TRÙNG DƯƠNG
Trong bầu không khí bất ổn hiện nay—chiến tranh ở Trung Đông giữa Mỹ và Do Thái với Iran đã khiến các quốc gia vùng Vịnh bị liên hệ; sự tê liệt của Quốc hội Hoa Kỳ trong việc giải quyết xung đột chính trị quốc gia; việc giá xăng dầu gia tăng ảnh hưởng không chỉ đời sống của dân Mỹ mà toàn thể thế giới; và nhiều nữa—Ukraine, một quốc gia đang tan nát bởi bom đạn Nga và trở thành lệ thuộc vào các đồng minh Âu châu và Hoa Kỳ về vũ khí, bỗng trở thành một thứ “cứu tinh” của Trung Đông.
“Điện thoại tại các công ty quốc phòng Ukraine ‘reo vang không ngớt’ khi Trung Đông đi tìm sự hỗ trợ,” tít một bài báo trên tờ New York Times loan tải ngày 13/3/2026.
Một tít khác do cũng báo này loan tải ngày 19/3:
“Hơn 200 chuyên gia Ukraine đang có mặt tại Trung Đông để hỗ trợ chống máy bay không người lái, ông Zelensky cho biết
“Tổng thống Volodymyr Zelensky cho biết 11 quốc gia trong khu vực đã đề nghị Kyiv hỗ trợ. Nga đã sử dụng các loại máy bay không người lái [drones] này để tấn công Ukraine trong nhiều năm qua.”
Tôi đón nhận các tin trên với niềm phấn khởi, như đón nhận một làn gió nhẹ trong cơn nắng hạ cháy da.
Không thể không cảm thấy thế khi trong bốn năm qua, tin tức về Ukraine là thứ tôi theo dõi mỗi ngày bên cạnh các thông tin mà tôi quan tâm khác.
Bà chị tôi, một người chẳng bao giờ quan tâm đến chuyện thời sự thế giới, trong những buổi gia đình họp nhau qua Zoom, đọc kinh cho người chồng đã qua đời, đã đề nghị thêm vào đó bài hát rất xưa bà hát khi còn bé tí, nhưng thay vào chữ Việt Nam bằng Ukraine. Mẹ ơi đoái thương xem nước Ukraine, trời u ám chiến tranh điêu tàn, Mẹ hãy giơ tay ban phúc bình an, đưa Ukraine qua phút nguy nan.
Trên bốn năm trước, trước khi xảy ra vụ Nga đem 200 ngàn quân và hàng ngàn xe tăng sang xâm lăng Ukraine vào ngày 24 tháng 2, 2022 trong một cái gọi là “Chiến dịch Quân sự” (Military Operation), tôi chỉ lờ mờ biết về quốc gia này qua vài biến cố lớn.
Như vụ nổ lò nguyên tử Chernobyl kinh hoàng vào năm 1986, và việc khám phá ra việc có một số ông bà cụ đã lén dọn về vùng cấm địa để sống những năm tháng cuối đời bất chấp phóng xạ. Khi nghe tin về cộng đồng các cụ phần lớn là phụ nữ này, tôi đã cảm hứng viết một bài, tựa là “27 năm sau vụ lò nguyên tử Ukraine nổ kinh hoàng làm rúng động thế giới, một cộng đồng các cụ bà vẫn sống vui vẻ trong cấm địa Chernobyl,” hiện lưu tại đây. Rồi công trình xây đại vòm (superdome) để ngăn phóng xạ từ lò Chernobyl vẫn rò rỉ sau nhiều thập niên, qua phim tài liệu “Building Chernobyl’s Mega Tomb” do NOVA thực hiện, có thể xem tại Amazon Prime Video.
Một lần, nghe chị bạn kể mới đi du lịch Ukraine về, mặc dù biết chị đã đi du lịch cùng khắp hầu như mọi ngõ ngách trên thế giới, nhưng tôi vẫn thầm nghĩ một cách thiếu hiểu biết, là sao chọn Ukraine, nơi đó có gì, nhưng không hỏi.
Tôi cũng đã xem phim tài liệu “Winter on Fire: Ukraine’s Fight for Freedom,” do Netflix sản xuất năm 2015, ghi lại 93 ngày đầy biến động của phong trào Euromaidan tại Ukraine (2013–2014). Phim theo chân những người dân bình thường – sinh viên, linh mục, bác sĩ, nghệ sĩ, công nhân – khi họ xuống đường phản đối quyết định của chính phủ thân Nga dạo ấy đã từ bỏ thỏa thuận hội nhập châu Âu để quay lại gần hơn với Nga. Và họ đã thành công, song từ đó là một chuỗi những biến cố bất hạnh đầy thử thách khác cho 40 triệu người khao khát độc lập tự do.
Cảm kích đấy, nhưng Ukraine vẫn chưa thực sự ngự trị trong tôi khiến tôi có nhu cầu theo dõi mỗi ngày.
Cho đến khi đọc tin Nga kéo quân sang gọi là “dọn đường” đón Ukraine về với “mẫu quốc” Nga. Và những gì xảy ra sau đó.
Một sớm một chiều, Ukraine chính thức “dọn vào” trong tâm tư tôi.
Khi đọc tin vị tổng thống của một quốc gia đang bị xâm lược từ chối sơ tán với câu nói ngắn gọn mà dứt khoát: “Tôi cần đạn dược, không cần một chuyến đi,” tôi đã dừng lại, lặng người, rất lâu.
Một câu nói rất giản dị, chân thành, song kiên quyết. Trong bối cảnh của một cuộc rút quân hỗn loạn chết người xảy ra cách đó không lâu của quân đội Mỹ tại Afghanistan sau hai thập niên tham chiến đẫm máu và một công cuộc kiến quốc bỏ dở. Và đã hẳn, đối với tôi và có lẽ cả nhiều người Việt hải ngoại khác, lồng trong cảnh hỗn loạn đó là hình ảnh không thể quên về cuộc di tản bi thương cách đây đã gần nửa thế kỷ. Và những cuộc vượt biển đầy chết chóc, tang thương, kéo dài cà thập niên sau đó.
Nhưng chính sự giản dị của câu nói ngắn gọn ấy lại mang một sức nặng đạo đức hiếm thấy trong chính trị hiện đại—nơi lời nói thường được cân đo bằng lợi ích, còn hành động thì bị trì hoãn bởi tính toán.
Từ khoảnh khắc ấy, một mối quan tâm gần như riêng tư đã hình thành trong tôi về Ukraine. Không chỉ là sự quan tâm của một người đọc tin quốc tế, mà giống như cách ta dõi theo một người quen, một người thân ở xa—không biết họ có ổn không, có trụ vững được không, và rồi sẽ đi về đâu trong cơn bão lớn của lịch sử. Như dạo nào tôi đã từng khắc khoải theo dõi tin tức về người thân và bằng hữu ở quê hương thứ nhất của mình.
Tôi đã từng viết về hành trình đặc biệt ấy của Ukraine, qua hình ảnh của vị lãnh đạo của dân tộc này: “Từ sàn quay đến chính trường, rồi chiến trường,” lưu trữ tại đây.
Đó không còn chỉ là câu chuyện của một cá nhân, mà là hình ảnh thu nhỏ của một dân tộc buộc phải trưởng thành nhanh chóng trước thử thách sinh tồn. Có những quốc gia phải trải qua hàng thế kỷ mới hình thành được bản lĩnh chính trị và ý thức dân tộc. Ukraine dường như đã phải làm điều đó trong vài năm ngắn ngủi.
Thời gian trôi qua, chiến tranh không còn là những bản tin gây kinh hoàng ban đầu. Nó trở thành một dòng chảy liên tục, đôi khi mệt mỏi, đôi khi mơ hồ. Nhưng chính trong sự kéo dài ấy, người ta mới thấy rõ hơn bản chất của cuộc chiến: không chỉ là tranh chấp lãnh thổ, mà là thử thách đối với ý chí, đối với liên minh, và đối với những giá trị nhân bản mà thế giới tự nhận là nền tảng của mình.
Có những lúc tôi thấy lo lắng thật sự. Đặc biệt là khi những tín hiệu từ chính trường Mỹ cho thấy một triển vọng xoay chiều—một sự mệt mỏi, hoặc tệ hơn, một sự tính toán lại lợi ích có thể khiến Ukraine bị bỏ rơi. Ý nghĩ ấy không chỉ đáng ngại về mặt chiến lược; nó còn gợi lên một cảm giác bất an sâu xa hơn: nếu một quốc gia đã được nâng đỡ như biểu tượng của tự do mà vẫn có thể bị buông bỏ, thì còn điều gì là chắc chắn trong các cam kết quốc tế?
Nhưng rồi một diễn biến khác lại mở ra, như một phản ứng tự nhiên của lịch sử: châu Âu bắt đầu đứng dậy mạnh mẽ hơn. Không chỉ là hỗ trợ Ukraine, mà còn là tự nhìn lại chính mình. Trong những năm dài trước đó, an ninh dường như là một điều “có sẵn,” một thứ có thể dựa vào người khác. Cuộc chiến đã phá vỡ ảo tưởng ấy. Và trong sự thức tỉnh đó, Ukraine không chỉ là người nhận giúp đỡ, mà còn là chất xúc tác khiến cả một lục địa thay đổi cách nghĩ về an ninh và trách nhiệm.
Điều khiến tôi bất ngờ nhất, và cũng mang lại một niềm phấn khởi lặng lẽ, là khi Ukraine bắt đầu xuất hiện không chỉ như một nạn nhân hay một chiến binh phòng thủ, mà như một nguồn kinh nghiệm—một nơi mà những bài học chiến tranh hiện đại đang được hình thành, thử nghiệm và chia sẻ. Những gì họ học được từ việc đối phó với các cuộc tấn công bằng drone, từ cách tổ chức chiến tranh trong điều kiện thiếu thốn, từ khả năng thích nghi nhanh chóng—tất cả những điều đó không còn bị giới hạn trong biên giới của họ.
Khi nghe nói rằng những kinh nghiệm ấy đang được quan tâm ở những khu vực khác, kể cả Trung Đông, tôi nhận ra một chuyển động tinh tế nhưng quan trọng: Ukraine đang dần bước ra khỏi vị thế hoàn toàn phụ thuộc. Không phải họ đã trở thành một cường quốc. Điều đó còn rất xa. Nhưng họ đã bắt đầu có thứ để trao đi, không chỉ để nhận về. Và trong thế giới này, khả năng đóng góp—dù nhỏ—luôn là dấu hiệu của một chủ thể đang trưởng thành.
Dĩ nhiên, tôi cũng hiểu rằng giữa thực tế và kỳ vọng luôn có một khoảng cách. Những câu chuyện về việc Ukraine “định hình an ninh toàn cầu” có thể bị thổi phồng. Những video giật gân có thể biến một xu hướng thành một bước rẽ quan trọng. Nhưng ngay cả khi gạt bỏ những lớp thổi phòng phóng đại ấy, phần cốt lõi vẫn còn: một quốc gia từng đứng bên bờ vực đã không chỉ trụ vững, mà còn học cách tạo ra giá trị từ chính cuộc chiến của mình.
Điều đó, đối với tôi, đã đủ để cảm thấy hy vọng.
Có lẽ điều khiến tôi gắn bó với câu chuyện Ukraine không chỉ nằm ở chính trị hay chiến lược. Nó nằm ở một điều đơn giản hơn: khả năng con người, và của cả một dân tộc, khi bị đẩy vào hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể lựa chọn không đầu hàng. Không chỉ là không đầu hàng kẻ thù, mà còn không đầu hàng sự hoài nghi, sự mệt mỏi, và sự hoài nghi của chính thế giới xung quanh.
Từ một câu nói ngắn gọn cách đây bốn năm — “Tôi cần đạn dược, không cần một chuyến đi”–, đến một hành trình dài vẫn chưa kết thúc, Ukraine đã trở thành, trong tâm trí tôi, không chỉ là một điểm nóng trên bản đồ. Nó là một câu hỏi mở: về lòng can đảm, về sự kiên định, và về việc liệu trong một thế giới đầy toan tính, vẫn còn chỗ cho những lựa chọn mang tính nguyên tắc hay không.
Và có lẽ, chính vì câu hỏi ấy vẫn chưa có lời đáp cuối cùng, mà tôi vẫn tiếp tục dõi theo—không chỉ như một người quan sát, mà như một người đang chờ, cả cầu nguyện hằng đêm, xem liệu niềm tin ban đầu của mình có được chứng minh là đúng.
Sau bốn năm với bao sự tàn phá của quân xâm lược Nga, Ukraine vẫn trụ. Ukraine vẫn không sờn lòng dù mệt mỏi, dù đông giá không có khả năng sưởi ấm, dù mỗi ngày vẫn phải bươi tìm người sống sót hay đã chết từ những đống gạch vụn của ngôi nhà vừa bị pháo kích của Nga đêm trước.
Sự kiên quyết bảo vệ nền dân chủ của dân Ukraine là một một “mặc khải văn hoá” cho thế giới tự do, như nhà bình luận David Brooks của nhật báo New York Times viết bốn năm trước nhưng vẫn ứng dụng với hiện tình, trong bài “Tuần lễ đã thức tỉnh thế giới.”
“Các biến cố ở Ukraine đã nói lên một tàn phá đạo đức và thảm kịch chính trị, song đối với thế giới loài người thì nó là một mặc khải văn hoá. Nó không nói lên điều gì mới, song là một nhắc nhớ cho nhiều người trong chúng ta về điều chúng ta vẫn hằng tin tưởng, và càng tin tưởng thêm, với nhiều quyết tâm hơn nữa. Đây chính là tuần lễ của quyết tâm,” ông Brooks viết.
“Dân tộc Ukraine chính là thầy dậy và đã gợi cảm hứng cho chúng ta,” nhà bình luận Brooks viết. “Họ là những người đàn ông đàn bà dân thường… xếp hàng để lãnh vũ khí để bảo vệ quê hương họ. Họ là người phụ nữ đã nói với người lính xâm lăng Nga hãy cất vào túi anh ta nắm hạt hoa hướng dương [quốc hoa của Ukraine và là biểu tượng của đoàn kết]. Họ là hàng ngàn dân Ukraine đang sống an lành ở nước ngoài đã kéo nhau về nước bất chấp an nguy tới tính mạng để bảo vệ dân tộc và nếp sống của họ.
“Chúng ta mắc nợ họ,” bình luận gia Brooks tiếp. “Họ đã không chỉ nhắc nhở chúng ta thế nào là niềm tin vào dân chủ, nền trật tự bấy lâu của thế giới và danh dự quốc gia, mà còn bảo ta hãy can trường đứng lên bảo vệ những thứ đó.”
Và ngày nay, họ còn là những cụ ông cụ bà trong bài tôi đọc được sáng nay khi đang hiệu đính lại bài này, tựa là “To Dress Is To Live” (Diện tức là Sống), đã khiến tôi dừng lại, chiêm nghiệm trong lặng lẽ.
Bài do Alyona Synenko, một cư dân của thành phố ven biển Hắc Hải Odessa, Ukraine, vốn thường xuyên bị bom đạn của Nga, viết về một nhóm các cụ ông cụ bà mỗi khi ra đường, dù là dắt chó đi dạo, cũng trang phục tề chỉnh, trưng diện với trang sức hẳn hoi, như thể đi dự một buổi dạ hội.
Họ là những người thuộc “thế hệ đã bắt đầu cuộc đời mình trong hoặc ngay sau Thế chiến II, và giờ đây họ đang sống những năm tháng xế chiều giữa lòng cuộc xung đột lớn nhất mà châu Âu từng chứng kiến kể từ đó. Ý nghĩ rằng chỉ cần vỏn vẹn một đời người để lãng quên một thảm họa, và lại vô thức bước vào một thảm họa khác đang làm lung lay niềm hy vọng của [tác giả, một người thuộc thế hệ trẻ] về một tương lai tốt đẹp hơn.”
Dù vậy, chính các cụ ông cụ bà này lại là những người giúp thế hệ trẻ hơn giữ vững niềm tin bằng một câu đầy ẩn dụ. “Đôi khi tôi nghĩ rằng cần phải có hai trái tim mới có thể sống sót qua thời buổi này, bởi một trái tim con người thôi thì có thể sẽ nổ tung mất,” ông Anatoliy Paduka, 74 tuổi, người thường mỗi ngày trang phục chỉnh tề dẫn chó đi dạo, nói với tác giả khi nhắc về những tổn thất tinh thần do bốn năm chiến tranh gây ra.
“Còn biết bao người khác cùng trang lứa với ông—những người vẫn chưng diện thật tươm tất ngay giữa nỗi kinh hoàng này—qua đó thể hiện quyết tâm tiếp tục sống bất chấp mọi đòn giáng của lịch sử mà họ đã phải gánh chịu,” tác giả Synenko viết.
“Tựa như họ đang chế giễu sự tuyệt vọng của chính chúng ta, và thách thức cuộc đời hãy cứ tung ra bất cứ điều gì khác mà nó còn có thể ném về phía họ. Chừng nào bạn vẫn còn giữ được vẻ ngoài thật bảnh bao, thì chừng đó bạn vẫn chưa hề lùi bước.”
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/trung-duong/


