CHU TẤT TIẾN
Khi nói đến Tết, người Việt chúng ta thường phân biệt hai loại Tết: Tết ta hay Tết Nguyên Đán và Tết Tây hay Tết Dương Lịch. Tết ta hay Tết Nguyên Đán thường rơi vào cuối tháng Một cho đến giữa tháng Hai Dương Lịch. Còn Tết Tây thì là ngày 1/1 của năm Dương Lịch. Trong bài viết ngắn ngủi này, chúng tôi xin nhắc lại nguồn gốc của Tết Ta và nguyên ủy của Tết Tây.
Tết Nguyên Đán
Nguyên gốc là “Tiết Nguyên Đán,” chữ Hán, phát âm theo tiếng Việt. “Tiết” là khoảng thời gian, “Nguyên” là mở đầu, “Đán” là buổi sáng. “Nguyên Đán” có nghĩa là “buổi sáng đầu tiên.”
Lịch sử dân gian Á Châu không xác định rõ từ thời nào, mà các quốc gia ở Á Châu cũng mừng Tết, dĩ nhiên là mỗi nước có định ngày Tết khác nhau về thời gian, nhưng nói chung, thường là đầu tháng Một theo lịch Mặt Trăng (Lunar New Year) của họ.
Đài Loan và Hồng Kông cùng có Tết giống Trung Hoa Lục Địa, tuy hình thức nhảy múa và kiêng kỵ có khác nhau đôi chút, nhưng hầu như mọi quốc gia Á Châu đều dùng màu đỏ để ăn mừng. Dân tộc nào cũng theo lục lệ lau rửa, quét dọn nhà cửa cho sạch, mặc quần áo mới, đến nhà người quen và họ hàng để tặng quà cho nhau, treo lồng đèn đỏ và đi xem múa Lân, ở Trung Hoa còn có múa Rồng do một đoàn người làm thành thân rồng múa lượn rất đẹp mắt. Người Trung Hoa thường làm những con giống bằng bánh, vẽ xanh đỏ, và họ thường ăn “Sủi Cảo” là thứ bánh mà họ tin rằng sẽ đem lại Tài, Lộc với nhân bên trong, và hình của chiếc bánh hấp “Sủi Cảo” giống như hình trái đất nở hoa. Người Hoa chú trọng đến việc “lì xì,” vì coi chuyện tặng chút tiền lấy hên cho năm mới. Trên các phong bì đựng tiền “lì xì” còn có chữ chúc may mắn. Người nói tiếng Trung Hoa (Đài Loan, Hồng Kông, Lục Địa) thì thả đèn lồng, để cầu mong cho linh hồn tiên tổ về chứng kiến con cháu hạnh phúc.
Ở Triều Tiên, ngày Tết cổ truyền, thì dán hình động vật lên cửa để xua đuổi ma quỷ, tống tiễn xui xẻo và đón ngày mới tốt lành. Người dân mặc trang phục truyền thống và họp mặt gia đình, trong buổi họp, con cháu rạp mình chúc tuổi bậc tiền bối, những bậc cha mẹ để nghe răn dạy luân thường, đạo lý. Sau đó, thanh niên nam nữ kéo nhau ra đường chơi các trò vui như kéo co, thả diều. Các bữa ăn trong các ngày Tết đều đầy đặn tất cả mọi món ăn cổ truyền, trong đó có một món không thể thiếu là Kim Chi là cải muối với ớt đỏ.
Hầu hết các dân tộc Á Châu đều coi trọng việc coi bói, xem quẻ để mong năm mới vạn sự như ý, thanh niên thiếu nữ thì cầu tình yêu, cha mẹ thì cầu tiền, cầu phước. Ở Mông Cổ, vì thời tiết lạnh, nên chỉ có mặc quần áo mới, nắm tay nhau nhảy vui đùa quanh đống lửa và ăn thịt, uống rượu.
Quốc gia Singapore thì hay tổ chức các lễ hội mùa Xuân, lễ hội đường phố, người người ra đường nhảy múa ca hát vui vẻ. Các lễ hội Singapore gồm có “Lễ hội Hoa đăng”, “Lễ hội Singapore River Hongbao” và “Lễ hội đường phố Chingay”. Người dân Singapore rất văn minh, đường phố thường sạch bóng, không có rác, không có homeless, nhưng đến ngày Tết, vẫn sửa sang lại đường phố, lau rửa nhà cửa cho đẹp thêm.
Tại các quốc gia Hồi Giáo như Mã Lai, Indonesia thì không mừng Tết Nguyên đán toàn quốc như chúng ta, mà chỉ có những nơi có người Trung Hoa thì vui vẻ, nhộn nhịp với lì xì, mừng tuổi năm mới. Mã Lai là nước có nhiều người Hoa nhất nên tập tục Tết cũng giống như tại nguyên quán, như nghỉ làm việc nhiều ngày, mặc quần áo đỏ, múa vui. Một điều giống nhau tại các quốc gia Á Châu là trong những ngày Tết thì kiêng cữ nói bậy, nói nặng lời với nhau, không tranh cãi về bất cứ vấn đề gì, chỉ chúc nhau hạnh phúc và sức khỏe.
Ở Ấn Độ vì có nhiều tín ngưỡng khác nhau, nên không có cùng ngày Tết, nhưng đến ngày Tết của từng vùng, đều mời nhau ăn bánh mới, các món ăn độc đáo mới. (người Ấn không ăn thịt bò, Người Pakistan không ăn thịt heo) Người Ấn độ, nói chung, thì đến ngày Tết, mang các tượng thần ra tắm rửa. Có cả lễ hội tắm thần, một tượng thần để trên một bồn nước, mỗi người đi qua, thì cầm cái gáo lên dội vào thần. Có nhiều nơi tổ chức trình diễn kịch chiến đấu của các thần, những diễn viên trang phục cổ xưa, cầm kiếm hoặc giáo mác đánh nhau theo tiếng trống, tiếng đàn và tiếng tiêu.
Thái Lan là nước đa số theo đạo Phật nên người Thái mừng Tết vào ngày Phật Đản Sinh, trong ngày này, dân chúng vui vẻ té nước vào nhau với lời chúc năm mới bình an.
Nước Sri Lanka, ngày trước chúng ta gọi là Tích Lan, cũng là nước theo Phật giáo. Ngày Tết, họ gội đầu, tắm rửa và làm bánh bằng hoa quả. Tết Tích Lan có hội đua voi và đua đánh trống thật vui.
Riêng ở Việt Nam chúng ta thì những ngày Tết có rất nhiều hình thức vui chơi. Thời trước 1954, khi còn chế độ quân chủ, ngày Tết thì các quan mặc phẩm phục vào chúc Vua ở điện Thái Hòa. Vua ban thưởng rượu cho các quan. Người Việt ở thôn làng miền Bắc có tục dựng nêu để trừ quỷ.
Cây nêu là một cây tre cao, trên đỉnh treo bùa, hoặc lục lạc để gió thổi thì vang lên tiếng xua đuổi thần Ác. Các làng mạc, dù trong Nam hay ngoài Bắc đều mổ bò, giết heo. Người miền Bắc thì hay giết heo, làm giò thủ, gói bánh chưng. Miền Nam gói bánh Tét (có lẽ là Bánh Tết được nói trẹo ra?) Nhiều làng ở Bắc tổ chức đánh vật, chọi trâu, chọi gà, cờ bạc, có nơi cho dựng cột đu cho trai gái tha hồ tình tứ. Bà Hồ Xuân Hương đã tả cảnh này như sau:
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông,
Trai co gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi Xuân đã biết Xuân chăng tá.
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!
Tuy khác nhau về phong tục từng miền, nhưng trên toàn dải đất Việt Nam (không kể thời kỳ Cộng Sản ở miền Bắc), cứ đến Tết, là mọi người tha hồ trưng diện, đi chúc Tết lẫn nhau. Trẻ em thì vui thích được cha mẹ, cô chú, và người lớn “lì xì” tiền mặt để trong phong bì đỏ. Hầu như mọi nhà đều đốt pháo ăn mừng.
Thời thanh bình, người Việt ở miền Bắc có câu này: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi. Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba rượu chè. Tháng Tư đình đám hội hè. Ăn Tết Đoan ngọ, trở về tháng Năm…”
Đặc biệt, người Việt có treo câu đối đỏ hoặc trước điện thờ, hoặc trước cửa nhà:
Ngoài cửa mừng Xuân nghênh Ngũ Phúc
Trong nhà chúc Tết hưởng Tam Đa
Đa lộc, đa tài, đa phú quý
Đắc thời, đắc lợi, đắc nhân tâm riêng câu này được phổ biến bình dân nhất: “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ. Nêu cao, pháo nổ, bánh chưng xanh”.
Thật là thú vị!
Tết Tây hay Tết Dương Lịch
Trước khi nói về Tết Dương lịch, cần tìm hiểu tại sao có Dương Lịch.
Từ thời Caesar, lịch hằng năm được tạo theo lịch Julius, có khác với lịch hiện tại nhiều ngày cho dù cũng có năm nhuận nhưng lại làm cho các Lễ Phục Sinh, Giáng Sinh lộn xộn.
Lịch này được áp dụng cho đến thế kỷ thứ 16. Giáo Hoàng La Mã là Gregorius Đệ Bát sai làm lịch mới chính xác với năm Mặt Trời và các mùa, Ngài sai Linh mục Dòng Tên, một nhà khoa học, Christopher Clavius, thành lập một ban nghiên cứu làm lịch, sao cho thuận với năm Mặt Trời, nghĩa là Mặt Trời xoay vòng quanh trái đất hơn 365 ngày và tặng cho trái đất bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Từ đó Gregorius được áp dụng vào năm 1582. Sau khi ứng dụng thấy thích hợp, thì toàn bộ Âu Châu đã sử dụng lịch này rồi dần dần lan ra toàn thế giới. Đúng ra, tên gọi của loại lịch mà cả thế giới đang sử dụng là Lịch Công giáo (Catholic Calendar), Lịch Gregorius, nhưng tại Việt Nam, để tránh sự kỳ thị của các Tôn Giáo khác, nên gọi là Dương Lịch để đối với Âm Lịch là lịch Ta. Nhưng vì Tây Phương là nước mang lịch Gregorius vào, nên dân ta quen miệng gọi là Lịch Tây. Cách tính Lịch Tây cũng rất phức tạp, nên các nhà khoa học làm lịch đã tạo ra năm Nhuận, cứ 4 năm lại có một năm Nhuận là 366 ngày thay vì 365 ngày.
Sau khi bộ lịch này được phổ biến, một số quốc gia theo Tin Lành và các tôn giáo khác không chấp nhận, nhưng lần hồi, vì thương mại và kinh tế thế giới phải hòa hợp chính xác với nhau, nên toàn bộ thế giới sử dụng chung một thứ Lịch là Gregorian Calendar.
Tại Pháp, sau cuộc cách mạng 1789 lật đổ đế chế quân chủ, các nhà cách mạng Pháp căm ghét các vua Chúa, quan quyền đều theo Công Giáo, nên đã cấm dân chúng sử dụng lịch Gregory, và chế ra năm đầu của nhân loại là năm Cách mạng, không phải Năm Chúa Jesus giáng Sinh, nhưng rồi thấy bất tiện trong việc trao đổi thương mại với các nước khác qua đường tàu thủy, ngày tháng ước hẹn sai trật làm hại kinh tế, nước Pháp lại cho sử dụng Lịch Gregory trở lại.
Nước Nga cũng chống lại lịch Gregory cho đến khi cuộc cách mạng của Lenin thành công, thì lại sử dụng Lịch Công Giáo.
Với Việt Nam, thì mãi đến khi Pháp thực dân mang lịch này vào nước ta vào cuối thế kỷ 18, thì người Việt chúng ta mới dung lịch này. Từ khi Tết Tây được phổ biến trên toàn thế giới thì các nước Châu Âu cũng tổ chức những vận hội mới qua những phong tục lạ.
Như ở Đan Mạch, thì người ta ném bát đĩa cũ vào nhà nhau. Nước Anh thì cho đổ chuông lớn Big Ben báo hiệu năm mới đến, cũng giống như ở Mỹ, quả bóng điện khổng lồ được kéo lên trên quảng trường New York, gọi là “Count down” đếm ngược từ 10 xuống một, khi tới số một thì quả bóng đã lên tới đỉnh trong tiếng vỗ tay vui vẻ của dân chúng. Ngày nay, toàn thể thế giới văn minh đều chú trọng đến Tết Tây, được chủ nhân cho nghỉ Tết, nhiều sở cũng tổ chức một tiệc nhỏ để mừng nhau. Có công ty thưởng tiền mặt cho nhân viên, nhân ngày Tết. Nhiều quốc gia cho tổ chức lễ hội, nhảy múa. Nhiều thành phố tổ chức hòa nhạc thính phòng, hoặc nhảy múa dân gian. Có thành phố trang trí toàn bộ bằng hàng triệu triệu bóng đèn.
Điều chung nhất cho mọi dân tộc, mọi quốc gia khi Tết đến là hy vọng. Người nghèo hy vọng được đổi đời, sang năm mới bớt nghèo. Người giàu thì mong thành công hơn nữa. Những lời cầu chúc của từng hàng tỷ tỷ cá nhân, giả như được thu gom lại, chắc sẽ thành một quả pháo Khổng lồ có thể làm nổ tung trái đất.
Chu Tất Tiến
Mùa Xuân Bính Ngọ.
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/chu-tat-tien/
Tham chiếu
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%BFt_Trung_Qu%E1%BB%91c
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%BFt_Nguy%C3%AAn_%C4%90%C3%A1n
https://suckhoedoisong.vn/phong-tuc-doc-dao-dip-tet-o-mot-so-quoc-gia-chau-a-169250126030923676.htm
https://www.bing.com/search?FORM=RA75DF&PC=RA75&q=Europe+with+New+Year+festivals

