TRẦN VĂN CHÁNH
Theo truyền thống từ xưa, Việt Nam chuyên dùng âm lịch (gọi là âm – dương lịch), có nguồn gốc từ Trung Quốc, tính theo chu kỳ mặt trăng và mặt trời. Theo khảo cứu của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn (1908–1996) trong “Lịch và lịch Việt Nam,” đăng trên Tập san Khoa học Xã hội, số chín, năm 1982, Việt Nam từng có các cơ quan chuyên môn về lịch từ thời Lý (như điện Phụng Thiên), và các sử liệu cũng có ghi nhận sự khác biệt nhỏ về tháng nhuận, tháng thiếu, cho thấy Việt Nam đã tự tính toán và điều chỉnh lịch riêng, không chỉ sao chép hoàn toàn theo lịch Tàu.
Lịch ta phục vụ cho nông nghiệp, lễ hội, và đời sống thực tế hằng ngày của người Việt.
Còn lịch Tây, hay dương lịch (dựa theo chu kỳ quay của trái đất quanh mặt trời, khoảng 365,24 ngày), có thể nói người Việt ta chỉ biết đến kể từ khi thực dân Pháp thực hiện cuộc viễn chinh xâm chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ, đánh dấu bằng năm 1867, khi cụ Phan Thanh Giản thấy tương quan lực lượng không thể chống nổi nên phải giao thành cho giặc.
Theo quy luật chung, hễ một nước xâm chiếm xong một nước khác thì bắt đầu thiết lập hệ thống cai trị mới theo hướng luôn tìm cách đồng hóa nước nhỏ trên các phương diện từ kinh tế – chính trị đến văn hóa – giáo dục, mà họ gọi là “khai hóa,”… Vì vậy, một trong những việc trước tiên người Pháp phải làm là cho du nhập phương pháp mới tính ngày giờ bằng Tây lịch và bằng loại đồng hồ tân thời vào Việt Nam, cùng với một số kiến thức khoa học cơ bản khác.
Hiện nay, tại một vài thư viện trên thế giới, người ta vẫn còn giữ được một vài cuốn sách lịch do Pháp biên soạn trong giai đoạn khởi đầu vừa nêu trên.
Đầu tiên có lẽ là cuốn Lịch An Nam thuộc về sáu tỉnh Nam Kỳ, Tuế thứ Kỷ Tỵ (năm 1869), chỉ hai năm sau khi Pháp chiếm Vĩnh Long (1867), dưới trang bìa thấy ghi: Saigon, Bản in Nhà nước, 1869.
Lấy cuốn Lịch Annam 1869 này làm tiêu biểu, lần lượt lật từ ngoài trong, ta thấy:
– Cách thức lậu chuông Langsa cùng An Nam: “Đồng hồ giờ khắt (sic) Langsa đi một vòng chỉ chữ mười hai, là giờ thứ mười hai so giờ khắt (sic) Annam. Annam giờ tý giờ ngọ là đồng hồ Langsa chữ mười một, kim nhỏ chỉ chữ mười một là giờ thứ mười một…” (tr. 6).
Trang đối diện tiếp sau dịch nội dung chữ Quốc ngữ này ra chữ Hán, kèm phía trên là hình vẽ chiếc đồng hồ với dòng chữ Hán và Hán – Việt: “Lậu chuông viên đồ Tây Nam,” (Hình tròn đồng hồ đối chiếu giờ khắc Tây – Nam).
Annam giờ tý giờ ngọ là đồng hồ Langsa chữ mười một, kim nhỏ chỉ chữ mười một là giờ thứ mười một…” (tr.6). Trang đối diện tiếp sau dịch nội dung chữ Quốc ngữ này ra chữ Hán, kèm phía trên là hình vẽ chiếc đồng hồ với dòng chữ Hán và Hán-Việt “Lậu chuông viên đồ Tây Nam” (Hình tròn đồng hồ đối chiếu giờ khắc Tây-Nam).

– Tiếp theo (nơi trang 8) là “Nói về sự lập mùa” (như: “Lập Xuân, từ ngày mồng tám tháng giêng Annam, giờ thứ tám ba mươi tám phút buổi chiều”…), và “Nói về sự lạ trong năm Kỷ Tị” (như: “Năm nay có đặng hai lần nhựt thực với hai lần ngoạt thực…”), có kèm bản dịch chữ Hán ở trang đối diện kế tiếp (tr. 9).
– Mở đầu phần Lịch (trang 10), sách viết:
“Cho được hiểu trong lịch nầy mà biết ngày nào, tháng nào, mặt trăng thượng hay là khuyết thì dể [dễ] biết có đủ nghĩa (…).
“Trong lịch nầy có ba thứ chữ, là chữ Langsa, chữ quốc ngữ và chữ Annam, làm vậy ai muốn coi thì dể [dễ]”. Trang đối diện kế tiếp cũng có phần đối chiếu chữ Hán.
Từ trang 13 đến hết trang 18 là phần lịch chính, vẽ thành các khung/ cột ghi ngày, tháng và ngày thứ mấy trong tuần, đối chiếu Âm lịch với Dương lịch (từ tháng Giêng đến tháng Chạp Âm lịch/ Février đến Décembre [lấn qua Janvier của năm Dương lịch sau]), về cơ bản thì tương tự như lịch chúng ta hiện dùng ngày nay.
Xen vào giữa tập sách lịch năm 1869 rải rác còn có một số hình vẽ nét khá đẹp, như hình vài loài thú rừng (voi, hươu nai…), hình người câu cá, đốn củi, cày ruộng, đánh cờ tướng…
Tuy nhiên, nội dung tiếp theo của những cuốn sách lịch đầu tiên này mới có giá trị tham khảo quan trọng cho người thời nay. Chúng có thể cung cấp cho chúng ta một số tài liệu lịch sử đáng tin cậy, nhờ được xuất bản gần kề với thời gian xảy ra các sự kiện, liên quan đến chính trị, nhất là về hành chánh, kinh tế, y tế, giáo dục… trong thời kỳ đầu thuộc Pháp tại Nam kỳ. Ngoài ra, qua nhiều thứ nội dung khác được ghi chép phía sau phần ghi ngày tháng của Lịch, chúng cũng giúp chúng ta hình dung được một cách sinh động tình trạng của tiếng Việt thể hiện bằng chữ Quốc ngữ trong giai đoạn tương đương, tức khoảng đôi ba chục năm đầu sau khi Pháp thống lĩnh trọn 6 tỉnh Nam kỳ

Về tổ chức hành chánh hay bộ máy cai trị của Pháp
Chúng ta thấy:
– Tên ông nguyên soái và tên các quan hầu quan nguyên soái (liệt kê tên và chức vụ một số quan chức Pháp);
– Tên các ông quan lớn (như trên);
– Soái phủ Lại bộ Thượng thư tòa (liệt kê tên và chức vụ một số quan chức Pháp và Việt);
– Lần lượt ghi danh sách tên các quan chức Pháp và Việt (với quan đứng đầu luôn là người Pháp) ở các Tham biện tòa Sài Gòn, Chợ Lớn, Phước Lộc, Gò Công, Tân An, Kiến Hưng, Kiến Hòa, Kiến Phong, Biên Hòa, Bà Rịa, Long Thành, Thủ Dầu Một, Trảng Bàng, Tây Ninh, Vĩnh Long, Châu Đốc, Sa Đéc, Bến Tre, Trà Vinh, Cần Thơ, Rạch Giá, Chợ Long Xuyên, Mỏ Cày, Sốc Trang, Bắc Trang, Hà Tiên (từ tr. 19 đến hết tr. 35).
Về tình hình chính trị: “Việc trọng thể hơn nội năm Đinh mảo [Dinh Mão] là việc lấy ba tỉnh trong mà hiệp với ba tỉnh đây”
Phần nội dung này chiếm trọn năm trang (không có đầu đề riêng viết bằng tít chữ lớn), kể chuyện Pháp đánh lấy ba tỉnh Vĩnh Long, Châu Đốc [An Giang], Hà Tiên. Việc cụ Phan Thanh Giản đầu hàng rồi tự nguyện chết, và việc hai con trai của cụ, nói theo quan điểm/ giọng điệu Pháp là “chẳng thèm nghe lời trối ấy [của cha], ham sự danh tiếng sang trọng, cho nên mới theo lời không phải mà giục cả dân trong huyện Bảo An làm giặc” (tr. 35) . Tình hình của quan quân, lính mã tà phía Pháp đi “dẹp loạn,” “bình định” chống giặc cướp hoặc chống lại những cuộc nổi dậy của người dân Việt yêu nước.
Sau bài viết này là phần tạp lục, gồm có những mục như:
– Bản các xe Chà Và (ghi giá đi Nội thành Saigon, Ngoại thành Saigon, Xe đi Chợ Lớn);
– Bản ghe đò (cũng ghi giá đi từ nơi này đến nơi khác…);
– Bản Cửu chương;
– Nói về phép toán (đại khái áp dụng theo môn Số học);
– Nói về phép đo (áp dụng theo môn Hình học).
Chúng tôi chỉ có điều kiện khảo sát được lẻ tẻ vài tập sách lịch (không liên tục) của những năm tiếp sau: Ất Hợi 1875 (ghi tên soạn giả J. Bonet, Saigon, Bản in Nhà nước, 1875, dày 102 trang); Kỉ Mão 1879 (ghi tên soạn giả Huc. F., Saigon, Bản in Nhà nước, 1879, dày 128 trang); Canh Thìn 1880 (không ghi tên soạn giả, Saigon, Bản in Nhà nước, 1880, dày 118 trang); Đinh Dậu 1899 (do Tòa Thông ngôn quan Thống đốc biên soạn, Saigon, Nhà in Quản hạt,1899, dày 295 trang).
Ngoài mấy phần đầu sách có nội dung và quy cách trình bày tương tự như đã mô tả ở quyển lịch năm 1869, tại mỗi tháng của sách lịch những năm tiếp theo còn có ghi thêm về khí hậu và các loại cây trồng thích nghi theo mùa tiết tương ứng… Theo sau phần Lịch ghi ngày tháng ở mỗi tập là rất nhiều văn bản nghị định, chỉ thị liên quan những công việc như: Về việc dạy dỗ dùng trong các trường Nam kỳ (ký năm 1874); về phép cử dụng thông ngôn kí lục (ký năm 1874); về lệ phép buôn bán nha phiến tại hạt Nam kỳ (ký năm 1873); về sự lập phép tắc nhứt định trong sự sửa trị dân bổn quốc thuộc về phương Đông (ký ngày 14 tháng juillet năm 1871); về việc chuẩn định mọi món thuế (ký năm 1875); về việc làm cây-buôn bán cây rừng (ký năm 1875); về sự bán những công thổ trong Nam kỳ (ký năm 1878); về việc cử đặt người bổn quốc làm thầy trồng trái [thầy thuốc chủng ngừa bệnh đậu mùa thời trước] (ký năm 1878); về việc cân lường (ký năm 1898); về thể lệ thi hành án tòa về việc hộ cùng việc thương mãi bổn quốc (ký năm 1882) ….
Riêng tập sách lịch Annam năm Đinh Dậu (1899) dày tới 295 trang, chứa đựng rất nhiều tài liệu liên quan tên các tổng các làng, niên biểu lịch sử Việt Nam, và/ hoặc về tổ chức bộ máy cai trị đương thời kèm tên nhân sự (cả Pháp lẫn Việt) phụ trách các cơ quan của nhà cầm quyền thực dân Pháp.
Đặc biệt từ lịch năm 1875 trở đi, đều có mục “Nhựt ký những việc cả thể,” ghi rõ ngày tháng cụ thể việc quân Pháp đánh chiếm từng nơi này nơi khác ở Nam kỳ, cùng những việc có tính cách dân sự khác. Thí dụ:
Ngày 1 septembre 1858 – Đánh lấy Cửa hàn, (ông Nguyên soái Rigault)
Ngày 11 février 1859 – Đánh lấy rừng sác từ cửa Cần giờ sấp lên, (ông Nguyên soái Rigault)
(….)
Ngày 25 juillet 1871 – Lập bộ sanh, bộ tử
Ngày 15 septembre 1871 – Tờ định dạy phải trồng trái
Ngày 31 août 1874 – Hai nước kí tên làm thương ước.
Ngôn ngữ: Tiếng Việt và chữ Quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc ở Nam kỳ
Dùng toàn tiếng miền Nam: nhứt (thay vì nhất); chánh (chính); thạnh (thịnh); bịnh (bệnh); rờ (sờ); ngó thấy (trông thấy); chữ nhu (chữ nho); hạ ngươn (hạ nguyên); đàng (đường); đờn bà (đàn bà); khí giái (khí giới); ngoạt thực (nguyệt thực); thơ từ (thư từ); thiệt (thật); chơn thiệt (chân thật); đặng (được); bổn quấc ( bản quốc); hiệp (hợp), đều (điều, như: đều ấy, đều bậy bạ…); biểu (bảo/ bắt phải, yêu cầu phải làm việc gì); kêu là (gọi là); chừng nấy (chừng ấy); dụng nhiều thế (dùng nhiều cách); dân sự (dân chúng); có phép (được phép/ được quyền), dưới phép (dưới quyền)…
Vài cách nói theo khẩu ngữ miền Nam xưa: một năm mới rồi (một năm mới xong); cho kíp (cho kịp); dấu vít (dấu vết); con nít (đứa bé/ đứa trẻ); biên (ghi chép); dạy (quy định bắt buộc); đã dạy (đã chỉ định, đã quy định); đầu hết (đầu tiên); một hai ít (chút ít); đóng ấn kí tên (đóng dấu ký tên); thế chi cũng đặng (thế nào cũng được); làm vậy (như vậy); dùng nhiều thế (dùng nhiều cách); không lấy tiền (miễn phí); tuân cứ (căn cứ); phú cho (giao cho); ăn bổng (ăn lương, hưởng lương); ngữ tiền phụ cấp (món tiền phụ cấp); tuổi trai lứa (tuổi thanh niên)…
Vài từ địa phương cũ khá thường dùng: cả và (tất cả/ hết thảy); cả thể (trọng thể), kiếm thể (tìm cách)…
Vài thuật ngữ: nhà thương (bệnh viện); điển tín (điện tín); trồng trái (chủng ngừa bệnh đậu mùa); hộ trưởng (chủ hộ/ chủ gia đình); nhựt trình (báo chí); lời nghị/ lời định (nghị định); trường riêng (trường tư); chăn sóc/ coi sóc (trông coi/ quản lý); ngạch số (số quy định); bớt sổ (giảm biên chế); thi miệng (thi vấn đáp); tiệc khai trường (lễ khai giảng); học trò ở luôn trong trường (học sinh nội trú); mẹo luật (quy tắc); cách bức (khoảng cách); thước (mét); phân ngàn (milimet); tàu khói (tàu máy hơi nước); phép thêm (phép cộng); phép bớt (phép trừ); phép nhơn (phép nhân); phép bình phân (phép chia); hiệp cọng (tổng cộng); hình ba góc (hình tam giác); phép cách vật (physique: môn vật lý); truyện tự nhiên (histoire naturelle: vạn vật học/ sinh học) …
Chính tả chưa ổn định (hoặc viết sai chính tả?): giờ khắt (giờ khắc); thế giang (thế gian); Phan Thanh Giảng (Phan Thanh Giản); quấc (quốc); toàn quiền (toàn quyền); ông Huình Văn Hội (ông Huỳnh Văn Hội); Bắc liêu (Bạc Liêu); Sốc trang (Sóc Trăng)… Câu văn trong các sách lịch phản ảnh đúng tình trạng/ bộ mặt sơ khai của văn quốc ngữ thời kỳ đầu thuộc Pháp, tương đương với khoảng thời gian hoạt động của một số nhà văn tiên phong miền Nam như Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Trương Minh Ký (1855-1900), Huỳnh Tịnh Của (1830-1908)…
Tôi suy đoán những bài viết hoặc văn bản hành chánh đăng trong các sách lịch cũng chính là do những vị này chấp bút, mà dấu vết của họ cả về văn phong chất phác lẫn dụng ngữ rặt ròng Nam Bộ vẫn còn đọng lại khá sâu đậm trong các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh (1884-1958), Huỳnh Phú Sổ (1920-1947)… giai đoạn những năm 30 của thế kỷ trước. Thiết nghĩ, một số ngữ dụng địa phương như vậy do người Việt vùng đất mới sáng tạo cũng rất đáng được lưu tồn để giữ được tính phong phú đa dạng và sinh động của tiếng Việt mến yêu.
Trần Văn Chánh
31/12/2025
Similar articles: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/tran-nhat-vy/


