qua chín năm trong ba trại tập trung. Cuối cùng, anh đã học được cách trốn về các vùng quê hẻo lánh để tránh những cuộc bố ráp trước các ngày lễ lớn.
Rồi anh trôi dạt về Sài Gòn. Những ngày đầu ở thành phố này, anh Th sống bằng nghề hát dạo. Buộc hai miếng vỏ xe quanh đầu gối làm dép, anh Th đã cùng hai người bạn khuyết tật khác đi khắp bến xe, bãi chợ, đem tiếng đàn hát đổi rau, cháo qua ngày.
Vài năm sau, khi tiếng ca đã khàn, anh Th chuyển qua nghề bán vé số được khoảng chục năm, rồi xoay sang bán đồ chơi trẻ em, lây lất kiếm sống trên hè phố cho đến nay.
***
Trong năm người tôi gặp hôm đó, ngoài anh Th, anh M cũng bị thương rất nặng, mất hết xương hàm dưới và hai tay co rút. Anh S và anh B đều bị mất một chân, anh A thì chỉ còn một cánh tay. Các anh đã từng muốn nguôi ngoai, từng mong hòa hợp hòa giải, nhưng ngày bị đẩy ra khỏi Nhà Đơn Thân với hai bàn tay trắng và mất cả cái chân giả, anh S đã phải thốt lên, “Chúng tôi đã ngoài bảy mươi, đâu còn sống được bao lâu mà họ vẫn truy cùng, diệt tận!”
Hiện nay, hầu hết các anh sống bằng nghề bán vé số. Từ ngày các Cha của Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng bị chuyển đi xa, các anh không còn nhận được chút trợ giúp nào. Vài năm nay chỉ hai anh thuộc Nhảy Dù có nhận được quà Tết, ba anh kia không có được trợ giúp gì từ hải ngoại. Ngày nắng cũng như ngày mưa, khi khỏe cũng như khi các vết thương gây nhức buốt, các anh tự vật lộn với đời bằng chút sức tàn.
Câu chuyện của các anh làm không khí trong phòng buồn hẳn. Trong một lúc, tôi chỉ nghe thấy tiếng xè xè của chiếc quạt máy nhỏ ở góc phòng và tiếng lạo xạo của chuột chạy trên các vách ngăn…
Tôi vội nói vài câu vui và hát tặng các anh một bài chắc lâu lắm rồi các anh không nghe. “Có những đêm dài, anh ngồi nhìn hỏa châu rơi. Nghe vùng tâm tư cháy đỏ xoay ngang lưng trời…” (5)
Rồi tôi nói với các anh rằng chúng tôi — lớp “em bé” thời chiến tranh Việt Nam, sau này có cơ hội học hành, thành tựu ở nước ngoài — là những người đã đi qua cuộc chiến một cách may mắn nhất. Sự may mắn đó một phần là nhờ sự hy sinh của các anh. Hôm nay tôi trở lại để nói lời cảm ơn từ đáy lòng, để các anh biết rằng có những đứa trẻ năm xưa vẫn nhớ đến các anh, vẫn muốn đáp lại câu hát “Đến với tôi, hãy đến với tôi, đừng yêu lính bằng lời…”(6)
Trước khi chia tay, tôi hứa sẽ tiếp tục giúp các anh.
**
Ngày tôi đi, một thương binh mới nghe tin, gọi tới xin giúp đỡ. Vì không còn thì giờ, chúng tôi gọi cho một anh bạn – cũng là người miền Nam, để nhờ chuyển chút tiền tặng anh ấy. Người bạn từ chối lập tức với lý do ngại bị liên lụy nếu người thương binh có làm gì phạm pháp trong tương lai. “Đói ăn vụng, túng làm càn, ai biết đâu những người ấy…”, lời nói của anh bạn văng vẳng mãi bên tai tôi trong suốt chuyến về.
Tôi đã chứng kiến sự nghèo khó của các thương binh VNCH, nhưng — đau lòng hơn — là sự cô đơn của họ. Tôi đã nghe họ tự xưng là “những người nghèo không ai muốn đụng tới.” Sự hắt hủi của những người phía bên kia chiến tuyến làm họ khổ sở, điêu đứng, nhưng sự lãng quên và chối bỏ của những người đến từ vùng đất họ đã hy sinh thân thể để bảo vệ mới thật là cay đắng, ê chề.
Năm 1975, khi ngồi trước cửa bệnh viện với đôi chân còn tươm máu, anh Th đã hy vọng “gió đi rồi gió lại về.” Anh đã mơ đến những thay đổi để cho anh không còn là một thương phế binh vô gia cư, thuộc tầng lớp tận cùng trong xã hội. Anh đã nuôi mộng ước đó trong hàng chục năm trời. Đến nay, năm mươi năm đã qua, tuổi già đã đến, niềm hy vọng xưa chỉ còn là nỗi chua chát, thỉnh thoảng lại nhói lên trước những tàn nhẫn của cuộc đời.
Tôi đã nhận bảo trợ dài hạn cho anh Th và anh M và thỉnh thoảng cũng tặng quà ba anh kia. Nhưng họ chỉ là vài người trong số hàng ngàn thương binh trên khắp Trung, Nam. Năm nay, sau cơn mưa lũ vào tháng 9, 2025, các thương binh ở miền Trung càng thêm khốn khó.
Họ đã từng là những người lính trẻ với ước mơ, với lời hẹn, “Đợi hai, ba năm nữa, Quê mình thôi khói lửa, Mời Xuân đến với tôi…” (3) Bây giờ, họ đã bước vào những năm cuối của cuộc đời, và người Việt hải ngoại là niềm hy vọng duy nhất để đem đến những mùa Xuân muộn cho họ.
Sau năm mươi năm, có lẽ số thương binh còn lại chỉ vài ngàn người. Nếu chúng ta có lòng, Xuân sẽ đi và sẽ tới, dù cách xa đại dương.
- Phiên Gác Đêm Xuân – Nguyễn Văn Đông
- Xuân Này Con Không Về – Trịnh Lâm Ngân
- Tôi Chưa Có Mùa Xuân – Châu Kỳ
- Thơ Xuân Đất Khách – Thanh Nam
- Những Đóm Mắt Hỏa Châu – Hàn Châu
- Kẻ Ở Miền Xa – Trúc Phương
Similar articles: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/sang-tac/ky-su-but-ky/

