QUYÊN DI
Đó là một ngày trung tuần tháng Mười Hai năm 1977…
Sau hơn một tuần lễ lênh đênh trên biển cả, thuyền của chúng tôi dạt vào bãi cát làng Merang thuộc tỉnh Terengganu, Mã Lai. 64 con người loi ngoi lội vào bờ, bị cảnh sát Mã Lai chạy xuống bãi, thổi còi, đuổi ra biển trở lại. Trời cứu! Tự nhiên một trận mưa lớn đổ ập xuống. Cảnh sát Mã Lai sợ ướt, chạy ngược lên. Chúng tôi lúc thúc chạy theo sau. Thế là thay vì cảnh sát Mã Lai đuổi chúng tôi, chúng tôi lại đuổi theo họ. Cảnh tượng bi hài vì chúng tôi, tất cả nam phụ lão ấu đều vừa chạy vừa nắm lưng quần. Ngần ấy ngày đói khát bụng ai cũng teo lại, thế rồi lại lội xuống nước, quần ướt sũng, không nắm lưng quần là quần bị tụt ngay!
Chúng tôi lên đến bờ rồi, cảnh sát không đuổi nữa. Họ dồn chúng tôi vào một ngôi nhà gỗ nghỉ mát của ai đó đang dựng dở dang rồi canh chừng bên ngoài. Sáng hôm sau, người dân Mã Lai làng Merang ra bãi biển, thấy bọn chúng tôi ngồi run rẩy, đói khát, họ lén cảnh sát ném cho quả cam, quả chuối, nắm cơm. Nghĩ lại, thấy họ chất phác mà trái tim đầy tình thương.
Hai ngày sau, nhân viên Cao Uỷ Tị Nạn đến. Thấy thuyền của chúng tôi đã vỡ nát, không cách nào ra khơi được nữa, họ làm biên bản rồi cho nhóm chúng tôi nhập trại tị nạn trên đảo Pulau Besar. Tiếng Mã Lai, Pulau có nghĩa là hòn đảo, Besar có nghĩa là lớn. Quả nhiên Pulau Besar là hòn đảo tương đối lớn, vì cuối cùng trước bị bị giải tán để người ta lập một trại tị nạn lớn hơn là Pulau Bidong, đảo Pulau Besar đã cưu mang đến gần bảy ngàn con người.
Sinh hoạt trên đảo khá tự do. Cao Uỷ Tị Nạn phối hợp với chính quyền địa phương Mã Lai chia trại thành từng khu A, B, C, D… Ban Quản Trị trại cũng là người tị nạn được cử ra để điều hành trại. Người tị nạn được chỉ định cho một mảnh đất trong một khu nào đó rồi tự lo liệu nơi ăn chốn ở của mình. Trên đảo có một khu cây cối um tùm như rừng. Người khoẻ mạnh cứ tự nhiên vào đấy đốn cây, chặt lá cọ, lá dừa đem về mà làm. Nhiều người có tay nghề, cất nhà rất khéo. Tuy chỉ là chỗ ăn ở tạm bợ thôi mà căn nhà coi bộ chắc chắn và đẹp lắm. Lại có những thanh niên độc thân, chẳng cần làm nhà. Mấy anh đó kiếm một cây cao, thân lớn, cành lá um tùm trong khu trại, làm một cái chòi nhỏ trên cao, cột một sợi dây thừng lớn. Các anh đó nắm dây thừng mà đu lên, đáp xuống, không khác gì Tarzan!
Bốn người chúng tôi, hai vợ chồng và hai người em, sức trói gà không chặt, làm sao làm dựng nhà. Vợ tôi tháo sợi dây chuyền vàng, là món trang sức mẹ chồng cho hồi chúng tôi lấy nhau, đem bán. Được tiền, chúng tôi “sang” lại căn nhà của một bà con sắp được định cư. “Nhà” cũng dựng bằng cây, mái lợp lá dừa thôi nhưng có hai tầng khá cao ráo. Chung quanh nhà, chúng tôi trồng cây hoa dừa tím, thơ mộng ra trò. Tiếc là hổi ấy chúng tôi không chụp hình căn nhà này làm kỷ niệm.
Về thức ăn, chúng tôi được cấp thức ăn tươi: gạo, rau cỏ, trứng, thịt, cá tươi. Mỗi gia đình tự lo mà nấu nướng. Có mấy anh chị giỏi tay nghề, lập luôn quán bán thức ăn. Bà con, ai được thân nhân gửi trợ cấp, có tiền rủng rỉnh, chiều chiều ra ngồi quán, uống ly cà-phê, ăn tô hủ tiếu… chẳng khác gì khi còn ở quê nhà, chưa lên đường vượt biên.
Thư từ liên lạc thì có một ông người Mã Lai, nửa tháng một lần ổng đem thư từ vào trại cho bà con. Lần đầu tiên từ ngày vào trại, chúng tôi thấy ông đó đến. Ban đầu chúng tôi không hiểu chuyện gì, tự nhiên mấy anh thanh niên hô lớn như có ý cho cả trại nghe: “Đau đớn! Đau đớn!” Chúng tôi hoảng hốt, không biết ai bị tai nạn gì mà mấy ảnh hô “đau đớn” như vậy. Tuy nhiên, bà con khi nghe mấy thanh niên hô “đau đớn” thì mặt mày hớn hở, chạy tuốt đến văn phòng ban quản trị trại. Hoá ra không có ai bị tai nạn, không có ai “đau đớn” cả. Mấy ảnh hô “Daud đến!” Daud là tên ông Mã Lai đem thư từ vào trại cho bà con tị nạn. Những hôm “đau đớn” như thế, cả cả tưng bừng hẳn lên, các “nhà hàng” nấu thức ăn không kịp!
Lật bật chúng tôi vào trại đã được nửa tháng. Trong trại có một nhà nguyện cũng cất bằng cây, có điều rộng rãi, chắc chắn hơn các căn nhà khác. Không biết trước khi chúng tôi vào trại, có linh mục hay tu sĩ nào phụ trách sinh hoạt nhà nguyện không nhưng lúc đó thì không có ai. Tôi bèn mạnh dạn đứng ra tạm lo việc ấy. Sáng sáng, bà con vẫn tụ họp đọc kinh, lần hạt. Ngày Chủ nhật chúng tôi thay phiên nhau đọc Phúc Âm rồi “chia sẻ lời Chúa,” thay vì gọi là giảng.
Lễ Giáng Sinh đến! Nhóm chúng tôi cũng tổ chức mừng lễ. Chúng tôi làm hang đá. Có bạn mượn được một búp bê. Chúng tôi “hoá trang” cho búp bê thành Chúa Hài Đồng, đặt nằm trong máng cỏ. Mọi người cũng đến viếng hang đá, tôn kính Chúa Hài Đồng rồi hát bài “Hang Bê Lem” của Hải Linh: “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…” rất sốt sắng. Có nhiều người cảm động khóc sụt sịt. Sáng hôm sau, khi ra thăm hang đá thì Chúa Hài Đồng đâu mất! Chúng tôi đổ xô đi tìm Chúa. Cuối cùng Chúa không bị ai bắt cóc cả, một em bé thấy “Chúa” xinh xắn, đẹp đẽ quá, bèn ôm “Chúa” đi chơi như chơi búp bê. Mà quả thật “Chúa” là búp bê mà. Chúng tôi phải dụ dỗ, năn nỉ, mua chuộc (may là không hăm doạ) mãi, em bé mới trả Chúa Hài Đồng cho chúng tôi cung nghinh về hang đá trở lại.
Một chuyện tôi khởi xướng, nghĩ lại thấy mình vô cùng dại dột. Đó là tổ chức đốt đuốc mừng Chúa Giáng Sinh. Các thanh niên được dịp, đốt đuốc cháy đùng đùng, chạy giáp vòng trại. Cảnh rất đẹp và không khí rất vui, nhưng nói dại, nếu lúc ấy lửa bén vào một mái lều thì sẽ lan ra khắp trại, vì lều nào cũng đều là mái lá khô, vô phương cứu chữa. Rất may tai hoạ đó không xảy ra.
Trong trại vào thời điểm ấy có nhà văn Mai Thảo, nhạc sĩ Văn Phụng, ca sĩ Châu Hà, hoạ sĩ Hà Cẩm Tâm, nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc, nghệ sĩ Ngọc Phu, nhạc sĩ Hồng Trang (nhà tôi.) Thỉnh thoảng chúng tôi tụ họp nhau, chuyện trò rôm rả. Tết Mậu Ngọ (mồng 7 tháng Hai, năm 1978) đến. Tôi bàn chuyện tổ chức đón Tết cho bà con. Ai cũng ngại: ngân khoản không có, vật dụng cũng không, lòng người không ổn định vì lo lắng chuyện định cư, chờ đợi phái đoàn di trú các nước đến phỏng vấn… Tôi bảo: “Mình cứ làm đi, tôi lo ngân khoản cho.”
Thế là chúng tôi xin ban quản trị trại cho loa phóng thanh báo tin trại sẽ tổ chức đón Tết. Tôi lo sốt vó! Hứa liều là kiếm ngân khoản, nhưng bây giờ thực tế, kiếm đâu ra. Ấy thế mà tôi kiếm được. Đầu tiên là tôi gõ cửa mấy “restaurant” xin ủng hộ. Kết quả thật không ngờ, các chủ quán vui vẻ đóng góp ngay. Sau đó tôi xin các trưởng khu kêu gọi bà con đóng góp kẻ ít người nhiều để ăn Tết chung. Phần tôi thì đến từng lều để xin ủng hộ. Tôi đến lều mấy anh độc thân. Mấy ảnh đang ở trần, ngồi nhậu. Tôi thoáng nhìn “mồi nhậu,” thấy cái gì dài dài, nướng cháy đen thui. Tôi hỏi: “Mấy anh nhậu, mồi gì vậy?” Một anh cười, nói: “Tắc kè nướng đó. Làm với tụi tui một miếng!” Tôi nhắm mắt, xé con tắc kè cho vô miệng, chiêu một ngụm rượu (không biết là rượu gì,) nuốt cái ực. Mấy ảnh cười ha hả, cho tôi bộn tiền, vì một anh trong nhóm có thân nhân mới gửi tiền cứu trợ.
Thế rồi ai lo việc nấy. Cả trại rộn ràng đón tết. Nhộn nhịp nhất là ban thể thao. Để tăng thêm sự vui nhộn, ban thể thao tổ chức thi đá banh. Một khu đất rộng được cải biến thành sân banh, cũng có lằn ranh, có “gôn” cho cả hai bên. Cuộc đấu khá sôi nổi. Cũng thi nhiều vòng: tứ kết, bán kết rồi tranh vô địch. Mỗi khu lập một đội banh, tập dượt đâu vào đó. Những buổi thi đấu, bà con kéo ra đứng quanh sân banh đầy chật. Nhiều người không có chỗ đứng, đành đứng xa xa hay về “nhà” nghe trực tiếp truyền thanh các trận đấu. Người trực tiếp truyền thanh là nghệ sĩ Ngọc Phu. Anh nói liên tu bất tận qua loa phóng thanh, chả thua gì ký giả Huyền Vũ hồi trước. Tôi sức yếu, không chen vào gần sân banh được, đành đứng ngoài nghe anh tường thuật trực tiếp truyền thanh. Có lúc tôi nghe anh hô lớn: “Banh vào chân anh Sít Đô La… Anh sút…. Nhưng trái banh đã… vượt biên!” Cả sân banh cười ồ lên. Đến trái banh mà cũng biết… vượt biên thì hết nói! Tôi nghĩ ảnh cố ý nói như vậy cho bà con cười vui, thay vì nói “nhưng trái banh đã vượt đường biên,” hay, “nhưng trái banh đã vượt lằn ranh” thì anh nói nó “vượt biên!”
Trái banh “vượt biên” đã là chuyện lạ. Đến cái anh cầu thủ “Sít Đô La” này mới lạ hơn nữa! Ở đâu lại có anh chàng… người Mỹ Six Dollars vào đây chơi đá banh. Tôi thắc mắc mãi, mà vì đứng ở xa không nhìn thấy mặt mũi, giò cẳng anh Six Dollars này như thế nào. Về sau thắc mắc không chịu được, tôi mới hỏi anh Ngọc Phu rằng Six Dollars là ai, có phải là người Mỹ không. Anh Ngọc Phu nhìn tôi, cười ngặt nghẽo: “Thằng Sáu Đồng ở khu B đó! Tôi dịch luôn Sáu Đồng thành Sít Đô La, nghe cho nó oai!” Trời đất! Tên người ta là Sáu Đồng mà ảnh gọi là Six Dollars thì thiệt hết nói!
Trưởng ban thể thao là một anh thanh niên người Việt gốc Hoa. Anh này rất sợ phát âm tiếng Việt sai bị bà con cười nên cố gắng sửa giọng để phát âm cho đúng. Anh vốn biết bà con người Việt miền Nam hay phát âm [vờ] (chữ v) thành âm [dờ] (chữ d) và thường thêm âm [gờ] (chữ g) ở cuối một số tiếng. Thí dụ: “vươn vai” thì bà con phát âm thành “dương dai.” Đã thế, anh phải uốn giọng cho đúng mới được. Anh tổ chức một cuộc đua thuyền ở con rạch ngay sát bờ biển. Bên lề con rạch đó là một hàng cây dương (phi lao) người ta trồng hay tự mọc từ hồi nào không biết. Anh trưởng ban thể thao người Việt gốc Hoa này nghĩ (chắc thế) rằng: cây “dương” là phát âm sai, anh bèn đổi âm [dờ] ở đầu thành âm [vờ] và cắt béng âm [gờ] ở cuối đi. Thế là “dương” anh phát âm là “vươn” cho nó đúng! Anh đứng trên sân khấu mới dựng, hô hào qua loa phóng thanh: “Yêu cầu bà con chiều mai ra gốc cây “vươn” coi đua thuyền.” Lúc đầu mọi người không hiểu ảnh yêu cầu cái gì, nghĩ một hồi mới biết rằng anh ấy kêu gọi người ta ra đứng dưới các gốc cây dương cho mát để coi đua thuyền. Nhạc sĩ Văn Phụng có tính hài hước, hay đùa, ông đứng dưới sân, tay chống nạnh, ngóng cổ lên nói to với anh trưởng ban thể thao đứng trên sân khấu: “Anh không có lý “vo” gọi cây dương là cây “vươn.” Nghe ông Văn Phụng nói thế, không ai nhịn được cười.
Đúng nửa đêm, chúng tôi tổ chức đón giao thừa, mừng năm mới. Nhà văn Mai Thảo được bà con đề cử làm vị đại diện đọc lời khấn trước bàn thờ quốc tổ. Ông mặc bộ bà ba trắng, dáng dấp nghiêm nghị, chậm rãi tiến đến trước bàn thờ Quốc Tổ nói vài lời rất tha thiết. Ông xin Quốc Tổ phù hộ cho dân tộc Việt Nam qua cơn quốc biến, cho bà con tị nạn sớm được định cư. Giọng ông trầm, rõ ràng nhưng hơi run run. Vì đứng ở gần, tôi thấy mắt ông rướm lệ.
Sau đó là chương trình văn nghệ rất tưng bừng nhộn nhịp. Nhạc sĩ Hồng Trang, vốn là ca trưởng, môn sinh xuất sắc của nhạc sư Hải Linh, đã thành lập một ca đoàn thiếu nhi, mở đầu chương trình bằng một màn hợp ca. Bà con vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Thế rồi nhạc sĩ Văn Phụng chơi nhạc, ca sĩ Châu Hà hát. Nhiều cô ca sĩ tự phát cũng đóng góp những bản đơn ca. Lại còn có mấy vũ khúc nữa. Riêng nghệ sĩ Ngọc Phu thủ vai Táo Quân, anh đọc sớ táo quân mà chọc cho bà con cười bể bụng.
Ngày mồng một Tết chúng tôi cũng thăm các lều của nhau, nói lời cầu chúc đầu năm. Chỉ là những người tị nạn thôi mà chúng tôi cũng có mứt dừa, mứt bí, thịt kho dưa giá đãi nhau. Tình đồng hương trong hoàn cảnh chung là người vượt biên mong đợi ngày đi định cư thật là thắm thiết.
*
Sau Tết Mậu Ngọ năm 1978 ấy, chúng tôi nghe rục rịch việc chuyển trại vì khi đó số người đến đảo quá đông, trại không đủ chỗ chứa. Pulau Besar gần đất liền, lội qua bờ nước là vào được làng Merang của người Mã Lai. Bây giờ nghe nói trại sẽ rời ra xa ngoài khơi hơn, đó là trại Pulau Bidong, sau này rất nổi danh, chúng tôi ai cũng có chút xao xuyến khi nghĩ đến tương lai trước mặt. Thế nhưng cuối cùng ai cũng được định cư một cách êm đẹp. Riêng gia đình chúng tôi thì được gọi đi định cư ở Hoa Kỳ trước khi có đợt chuyển trại đầu tiên.
Bây giờ không còn mấy ai biết đến đã từng có một trại tị nạn ở Mã Lai tên là Pulau Besar, nhưng chắc chắn những người Việt vượt biên đến tạm cư ở trại này không bao giờ quên được những năm tháng ấy, nhất là nhớ tết tha hương năm Mậu Ngọ.Thỉnh thoảng có những buổi tối tôi hồi tưởng lại những ngày tháng trên đảo Pulau Besar đó. Có những khuôn mặt đã khuất, không bao giờ nhìn thấy nữa: hoạ sĩ Hà Cẩm Tâm, nghệ sĩ Ngọc Phu, nhà văn Mai Thảo, nhạc sĩ Văn Phụng, ca sĩ Châu Hà… Tôi chìm trong giấc ngủ, tai nghe tiếng sóng biển, lẫn trong đó là tiếng đàn ghi-ta và giọng hát của nhạc sĩ Văn Phụng. Ông hát một bài hát mà ông sáng tác khi ôm đàn đi vào làng Merang, lời bài hát của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc: “Ta ra đi khi buổi sáng trong màn sương buồn… Bao yêu thương, bao trìu mến Ma-lay-si-a…”
Similar articles: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/sang-tac/tuy-but/

