TRUNG NAM
Trong nhiều thập niên qua, tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa luôn là một trong những vấn đề nhạy cảm, phức tạp và nóng bỏng nhất trên Biển Đông. Không chỉ là câu chuyện địa chính trị, đó còn là vấn đề liên quan đến lịch sử, luật pháp quốc tế, danh dự quốc gia và ký ức lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Chính trong bối cảnh ấy, những tấm bản đồ cổ về Việt Nam, Hoàng Sa và Trường Sa trở nên đặc biệt quan trọng – bởi chúng không chỉ là sản phẩm khoa học, mà là những chứng cứ lịch sử xác thực, cho thấy quá trình xác lập, quản lý và hiện diện liên tục của Việt Nam trên hai quần đảo này suốt nhiều thế kỷ.
Những tấm bản đồ cổ về Việt Nam và Biển Đông không chỉ là sản phẩm địa lý học đơn thuần, mà là những chứng nhân lịch sử sống động, ghi lại hành trình nhiều thế kỷ người Việt xác lập, quản lý và khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Từ bản đồ Hồng Đức đời Lê Thánh Tông năm 1490, đến bộ Toàn tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư năm 1686 do Đỗ Bá biên soạn với ghi chú rõ ràng về “Bãi Cát Vàng,” rồi đến Đại Nam nhất thống toàn đồ hoàn tất năm 1838 dưới triều Minh Mạng – tất cả đều thể hiện sự hiện diện liên tục của hai quần đảo này trong không gian lãnh thổ Việt Nam. Không phải tình cờ mà lịch sử còn ghi nhận đội Hoàng Sa – Bắc Hải của các Chúa Nguyễn thường xuyên ra đảo làm nhiệm vụ cắm mốc, thu nhặt hải vật, cứu hộ thuyền bè và khẳng định chủ quyền.
Không chỉ người Việt vẽ bản đồ ghi nhận điều đó. Từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX, hàng trăm bản đồ do các học giả và nhà hàng hải phương Tây như Mercator, Blaeu, Nicolas de Fer, Daniel Tavernier, Abraham Ortelius, Diogo Ribeiro… đã vẽ “Paracel,” “Pracel,” “Cochinchina,” “Cauchi” gắn liền với lãnh thổ Việt Nam. Đặc biệt, bản đồ An Nam đại quốc họa đồ của Giám mục Jean Louis Taberd năm 1838 ghi rõ “Paracel seu Cát Vàng,” và ngay trong bài nghiên cứu xuất bản năm 1837, ông khẳng định Hoàng Sa thuộc Cochinchina – tức Việt Nam. Điều đáng chú ý là trong cùng thời kỳ ấy, các bản đồ Trung Quốc lại hoàn toàn không ghi nhận Hoàng Sa – Trường Sa thuộc lãnh thổ của họ.Nhìn lại những chứng cứ ấy, chúng ta không chỉ thấy những đường vẽ lạnh lùng trên giấy, mà là cả một quá trình lịch sử, pháp lý, địa lý kéo dài qua nhiều thế kỷ. Mỗi bản đồ là một lời xác nhận, mỗi dòng ghi chú là một bằng chứng, góp phần khẳng định rằng Hoàng Sa và Trường Sa không phải là câu chuyện mới nảy sinh từ những tranh chấp gần đây, mà là phần lãnh thổ đã được nhận thức, khai thác và ghi nhận từ rất lâu trong lịch sử Việt Nam và trong nhận thức của thế giới. Và trong bối cảnh Biển Đông còn nhiều sóng gió, những tấm bản đồ ấy không chỉ mang giá trị tư liệu, mà còn mang ý nghĩa tinh thần – nhắc nhở chúng ta về một trách nhiệm thiêng liêng: hiểu đúng lịch sử, trân trọng chủ quyền, và tiếp tục gìn giữ phần biển đảo thân yêu của Tổ quốc.
Có rất nhiều bản đồ cổ có vẽ Việt Nam, Biển Đông với Hoàng Sa-Trường Sa, những minh chứng hùng hồn cho thấy Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam.
Chúng ta có thể phân chia những bản đồ này thành ba loại: Bản đồ Việt Nam thời xưa, bản đồ Việt Nam do người Tây phương vẽ và bản đồ của Trung Quốc.
Trong bài viết này chúng tôi chỉ nói về các bản đồ Việt Nam thời xưa và bản đồ do người Tây phương vẽ, còn các bản đồ Trung Quốc đều không có đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Bản đồ Việt Nam thời xưa
Đây là các bản đồ do người Việt Nam vẽ hoặc người nước ngoài (giáo sĩ) sống ở Việt Nam vẽ.
Bản đồ Hồng Đức
Được vẽ vào thế kỷ XV – 1490 đời Lê Thánh Tông, bản đồ Hồng Đức có lẽ là bản đồ đầu tiên của Việt Nam.
Bản đồ Hồng Đức vẽ đầy đủ các đơn vị hành chính (thừa tuyên) đồng thời có mô tả quần đảo Hoàng Sa. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đẩu thì qua bản đồ Hồng Đức ta thấy dân Việt đã khám phá và khai thác Hoàng Sa trong Biển Đông từ thời Lý, Trần.
Bản đồ Hồng Đức còn có tên là Hồng Đức bản đồ sách hoặc Hồng Đức địa dư chí. Cũng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đẩu, khi nghiên cứu kỹ bản đồ Hồng Đức và bản đồ Vương Quốc An Nam của Alexandre de Rhodes, ngay từ thời Lý, Trần, thì dân ta đã khai thác và làm chủ Biển Đông. Các Chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa và Bắc Hải để hành động tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau này người ta gộp chung vào Hồng Đức bản đồ và các bản đồ khác thành một bộ Hồng Đức bản đồ, không còn riêng lẻ một bản đồ Hồng Đức được vua Lê Thánh Tông ban hành năm Hồng Đức thứ 21 (1490).
Bản đồ sớm nhất về chủ quyền Hoàng Sa là bản đồ vẽ xứ Quảng Nam trong Toàn tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá, tự Công Đạo, biên soạn vào năm 1686. Trên bản đồ này chú thích khá cụ thể về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của quần đảo này, cũng như chủ quyền của Chúa Nguyễn được xác lập ở đó. Bản đồ có đoạn văn viết bằng chữ Hán, nội dung như sau: “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm, đến cửa Sa Vinh mỗi lần có gió tây nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đây, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đây lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc tiền tệ súng đạn.”

Đại Nam nhất thống toàn đồ
Đại Nam nhất thống toàn đồ là bản đồ được vẽ theo lệnh của vua Minh Mạng, hoàn tất vào năm 1838. Trên bản đồ này đã vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong lãnh hải Việt Nam, và ghi chú là Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa.

Bản đồ Việt Nam do người phương Tây vẽ
Từ năm 1525 cho đến 1886 có khoảng 100 bản đồ Việt Nam với đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tên các người vẽ bản đồ gồm có: Diogo Ribeiro, Gerolamo Gastaldi, Andreas Homen, G.B Ramusio, Bartholomeu Velho, Lazaro Luis, Abraham Ortelius, Geradus Mercator, Ludovico Georgio, Bartolomeu Lasso, Fernão Vaz Dourado, Joan Martin, Geradus Mercatoe, Van Langren, Edward Wright, P. Koerius Calavit, Josua Van Den Ende, Mercator, Frisscher, Juão Teixeira, Anotonio Sanches, Begin Ende Voortganch, Alexandre de Rhodes, Guilielno Blaeu, Richard Arkwan, Père Duval, Vicenzo Coronelli, P. Placide, Herman Moll, Henri Châtelin, Danville, Stauton, Taberd, J. Perthes, E.G Ravenstein, Diogo Ribeiro, Gerolamo de Verrazzano, Andreas Homen, Stauton, J. Perthes, E.G Ravenstein.

Bản đồ của Gastaldi
Bản đồ của Gastaldi được vẽ vào năm 1548, với bờ biển phía Bắc được xác định chính xác ở vị trí khoảng 21” về phía Bắc. Một nhóm đảo khác được đặt tên theo bản đồ của Ramusio là quần đảo Hoàng Sa, được chỉ ra là một bãi bồi với dòng chữ Canali donde Vengono gli liquij. Dòng chữ của Ramusio trên quần đảo Hoàng Sa được Gastaldi giải thích rõ hơn vào năm 1561, khi ông xác định chúng là “Canalli dove passapo i chini per andare a palohan, et a boru” (kênh đào mà người Trung Quốc đi qua trên đường đến Palawan và Borneo).
Combe China (Cochin-China), một thuật ngữ do người Bồ Đào Nha đặt ra và ban đầu được dùng để chỉ bất kỳ phần nào của Việt Nam ngoài Champa hoặc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, được đánh dấu bên cạnh Indochina. Thuật ngữ này có thể bắt nguồn từ từ Kuchi trong tiếng Mã Lai, mà bản thân từ này có lẽ bắt nguồn từ tiếng Trung “Chiao-Chi” hoặc Tonking. Tome Pires giải thích rằng Cochin-China là thuật ngữ được sử dụng ở Malacca “do Cauchy Coulam.” Người Bồ Đào Nha có thể đã thêm China vào Cochin để phân biệt với vùng Cochin thuộc Ấn Độ.
Một bản đồ Việt Nam thú vị khác được Daniel Tavernier biên soạn vào khoảng thời gian này (khi các tu sĩ Dòng Tên người Ý, Bồ Đào Nha và Pháp bắt đầu tổ chức các chuyến truyền giáo đến Việt Nam vào đầu thế kỷ 17). Ông đã thực hiện mười một đến mười hai chuyến hải hành đến Đàng Ngoài trong những năm 1640 từ các tiền đồn ở Indonesia. Daniel mất năm 1648, nhưng người anh trai nổi tiếng hơn của ông, Jean Baptiste, đã xuất bản bản đồ của Daniel vào năm 1679 như một phần bổ sung cho một bản ghi chép về hoạt động buôn bán kim cương của chính ông. Bản đồ và các dòng chữ khắc trên đó, cũng như bản ghi chép của tác giả về Đàng Ngoài, chứa đựng cả thông tin chính xác lẫn kỳ ảo.
Bản đồ do Livro da Marinharia FM Pinnto vẽ năm 1560, bản đồ do Gerard Mercator (1512 – 1594) vẽ có niên đại vào nửa sau thế kỷ XVI… cho đến những bản đồ được vẽ vào cuối thế kỷ XIX như: Bản đồ do Stielers Handatla vẽ năm 1891…
Tất cả đều thể hiện bằng hình vẽ hoặc bằng chữ viết vị trí của quần đảo Hoàng Sa (bao gồm cả quần đảo Trường Sa) trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới các tên gọi như Cauchi, Cochi, Cochinchina, Cochinchine… (tùy theo ngôn ngữ của từng nước phương Tây).
Trên một số bản đồ, địa danh Hoàng Sa còn được thể hiện hoặc ghi chú rất đặc biệt. Chẳng hạn, bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613 thể hiện quần đảo Frael (Hoàng Sa), bao gồm tất cả các đảo của Việt Nam từ nam vịnh Bắc Bộ cho đến hết vùng biển phía nam của Việt Nam, trừ Pulo Condor (Côn Đảo) và Pulo Cici (đảo Phú Quốc) được vẽ riêng.
Trong bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645, quần đảo Frael (Hoàng Sa) được vẽ nối liền với các đảo: Pulo Secca de Mare (Cù Lao Thu, tức đảo Phú Quý), Pulo Cambir (Cù Lao Xanh), Pullo Canton (Cù Lao Ré, tức đảo Lý Sơn), thành một chuỗi đảo liên hoàn thuộc lãnh thổ Cochinchina (Đàng Trong)…Đặc biệt, tấm bản đồ mang tên An Nam đại quốc họa đồ, viết bằng 3 thứ ngôn ngữ: Hán, Quốc ngữ và Latin, do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ năm 1838, có ghi hàng chữ Paracel seu Cát Vàng (nghĩa là Paracel hoặc là Cát Vàng) khẳng định chủ quyền Việt Nam. Cũng chính Giám mục Taberd trong bài viết in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal vào năm 1837 cũng khẳng định: Paracels, hay Pracel, tức là Hoàng Sa – Cồn Vàng, thuộc về Cochinchina (Giao Chỉ gần Chi na, chỉ tên nước ta), (theo Tiến Sĩ Trần Đức Anh Sơn phân tích).Tùy theo cách phát âm của mỗi tác giả vẽ bản đồ mà ghi tên nước ta. Có bản đồ ghi Cauchi tức Giao Chỉ, hoặc các dạng tự khác như Cochi, Cachi, Cachu, Cochin đều biểu hiện nguyên âm Giao Chỉ. Địa danh Giao Chỉ được ghi trên các bản đồ Tây phương ghi thành Cochi, Cauchi, Cauci, Quachym, Cochi..Còn tên Đàng Trong là Cochichina, Đàng Ngoài là Tunguin (Đông Kinh).
Tóm lại, theo các nhà nghiên cứu như nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu và Tiến Sĩ Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội TP Đà Nẵng cho biết: Không chỉ các bản đồ cổ Việt Nam, Trung Quốc mà rất nhiều bản đồ cổ của phương Tây đều khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
Đặc biệt, tấm bản đồ mang tên An Nam đại quốc họa đồ, viết bằng 3 thứ ngôn ngữ: Hán, Quốc ngữ và Latin, do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ năm 1838, có ghi hàng chữ Paracel seu Cát Vàng (nghĩa là Paracel hoặc là Cát Vàng) khẳng định chủ quyền Việt Nam.
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/i-to-p/nguyen-trung-nam/
Tham khảo
Nguyễn Đình Đẩu- Giới Thiệu Một Số Bản Đồ Cổ Thềm Lục Địa, Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam. Tạp Chí Xưa Nay. Xuân Canh Dần. 2010.
Thomas Suarez – Early Mapping of Southeast Asia. Periplus Editions. 1999.
Hoàng Sa – Trường Sa. Tư liệu và quan điểm của học giả quốc tế. (Chủ biên). Chuyên khảo, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2014.
Biển Đông và Hải Sử-Những Dấu Tích Việt Nam Trên Biển Đông- Ôn Nguồn Sử Việt. 2021.








