ĐINH VĂN TUẤN
Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện trong lịch sử vào năm 1804, khi sứ Thanh là Án sát Quảng Tây Tề Bố Sâm đến Thăng Long để tuyên phong vua Gia Long là “Việt Nam Quốc vương.” Vua Gia Long ban chiếu định ngày 17 tháng Hai, kính cáo Thái miếu, cải chính quốc hiệu là Việt Nam. Việc gì quan hệ đến quốc hiệu và thư từ báo cáo với nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được quen xưng hiệu cũ là An Nam nữa.
Về sự kiện vua Gia Long xin đổi quốc hiệu, Đại Nam thực lục cho biết: Vua Gia Long sai Lê Quang Định sang cầu phong và xin đổi quốc hiệu, trong quốc thư nói, các đời trước mở mang cõi viêm bang, mỗi ngày một rộng, bao gồm cả các nước Việt Thường, Chân Lạp, dựng quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối hơn 200 năm. Nay đã bình định được toàn cõi Việt, nên khôi phục hiệu cũ để chính danh.
Vua Thanh cho rằng chữ Nam Việt giống tên nước cũ của Quảng Đông, Quảng Tây nên không muốn cho. Vua hai ba lần phục thư để biện giải, lại nói nếu vua Thanh không cho thì không chịu phong. Vua Thanh sợ mất lòng nước ta, mới dùng chữ Việt Nam để đặt tên nước, lấy chữ Việt đặt ở trên để tỏ rằng nước ta nhân đất cũ mà nối được tiếng thơm đời trước, lấy chữ Nam đặt ở dưới để tỏ rằng nước ta mở cõi Nam giao mà chịu mệnh mới, tên xưng chính đại, chữ nghĩa tốt lành, mà phân biệt với tên gọi cũ của Lưỡng Việt ở Trung Quốc.
Chỉ dụ của vua Gia Khánh trong Thanh thực lục cũng nói: Ngày 6 tháng Tư năm 1803 Quân Cơ Đại thần Tôn Ngọc Đình dâng sớ tấu xin chiếu chỉ về việc tờ bẩm phúc đáp của Nguyễn Phúc Ánh, trong đó cho rằng lời dụ lần trước là ý kiến riêng của Tôn Ngọc Đình nên lần này vẫn thỉnh phong quốc hiệu Nam Việt.
Nguyễn Ánh xưng rằng nước mình trước kia có đất Việt Thường, nay lấy thêm đất An Nam; không dám quên gốc đã giữ đời nối đời, bèn dùng tên cũ Nam Việt, đấy là tình thực. Gia Khánh lệnh Tôn Ngọc Đình truyền hịch cho Nguyễn Ánh như sau: Viên Quốc trưởng có lòng thành, lần trước cung kính giao nạp sắc ấn trước đây của Nguyễn Quang Toản bỏ lại, cùng trói giải bọn giặc cướp ngoài biển; lại cung kính thỉnh mệnh, nên được soi xét kỹ tấm lòng thành. Việc cầu phong và dâng biểu cống; đặc dụ chấp thuận. Đến việc xin đặt tên nước là Nam Việt, thì nước này trước đây có đất cũ Việt Thường, sau lại được toàn lãnh thổ An Nam; vậy Thiên triều phong quốc hiệu cho dùng hai chữ “Việt Nam;” lấy chữ “Việt” để đằng trước tượng trưng cương vực thời xưa; dùng chữ “Nam” để đằng sau, biểu tượng đất mới được phong; lại còn có nghĩa là phía nam của Bách Việt; không lẫn lộn với tên nước cũ “Nam Việt.”
Từ đó đến nay, đa số các các sử gia, học giả đều mặc nhiên cho quốc hiệu Việt Nam là do vua Gia Khánh nhà Thanh tự ý đảo ngược hai chữ “Nam Việt” do vua Gia long xin đổi quốc hiệu. Tuy nhiên vẫn có ý kiến khác cho rằng chính vua Gia Long đã quyết định đảo ngược Nam Việt thành Việt Nam.
Nguyễn Triệu cho biết: Ở Quảng Tây sứ bộ Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh và Lê Quang Định đã cùng nhau thảo luận và đồng ý muốn đem chữ “Việt Nam” thay cho “Nam Việt.” Triều đình thấy lời tâu của Lê Quang Định hữu lý và hợp với ý của Nguyễn Đăng Sở nên Vua Gia Long lấy làm hài lòng. Rất tiếc là Nguyễn Triệu đã không cho biết đã dựa vào tài liệu nào để chứng minh Lê Quang Định và Nguyễn Đăng Sở đều cùng ý kiến về việc đổi hai chữ “Nam Việt” thành Việt Nam. Nên thông tin này tỏ ra thiếu giá trị thuyết phục.
Trần Văn Tuân trong Nguyễn Triều Long hưng sự tích (năm 1819) cho biết: “Về việc lập các sứ bộ giao thiệp với Thanh triều, trong đó có việc xin đổi quốc hiệu, nhân vì họ Vương là quan Tri phủ Thái bình tỉnh Quảng tây đã xoay xở trong việc trao đổi thư qua thư lại nhiều lần với ta bắt bẻ hai chữ Nam Việt, viện lẽ rằng : Đông Việt và Tây Việt ngày xưa tức là Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay. Nếu đã cho tên tất phải cho đất. Đó là việc chưa được thỏa đáng. Cho nên sứ bộ chưa lên đường được. Đức Thế tổ bèn xuống nghị minh biện chữ Nam Việt đưa sang Tàu. Trong công văn ấy viện lẽ rằng: Từ xưa nước Nam vốn dĩ đã mang tên Việt Thường. Huống chi trong số triều thần Bắc quốc có Lý giác Phong đã dùng hai chữ Nam Việt trong bài cổ thi của ông. Bởi các lý do đó, xin đổi quốc hiệu làm Việt Nam. Sau khi có lời minh biện đó, Vương Tri phủ Thái bình mới chịu đem việc này cụ bẩm lên dinh Tuần phủ Quảng Tây để chuyển tấu lên vua Thanh. Gia Khánh Đại Hoàng đế châm chước định lại quốc hiệu của ta làm Việt Nam và chuẩn cho sứ bộ tiến kinh triều yết.”
Dù ý kiến đảo ngược Nam Việt thành Việt Nam là do các sứ thần Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định hay Nguyễn Đăng Sở thì dĩ nhiên quyết định cuối cùng vẫn là của vua Gia Long.
Như Trịnh Hoài Đức đã viết trong bài Tự tự của sách Cấn Trai thi tập: “Đốc phủ Lưỡng Quảng bảo chúng tôi ở tỉnh Quế chờ sứ bộ sau đến rồi cùng tiến kinh và cho rằng trong biểu thỉnh phong có lời xin phong quốc hiệu là Nam Việt, rất giống với hiệu cũ Lưỡng Việt nên sợ bị quân cơ đại thần của Thiên triều quở trách. Tuần phủ Quảng Tây là Tôn Ngọc Đình bắt trả lại nguyên biểu, khiến đổi lại quốc hiệu cũ là An Nam. Nước ta không chịu theo mệnh vì An Nam từng là hiệu cũ. Nên Tuần phủ Tôn Ngọc Đình, Bố chính Công Nga, Án sát Thanh An Thái, ân cần mời sứ bộ, nhiều lần biện giải khúc mắc, khuyên sứ ta nên nhanh chóng sửa biểu văn gửi về tâu. Chúng tôi bày tỏ việc này chẳng phải là việc của người xuất sứ mà do Hoàng thượng quyết định. Việc xin quốc hiệu, bên kia thì muốn theo yêu cầu của họ, nước ta thì không chịu nghe theo. Thư từ qua lại, bàn luận chưa xong. Tổng trấn Bắc Thành đã cho người qua tỉnh Quế thám thính tin tức. Tháng Tư năm 1803, Thiên triều bàn nghị dựa theo tờ biểu sau cùng đã cho phép sứ bộ hoãn lộ trình tiến kinh. Từ đó mới được phong quốc hiệu là Việt Nam, tất cả đã qua bàn nghị điều hoà, tốt đẹp và trọn vẹn đôi bên.”
Qua đó có thể thấy rõ thái độ cương quyết của Gia Long không kém Gia Khánh khi thư từ về việc đổi quốc hiệu. Gia Long còn gây áp lực nếu Gia Khánh không đổi quốc hiệu, sẽ không chịu phong. Rất căng thẳng và nan giải. Cuối cùng Gia Khánh đã phải chuẩn nhận yêu sách đổi quốc hiệu của Gia Long, tuy không phải là Nam Việt mà là Việt Nam nhưng cũng chứng tỏ sự nhượng bộ của Thiên triều.
Lần đầu tiên trong lịch sử các triều đại Việt Nam, vua Gia Long đã dám đối mặt với thiên triều Trung Quốc để công khai xin thay đổi quốc hiệu cũ của các đời trước là An Nam. Có thể nói, trước Gia Long, không một vị vua nào ở các triều đại trước làm được. Đây là một sự khẳng định mạnh mẽ về chủ quyền độc lập của đất nước ta.
Liên quan đến quốc hiệu Việt Nam, chúng tôi đặc biệt chú ý đến Trịnh Hoài Đức vì tháng Tư năm 1802, Gia Long sắc phong Trịnh Hoài Đức làm chánh sứ sang nhà Thanh tiến cống, hai phó sứ là Ngô Nhân Tĩnh, Huỳnh Ngọc Uẩn. Phái đoàn Trịnh Hoài Đức đến tỉnh Quảng Đông vào tháng Bảy, trình với quan Tổng đốc Lưỡng Quảng là Giác La Cát Khánh để làm tấu dâng. Tháng Mười, nhà Thanh có chỉ cho đoàn sứ vào kinh triều kiến. Nhưng vào tháng Mười Một, Lê Quang Định được Gia Long phong làm Thượng thư Binh bộ sung làm Chánh sứ, sang Trung Quốc xin phong và đổi quốc hiệu là Nam Việt. Ở Quảng Đông, Trịnh Hoài Đức cũng đã được tin báo về đoàn sứ của Lê Quang Định sắp đến. Đốc phủ Lưỡng Quảng bảo đoàn sứ Trịnh Hoài Đức lưu ở tỉnh Quế chờ sứ bộ sau đến một lượt rồi cùng tiến kinh.

Trong Cấn Trai thi tập 艮齋詩集 của Trịnh Hoài Đức, ở tập thơ Quan quang tập 觀光集, gồm những bài thơ của Trịnh Hoài Đức sáng tác trong thời gian đi sứ Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1804, có bài thơ Họa nguyên vận bài thơ tú tài Diêu Kiến đất Vân Gian gửi tặng (和雲間姚建秀才見贈原韻) Trịnh Hoài Đức làm bài này khi vừa mới đặt chân đến đất Trung Quốc năm 1802, đáng chú ý ở câu thơ: “越南猶後貢茅臣” (Việt Nam, vẫn theo lệ cống nạp) cho thấy hai chữ Việt Nam 越 南 (xem hình) đã xuất hiện trước khi sứ thần Lê Quang Định đi sứ (tháng Mười Một năm 1802) và trước khi nhà Thanh phê chuẩn quốc hiệu Việt Nam cho nước ta vào tháng Tư năm 1803. Cũng trong khi chờ sứ bộ Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức đã làm ba mươi bài thơ Tháng mùa Đông, từ Quảng Đông đi đường thủy sang tỉnh Quảng Tây hội với đoàn sứ thỉnh phong, lên đường tiến kinh, giữa đường cùng hai phó sứ Ngô Nhân Tĩnh, Huỳnh Ngọc Uẩn làm ba mươi bài thơ theo vần Lạp Ông (冬月由廣東水程往廣西省會請封使取路進京道中吟同吳黃兩副使次笠翁三十韻).
Trong đó, ở bài thơ thứ 28 Trịnh Hoài Đức đã làm hai câu cuối cùng như sau: “擬 酬 二 百 年 孤 望, 皇 化 從 玆 到 越 南” (Để đền đáp nỗi mong chờ từ hai trăm năm trước. Ơn vua từ đây thấm nhuần nước Việt Nam), cũng xuất hiện hai chữ VIỆT NAM 越 南 để gọi nước ta. Đáng chú ý, vào năm 1802 Trịnh Hoài Đức đã dùng hai chữ Việt Nam trước sự kiện nhà Thanh chuẩn nhận quốc hiệu Việt Nam là một điều rất khác thường vì vào thời điểm này, ở nước ta, quốc hiệu vẫn thường dùng là Đại Việt, An Nam, Nam Việt.
Như đã dẫn ở trên, Trịnh Hoài Đức nhận được thông tin về sứ bộ Lê Quang Định sắp đến Trung Quốc để cầu phong và xin đổi quốc hiệu là “Nam Việt”, việc này đã gây quan ngại cho Đốc phủ Lưỡng Quảng và khiến Trịnh Hoài Đức lo lắng, băn khoăn. Trong khi chờ đợi sứ bộ Lương Quang Định, Trịnh Hoài Đức đã nghĩ ngợi nhiều về hai chữ “Nam Việt” và đã xuất ý thành thơ, gửi gắm một gợi ý về sự đảo ngược từ “Nam Việt” thành Việt Nam nhằm báo đáp ơn vua : “Để đền đáp nỗi mong chờ từ hai trăm năm trước.” Việc xin đổi quốc hiệu đã diễn ra căng thẳng, giằng co vì nhà Thanh muốn theo yêu cầu của họ, nước ta lại không chịu nghe theo. Nhưng cuối cùng lại bàn nghị điều hoà, trọn vẹn, chứng tỏ không phải quốc hiệu Việt Nam chỉ do một bên nhà Thanh quyết định, không phải nhà Thanh tự ý đảo ngược trật tự của 2 chữ Nam Việt nhưng chắc chắn phải có sự gợi ý, đề xướng từ phía các sứ giả Việt và từ triều đình Gia Long.
Cũng trong Cấn Trai thi tập, có Bài bạt đọc Cấn Trai thi tập 讀艮齋詩集跋 của Cao Huy Diệu viết năm 1818, đã khen ngợi Trịnh Hoài Đức như sau: “出而奉使, 水達海程, 陸穿新驛, 委曲於請封之表, 辨析於稱號之書, 其難中之難又如此” (Ra ngoài nước thì phụng mệnh đi sứ, theo đường biển và đường bộ băng qua các dịch trạm, uyển chuyển khéo léo trong tờ biểu xin phong, biện luận phân minh trong văn thư bàn về quốc hiệu, đó thật là cái khó nhất trong những điều khó). Đúng ra, nhiệm vụ sang Thanh xin cầu phong và đổi quốc hiệu là của chánh sứ Lê Quang Định, nhưng qua lời của Cao Huy Diệu thì rõ ràng Trịnh Hoài Đức – trước đó có nhiệm vụ tiến cống mà thôi – lại đóng một vai trò quan trọng trong việc thương thuyết, hòa giải giữa Việt – Thanh liên quan đến quốc hiệu.
Từ những chứng cứ trên, rất có thể chính Trịnh Hoài Đức là người đã đưa ra một giải pháp kịp thời, hợp tình hợp lý với việc đảo ngược trật tự từ hai chữ “Nam Việt” mà Gia Long đã yêu sách thành hai chữ Việt Nam và dĩ nhiên cũng được Lương Quang Định đồng ý. Đề xướng này được gửi về báo vua Gia Long để nghị triều và được quần thần tán thành, trong đó có Nguyễn Đăng Sở. Cuối cùng Gia Long cũng chấp thuận, tuy nhiên vì thể diện một quốc vương nên vua có thể chỉ ngầm ý báo cho Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định thay vua linh hoạt ứng xử để thuyết phục Gia Khánh chuẩn nhận quốc hiệu Việt Nam (thay vì nhất định là Nam Việt).
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin đưa ra một dấu tích về quốc hiệu Việt Nam 越 南, lần đầu tiên xuất hiện trước khi Gia Long ban chiếu chính thức đổi quốc hiệu Việt Nam và vinh dự này lại thuộc về Trịnh Hoài Đức!

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đi sứ, trên đường trở về nước, đi qua Ngô Khê, Hồ Nam, Trung quốc, sứ giả Trịnh Hoài Đức đã làm một bài thơ Đề khắc đá kính ở Ngô Khê (題刻浯溪鏡石) vào ngày Đoan Ngọ năm Quý Hợi 1803, điều đặc biệt là bài thơ này đã được cho khắc vào vách núi ở Ngô Khê theo thư pháp, thủ bút của Trịnh Hoài Đức và vẫn còn đến nay. Trên vách đá đã khắc dòng chữ 越南國 Nước Việt Nam, (xem hình). Quốc hiệu VIỆT NAM 越 南 đã lưu dấu ấn đầu tiên tại đất nước Trung Quốc như một lời khẳng định mạnh mẽ về một quốc gia thống nhất, hoàn toàn độc lập ngang hàng với Thanh triều.
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/dinh-van-tuan/

