Tiếng Việt “năm bờ oăn”

by Tim Bui
Tiếng Việt “năm bờ oăn”

BẮC KỲ DI CƯ

Bữa hổm, Sáu tui đang trao đổi với một ông bạn về vài sự kiện linh tinh lang tang trong nước Mỹ, bất ngờ giật mình, vì thấy ông bạn kể lại những câu chuyện một người Mỹ nói đại loại như: “Mày làm việc tệ quá! Tao đuổi mày!” Sáu tui ngơ ngác mất mấy giây.

Hóa ra người có học cũng như không có học thích phô trương cái tự hào dân tộc, bằng cách dịch nhân xưng đại danh từ là “mày” từ chữ “you,” và “tao” từ chữ “I, me.” Sáu tui thấy ớn lạnh từ ót sang tim. Không biết nói sao, bèn chạy lại nhà thầy Tư Bôn Sa, vì nghe nói thầy mới đi Việt Nam về.

Vừa hộc tốc đến nhà thầy, Sáu tui thấy một ông già tóc bạc phơ, đỉnh đầu lòi da trắng ra, đang tưới cây. Sáu tui tiến lại, ngập ngừng hỏi:

– Xin lỗi bác, có thầy Tư ở nhà không vậy?

Ông già tóc bạc phơ quay lại, mắng liền:

– Tổ cha mày, Sáu! Mày không nhận ra tao nữa sao?

Sáu tui giật mình, nhìn lại, đúng là thầy Tư Bôn Sa. Tui ú ớ hỏi:

– Ủa! Ủa! Thầy… sao tóc bạc gần hết rồi vậy? Bộ về Việt Nam bị mấy cô Ba, cô Tư, cô Năm hành hay sao?

Thầy Tư lại mắng:

– Thằng mắc dịch! Tao từng tuổi này rồi mà còn cô này, cô nọ sao?

Rồi thầy than thở:

– Súng đã gãy, gươm đã cùn. Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Tui vỗ tay:

– Đúng quá! Đúng quá! Nhưng sao đầu thầy lại bạc và sói như thế?

Thầy Tư chán nản, lắc đầu:

-Không sói, không bạc sao được khi mà thịt gà, thịt vịt, thịt heo đầy chất hóa học. Trái cây cũng bị bơm. Mít đang xanh lè, mà bơm vào một cái là hôm sau vàng khè. Sầu riêng cũng bị bơm.. Cái gì cũng bơm. Bà con ở quê ớn lạnh không dám sờ tới.. Tao ở thành phố, nên đành chấp nhận thực phẩm bơm, nên tóc bạc hết trọi.

Tui thọc lét thầy:

-Các cô cũng bơm, bơm trên, bơm dưới, sao thiên hạ vẫn thích, không ai chê!

Thầy Tư lại quở:

-Cái thằng! Đánh chết, cái nết quậy không chừa.

Tui cười hì hì. Chợt nhớ ra đề tài định hỏi, vội nói:

Thầy Tư lại thở dài, phẫn uất, nói một hơi:

– Ừa! Tao dìa nhà, nghe con trẻ nói chuyện thấy nhức cành hông. Một số thầy, cô giáo, khi nổi sùng, mắng học trò cũng “mày, tao.” Thanh niên lịch sự nói với thiếu nữ xinh đẹp cũng “mày, tao.” Điều này xảy ra tại các trường trung học Việt Nam hiện tại; nữ sinh nói chuyện với nam sinh cũng gọi nhau bằng “mày, tao.” Mày hãy tưởng tượng một chuyện tình bắt đầu như thế này: cậu thanh niên nói: “Mày ạ, tao yêu mày quá!” Cô thiếu nữ cũng trả lời: “Tao cũng yêu mày!” Người ngoài nghe được mà không cảm thấy đau bụng thì đúng là điếc dở. Thiệt là quái dị! Đúng là tiếng Việt thời xã hội chủ nghĩa, xuống hố cả nút.

Thầy ngừng lại, nhìn lên trời:

– Trong khi đó, ở Việt Nam ngày trước bảy lăm, xưng hô rất đàng hoàng, có trước có sau. Cùng là một người, một nhân vật, nhưng “tôi” có thể xưng “con” với bố mẹ, với người bạn già của bố, ông bà nội ngoại, cô, dì, chú, bác. Nếu không thân thiết lắm, chỉ xưng “cháu” thôi. Với người bạn nối khố thì ngôi thứ nhất xưng “tao,” xưng “tớ” với bạn mới quen, xưng “mình” lúc tâm sự, gỡ rối tơ lòng. Đi học thì tiểu học xưng “con” với thầy, cô giáo; lên trung học, đại học thì xưng “em.”

Với họ hàng, phong tục người Bắc gọi anh, chị của bố mẹ là “bác,” “bác trai, bác gái.” Với em của bố mẹ thì gọi bằng “dì,” “chú, thím,” “cậu, mợ,” hay “cô, chú.” Gặp người lạ trung niên thì thưa “ông, bà.” Gặp người già cả lại thưa “cụ ạ!”

Người miền Nam thì đơn giản hơn, thường gọi bạn của bố mẹ bằng “bác,” hay bằng “dì, dượng,” không gọi “cô, chú, cậu, mợ.”

Đối với hai đấng sinh thành, người Bắc hay gọi “thầy, mẹ,” “thầy, u;” một vài tỉnh lại gọi “cậu, mợ.” Có làng khác gọi “bố, đẻ,” hay “thầy, bu.” Trong Nam thì gọi “ba, má.”

Sáu tui vỗ tay:

-Thầy nói hay thiệt đa. Tui nhớ câu chuyện này: Mấy vị sồn sồn thích tán gái, hay thả dê với mấy cô tre trẻ bằng câu  hát “Đừng gọi anh bằng  chú.” Đôi khi, đụng phải cô nào thứ dữ, cô ấy có thể kính cẩn nghiêng mình: “Thưa bác trai, bác gái ở nhà có khỏe không ạ?” là coi như tịt ngòi.

Tui cười khà khà một lúc rồi ngưng lại:

– Nhưng mà, nói chuyện chữ nghĩa, văn chương, tui lại nhớ thời Việt Nam Cộng Hòa, mới thấy là “năm bờ oăn” trên thế giới.

Rồi tui kể một hơi:

– Thầy nhớ không? Tiếng Việt hay lắm lắm. Đặc biệt, có hai chữ rất âu yếm, rất thân ái, mà không dân tộc nào bắt chước được: “anh” và “em.” Mới quen nhau, còn ngượng ngùng, thì: “Thưa cô… cô biết trường Gia Long ở đâu không?” “Dạ… thưa ông… tôi không biết ạ…” Khi bắt đầu nắm tay nắm chân nhau rồi thì “anh, em” ngọt xớt. “Anh sẽ vì em làm thơ tình ái…”

– Đôi khi, thỏ thẻ với nhau, lại xưng “người ta” và “mình.” “Người ta… hổng chịu đâu! Mình có thích thì mình cứ làm đi! Người ta… nhắm mắt cho mà xem…”

Thời gian sau, khi đã chiếm được em, tặng cho em mấy vị nhi đồng rồi thì: “Mẹ nó ơi! Ra mà chùi đít cho thằng nhóc nè!” để nghe đáp lại: “Bố nó có chùi thì chùi hộ đi, tui đang bận hầu con tũn nè!” Giai đoạn từ “em” đổi sang “tui,” rồi đến khi lồng lên: “Con này thách con nào dám đụng đến chồng tao! Thử đụng vào mà xem, bà cho biết tay ngay!”

Nhân xưng đại danh từ biến hóa không lường được; mỗi giai đoạn nói lên một hoàn cảnh sống khác nhau, tình trạng sinh hoạt khác nhau, và tình cảm khác nhau. Chữ “anh, em” cũng có những quy luật bất biến của nó: dù cho người đàn ông có nhỏ tuổi hơn vợ cả chục, cũng không bao giờ gọi vợ là “chị.” Trong gia đình, ai sinh trước làm anh, chị; ai sinh sau làm em. Đến những anh, chị, em trong quan hệ con của chú, bác, cô, dì, cậu, mợ thì cứ bố mẹ làm anh, con cũng được vai vế anh, chị luôn.

Cho nên, có những trường hợp con của ông anh cả trong họ còn nhỏ tuổi nhưng cũng có em (con ông chú) lớn tuổi hơn gấp bội. Không thiếu gì trường hợp một ông già râu tóc bạc trắng cúi chào một vị trung niên: “Thưa anh ạ!” Việt Nam cảm động như thế đó!

Thầy Tư cười:

– Mày nói đúng. Còn chuyện này nữa mới thú vị. Có dân tộc nào biết làm thơ, đọc ca dao, tục ngữ nhiều như người Việt không? Có đất nước nào mà đến Tết lại có hội thơ, có thi đố thơ như ở quê ta không? Những người đặt ra các câu đối thơ lại chẳng học cao, không có bằng cấp, mà “nói” thơ cứ như giỡn chơi. Chàng thanh niên vừa bước ra, chưa tới ruộng, gặp mấy cô tát nước, là nghe những giọng thanh thanh cất lên:

“Hỡi anh đi đường cái quan.
Dừng chân đứng lại cho em than đôi lời.
Đi đâu vội thế, anh ơi?”

Nếu chàng có hứng thì đáp liền:

“Hỡi em gánh nước bên đàng.
Sao em múc ánh trăng vàng đổ đi…”

Thầy Tư gật gù, tiếp tục:

-Mày có nghe câu đố này không?

– Đố anh chi sắc hơn dao,
Chi sâu hơn bể, chi cao hơn trời?

Anh chàng đáp liền:
– Em ơi mắt sắc hơn dao,
Bụng sâu hơn bể, trán cao hơn trời.

Tui vỗ tay:

-Hay! Hay lắm. Thầy làm tui nhớ câu này:

Bà già ra chợ Cầu Đông,
Xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
“Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.”

Ha ha ha…

Thầy Tư tiếp lời:

-Nói về tình nghĩa, lòng người thì có câu:

“Sông sâu mười thước dễ đo,
Con người một thước không đo nổi lòng…

Thầy ngưng một lát rồi nói:

-Mầy nghe nè:

Đố ai đếm được lá rừng
Đố ai đếm được mấy từng trời cao
Đố ai đếm được vì sao,
Đố ai đếm được công lao mẹ già.
Đói lòng ăn hột chà là,
Để cơm cho mẹ, mẹ già yếu răng.

Tui lại vỗ tay, đến phỏng cả tay. Hai thầy, trò ngửa mặt lên trời, cười ha hả, như tràng pháo Tết mừng năm 2026.

Bắc Kỳ Di Cư

Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/bac-ky-di-cu/
__________________

Chuyện con cá

Một buổi sáng, ông Tư ra chợ mua cá. Thấy con cá còn tươi rói, ông hỏi bà bán cá:
– Cá này còn sống hả bà?

Bà kia đáp tỉnh bơ:
– Sống nhăn răng, chú ơi. Mới sáng nay nó còn bơi lội nói chuyện với tui đó.

Ông Tư gật gù, mua về. Về tới nhà, bà Tư nhìn con cá nằm im re, hỏi:
– Ủa, hồi nãy ông nói cá còn sống mà?

Ông Tư thở dài:
– Thì nó sống hồi ở chợ. Về tới nhà mình, chắc nó… buồn cảnh nên tắt thở.

Bà Tư lắc đầu:
– Trời đất ơi, cá mà cũng biết buồn!

Ông Tư đáp gọn lỏn:
– Ở với bà, con người còn buồn, nói chi con cá.

Nói xong, ông le te xách giỏ đi ra sau vườn, để lại bà Tư đứng đó, không biết nên cười hay nên giận.

You may also like

Verified by MonsterInsights