DOÃN CẨM LIÊN
Nói về sự chú trọng nhà thờ tổ của một dòng họ thì dường như người miền Bắc và miền Trung có nhiều chăm chút hơn người miền Nam.
Nhận xét này của người viết có thể hơi chủ quan, nhưng cũng phải có lý do của nó!
Có phải chăng do là địa hình miền Nam đất rộng mênh mông, cò bay thẳng cánh, sông lạch chằng chịt là Đồng Bằng sông Cửu Long. Nơi mà người dân lại đa số muốn ở sát cạnh bờ nước, bờ ruộng để dễ dàng và thuận tiện kiếm ăn. Do vậy họ khó có thể làm thành quần thể hay một cụm dân cư riêng biệt như vùng quê Bắc và Trung bộ? Và vì thế địa lý vùng miền và tâm lý con người đã khiến chúng ta thấy đền thờ họ tộc của các dòng họ ở nhiều nơi trên vùng đất miền Trung và miền Bắc, hơn ở miền Nam – đồng bằng sông Cửu Long, là vậy?
Bài viết này của tôi nói về đền thờ họ tộc Hồ, cụ Hồ Trọng Hiếu, mà nhiều người biết đến với cái tên Tú Mỡ, nhà thơ trào phúng nổi tiếng của Việt Nam.
Tôi gọi ông Tú Mỡ – Hồ Trọng Hiếu, thuộc đời thứ 14 của dòng họ Hồ là “ông ngoại” và xưng là “cháu.” Mẹ tôi là con gái thứ ba trong bảy người con của ông. Nay các con của ông cũng đã theo bố mẹ về trời cả rồi.
Nhân dịp Tết về chơi Hà Nội, thăm họ hàng nội ngoại, lại sẵn có chuyến hành hương về Nghệ An quê tổ họ Hồ, tôi bèn xin được tháp tùng với các anh chị em và các cháu.
Trực chỉ từ Hà Nội thẳng về Nghệ An, chỉ bốn tiếng đồng sau là chúng tôi đã có mặt ở Tổ Đình Đại Tộc họ Hồ, làng Quỳnh Lưu. Đến đầu cổng làng, đường xá bỗng đông đúc, tấp nập hẳn lên. Dòng xe hơi của các con cháu xếp nối đuôi nhau ở hai rìa đường. Người tràn ngập trong sân ngoài đền thờ, chắc hẳn đây toàn là những hậu duệ của các họ Hồ khắp mọi nơi tụ về.
Ai nấy đều tất bật bưng lễ hoa trái, bánh, rượu, nhang đèn và tịnh tài vào cúng Tổ. Ở hậu liêu nhà ăn là dãy bàn cả trăm mâm nhôm và trăm bình hoa được dọn ra sẵn, để các con cháu dùng bày lễ vật. Người đến trước sắp sửa trước để dâng cúng trước, người đến sau làm sau. Hoa, trái, nhang đèn, rượu bánh nhiều vô số trên bàn thờ, còn một số rất nhiều khác được sắp xếp ngay ngắn ở gian phòng phía sau. Chắc đây là vật phẩm đã cúng nay dọn xuống lấy chỗ cho đợt khác được dâng lên.
Nhìn cảnh người, vật lễ như thế, có thể ngầm hiểu con cháu họ Hồ ăn nên làm ra, tiền nong rủng rỉnh để mua lễ vật dâng cúng. Tiền con cháu kiếm được còn được dùng xây đền thờ họ, lăng mộ cho cha mẹ, ông bà, tổ tông. Nhìn chung là thấy sự sung túc.

Bước qua cổng đình Hồ Đại Tộc là sân đình. Hai khoảng sân rộng, trước và sau là đền thờ. Trước bàn thờ tổ lại có một khoảng trống rộng, giống như sân khấu dùng cho việc hành lễ. Một bia thếp vàng được dựng tại trước đền là để con cháu chiêm ngưỡng và nhớ đến những vị cha ông đã làm rạng danh họ Hồ.
Trên bia ghi rõ tên những vị là niềm tự hào cho tỉnh làng và cho cả nước Việt Nam. Đầu bảng có tên cụ Hồ Đắc Di (1900-1984), kế đến cụ Hồ Trọng Hiếu (1900 – 1976). Hai cụ Hồ được nằm ở đầu bảng, được ngầm hiểu lịch sử này khởi đầu từ Thế kỷ thứ 20.
Còn các con cháu hiện diện hôm nay, trong đó có tôi, là người thuộc giữa Thế kỷ 20 và đầu Thế kỷ 21.
Thế nhưng theo sử Việt Nam thì cụ Hồ Hưng Dật là người đầu tiên lập họ Hồ tại Nghệ An. Ông đến xứ Nghệ với chức vụ Thái thú Diễn Châu, thuộc Nghệ An – Hà Tĩnh.
Cụ Hồ Hưng Dật sinh năm 907 tại Vũ Lâm, Chiết Giang, Trung Quốc; thời Ngũ Đại – Thập Quốc. Cụ được cử sang cai trị vùng đất chiếm đóng và xây dựng làng ấp, tổ chức quân sự hành chính và canh nông trồng trọt tại xã Quỳnh Lưu – Thanh Hóa. Tiểu sử cụ viết như thế làm người đời sau liền đặt câu hỏi:
-Vậy ai là người bị đồng hóa? Người đến cai trị hay người sở tại?
Câu hỏi mà không cần câu trả lời!
Rồi thì… Vua Hồ Quý Ly lên ngôi năm 1400, cũng thuộc tộc Hồ của cụ Hồ Hưng Dật. Rồi đến Hồ Nguyên Trừng một danh tướng và là một kỹ sư chế tạo súng thần cơ tại nước Việt. Nếu nói về văn chương thi phú thì họ Hồ có bà Hồ Xuân Hương, chúa Thơ Nôm. Bà là hiện tượng độc đáo trong nền văn học , mang đầy tính duyên dáng, táo bạo, thông minh có một không hai. Kế đến là nhà thơ trào phúng Tú Mỡ – Hồ Trọng Hiếu, thuộc đời thứ 14.

Cụ Hồ Trọng Hiếu sinh ngày 14 tháng Ba năm 1900 tại phố Hàng Hòm, mất ngày 13 tháng Bảy năm 1976 tại Láng – Hà Nội.
Cụ làm thơ trào phúng, với giọng thơ có vị ‘chua’ dùng làm công cụ phê phán những thói hư tật xấu của người đời và xã hội, như bài thơ có tên “Nhắn nhủ ông nghị” dưới đây:
Áo sa, khăn nhiễu, giầy ban
Kính trắng, gọng vàng, tay cắp cặp da
Ấy là ông nghị vùng ta
Xúng xa xúng xính đi ra hội đồng
Mấy lời nhắn nhủ cùng ông
Có ra hội đồng thì miệng phải to
Xin đừng khúm núm co ro
Nói không ra tiếng họ cho rằng đần
Cũng đừng ngẩng mặt tần ngần
Ngồi nghe diễn thuyết ngủ dần thiu thiu…
Bên cạnh thơ, cụ còn là soạn giả chèo – tuồng. Sức sáng tác của cụ mạnh mẽ và dài suốt 60 năm, từ 1916 đến tận 1976, năm cụ mất. Nhà thơ Tú Mỡ đã từ chối thẻ đảng vì muốn dòng thơ của mình giữ được tính chân thật và trung tính. Có phải chăng do Cụ thấy các bạn thơ của mình khi vào đảng rồi thì ngòi bút bị bẻ cong như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận và nhiều người khác.
Nhìn lên sân đền là một hình ảnh đẹp và âm thanh rộn rã. Buổi lễ khởi đầu bằng hồi chiêng trống bát nhã, xướng danh các vị tổ, xướng danh các vị mạnh thường quân đã đóng góp cho đình họ Hồ. Âm thanh và màu sắc là ấn tượng đẹp, khiến quan khách tràn đầy niềm hưng phấn và cũng làm một dấu ấn sâu đậm trong tâm thức người tham dự. Hằng năm, nó sẽ nhắc nhở người người nhớ đến cảm giác này mà quay về làng quê Nghệ An.
Câu chuyện về tổ đình Hồ Đại Tộc được kể rằng: Trước đây khoảng hơn mười năm về trước, diện tích đình chỉ rộng bằng nửa ngày nay. Cổng đình nhỏ, bàn thờ và lư hương cũng nhỏ vì túi tiền con cháu lúc ấy còn nhỏ. Khi ấy toàn dân cùng nghèo đói, chỉ mong sống còn, ăn đủ no, áo đủ ấm là quý rồi. Do vậy việc lễ bái tổ tiên cũng đơn giản. Và rồi chiến tranh chấm dứt, cuộc sống ổn định, đất nước phát triển ra tầm thế giới. Việt Nam nói chung, thành phố Nghệ An nói riêng trở thành nguồn cung cấp lao động cho các quốc gia kề cận như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc… Dân xứ Nghệ đã có nhiều phấn đấu để có một “xuất đi” lao động nước ngoài. Họ bán sức làm việc, cả trí óc lẫn cơ bắp để đổi lại có được đồng tiền mang về giúp đỡ gia đình cha mẹ anh em. Người này mách người kia con đường kiếm tiền và từ đó số người dân tỉnh Nghệ An đi làm việc xa xứ ngày càng đông, tiền mang về quê hương càng tăng. Do thế, tổ đình Hồ Đại Tộc cũng như các đình tổ họ khác, ngày càng to vì con cháu đạt được nguyện ước. Đền thờ cụ tổ Hồ Hưng Dật nay đã được trùng tu rộng lớn ra cả vài ba hecta và trở thành danh lam thắng cảnh của Nghệ An cho du khách tham quan và chiêm ngưỡng. Nói cách khác, ngày lễ Đại Tộc Hồ là sự nhớ ơn, sự quay trở về quê hương và cúng lễ tổ tiên ông bà.

Nếu nhìn quang cảnh này từ ngoài thế giới vào Việt Nam thì có lẽ không có dân tộc nào có “lòng biết ơn” tổ tiên to lớn bằng người Việt.
Nhưng ranh giới giữa hành động tỏ lòng biết ơn đến việc mê tín dị đoan rất mong manh. Nếu không cẩn thận trong việc cúng lễ, nhang đèn, dâng lễ vật thì người ta dễ bị hút theo tà đạo lắm!
Nói thế là do vì ở đền thánh Hoàng Mười, người viết đã chứng kiến một dãy hàng bán đồ vàng mã ở ngoài cửa đền. Một dãy những con ngựa, voi, thoi vàng, tiền Việt có và có cả xấp tiền 100 USD… xếp hàng dài chờ khách mua. Những con vật được làm bằng giấy màu sặc sỡ, tô vẽ mặt mũi rất đẹp và hẳn là không ít tiền. Nhưng những thứ này chỉ để đốt cho người âm hưởng. Bằng nghĩa với đốt tiền!Đền thờ Đại Tộc họ Hồ xem ra có vẻ giống như các đền thờ khác. Vì có cùng khuynh hướng chung của thời nay và của người thời nay: có nhiều tính mê tín hơn là kính ngưỡng tổ tiên.
Nhưng nếu nhìn qua lăng kính “tùy hỷ” thì chúng ta mừng cho dân tộc Việt nay đã thoát khỏi tính “vô thần,” không biết sợ luật nhân – quả. Khởi đầu với niềm tin “xin và được” của mê tín, nay biết thêm lẽ “nhân và quả” để biết tránh làm điều ác, nghĩ ác, hành sử ác là quý rồi. Nay mai rồi sẽ phát triển thêm tính “từ bi,” làm điều tốt lành và tránh điều dữ là đang đi đúng đường của tính “nhân bản” và “nhân văn” mà các nước tiên tiến đã và đang đi.
Doãn Cẩm Liên
California, 12/3/2026
Similar articles: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/sang-tac/ky-su-but-ky/

“Phở” đức tụng
TÚ MỠ – HỒ TRỌNG HIẾU
Trong các món ăn “quân tử vị,”
Phở là quà đáng quý trên đời.
Một vài xu, nào đắt đỏ mấy mươi,
Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ.
Này bánh cuốn, này thịt bò,
này nước dùng sao nhánh mỡ,
Ngọn rau thơm, hành củ thái trên.
Nước mắm, hồ tiêu, cùng dấm, ớt điểm thêm,
Khói nghi ngút đưa lên thơm ngát mũi.
Như xúc động tới ruột gan bàn phổi,
Như giục khơi cái đói của con tì.
Dẫu sơn hào, hải vị khôn bì,
Xơi một bát nhiều khi chưa thích miệng.
Kẻ phú quý cho chí người bần tiện,
Hỏi ai là đã nếm không ưa,
Thầy thông, thầy phán đi sớm về trưa,
Điểm tâm phở, ngon ơ và chắc dạ.
Cánh thuyền thợ làm ăn vất vả,
Phở xơi no cũng đỡ nhọc nhằn.
Khách làng thơ đêm thức viết văn,
Được bát phở cũng đỡ băn khoăn óc bí…
Bọn đào kép, con nhà ca kỹ,
Lấy phở làm đầu vị giải lao.
Chúng chị em sớm mận tối đào,
Nhờ có phở cũng đỡ hao nhan sắc.
Phở là đại bổ, tốt bằng mười thang thuốc bắc,
Quế, phụ sâm, nhung chưa chắc đã hơn gì.
Phở bổ âm, dương, phế, thận, can, tì,
Bổ cả ngũ tạng, tứ chi, bát mạch.
Anh em lao động đồng tiền không rúc rích,
Coi phở là môn thuốc ích vô song.
Các bậc vương tôn thường chả phượng, nem công,
Chưa chén phở, vẫn còn chưa đủ món.
Chớ chê phở là đồ ăn hèn mọn,
Dẫu sao thành Ba-Lê còn phải đón phở sang.
Cùng các cao lương vạn quốc phô trương,
Ngon lại rẻ, thường hay quán giải.
Sống trên đời, phở không ăn cũng dại,
Lúc buông tay ắt phải cúng kem.
Ai ơi, nếm thử kẻo thèm.
Nguồn:
Tú Mỡ Toàn Tập

