TRẦN NHẬT VY
Không thể phủ nhận rằng, tiểu thuyết miền Bắc viết rất gọn gàng, uyển chuyển, mượt mà, câu cú được gọt tỉa rất cẩn thận. Cạnh đó nội dung là những câu chuyện xã hội xảy ra ở miền Bắc, những chuyện mang tính truyền kỳ, lạ lùng, bay bổng cùng những câu chữ, sự kiện cũng như sự vật thể hiện rất khác lạ, điều và nơi mà người đọc miền Nam ít hiểu biết, cho nên khi các tiểu thuyết này xuất hiện ở miền Nam đã được công chúng nhanh chóng thích thú!
Trong khi đó, tiểu thuyết miền Nam thì lại cục cằn, thẳng thừng, thô ráp, rất đời thường, câu cú đôi khi lộn xộn dù nội dung rất hấp dẫn. Văn miền Nam gắn chặt với đời sống bình thường. “Viết như nói” đó là cách thể hiện trong văn miền nam. Mỗi người đọc dường như thấy mình trong các truyện. Đó là một dòng sông chảy xuôi theo dòng đời mang theo những nỗi niềm và cả những dề lục bình, những dề rác của cuộc sống bình thường. Mà dòng sông nào cũng bắt đầu hình thành từ những con rạch, con suối, đường nước nhỏ, nơi mà những “rác rến” của cuộc sống đổ vào. Sông cứ sống đời sông cùng với những rác rến như trộm cắp, cướp giật, lừa đảo, ghen tuông, tù tội…, cùng với những ưu tư, lo lắng, buồn phiền của mỗi người đọc! Nhiều độc giả sau khi đọc tiểu thuyết của Phú Đức đều tin rằng “nhân vật chính Hoàng Ngọc Ẩn” trong truyện là người thật với võ thuật kinh người và họ đã đề nghị “Hoàng Ngọc Ẩn ra thi đấu võ đài với một võ sĩ đương thời!” Đã có tiểu thuyết nào làm được điều đó? Thế nhưng…
Nguyên do rất dễ hiểu. Người Bắc viết ít và có nhiều thời gian để “chải chuốt,” “đục đẽo” chữ nghĩa trước khi cho tác phẩm ra đời. Còn người Nam do viết để đăng báo mỗi ngày. Nhiều tác giả có khi phải ngồi ngay trong nhà in của tòa soạn để viết một phần nào đó của tiểu thuyết đang đăng báo cho kịp xếp chữ in vào số ngày mai. Họ không có nhiều thời giờ để đọc lại, không có thời giờ để “biên tập” trước khi đưa in. Đã vậy, nhiều tác giả do kiếm sống, mỗi ngày phải viết nhiều truyện khác nhau cho nhiều tờ báo.
Mặt khác, giới cầm viết miền Nam cũng thả mình trôi theo dòng đời, quen cách “chỉ đi tới” và hiếm người “ngoái lại” trong nghề viết. Có dòng sông nào ngoái lại hay quay lại nơi xuất phát? Do vậy, khi đã viết xong một cuốn sách nào đó họ nghĩ và viết cuốn khác mà không tính đến việc phải lưu, tổng kết, nhận xét lại những gì đã làm và chưa làm được trong thời gian đã qua.
Trước đây, hầu hết các nhà văn miền Nam sống bằng cách viết tiểu thuyết cho các tờ báo. Họ lãnh lương hàng tháng cho truyện của mình. Vì vậy, họ viết liên tục mỗi ngày chỉ cần vài ba tháng là họ viết xong một tiểu thuyết dài; và cũng nhanh chóng phải “sáng tác” ngay một tiểu thuyết khác để có lương nuôi gia đình. Mỗi người đều chỉ có 24 giờ một ngày, ngoài những giờ nghỉ ngơi cần thiết thì họ phải viết và viết, không có thời giờ để ngắm nghía, chăm sóc đứa con tinh thần của mình để “làm đẹp” cho nó.
Ông Phú Đức trong một lần trả lời phỏng vấn cho biết, “trong 40 năm viết tiểu thuyết, tôi viết được 70 cuốn” và “không có thì giờ để sửa chữa khi các báo muốn in lại truyện cũ.” Nhà báo Ngọa Long mô tả việc ông Phú Đức phải “ngồi cắt những truyện đã in trên báo cũ để gửi cho các báo” khi họ muốn in lại, chớ không kịp viết lại hay sửa chữa!
Còn người Bắc thì dành khá nhiều hoặc có những người chuyên làm công việc “ngoái lại” đánh giá các công việc, nhận định các nội dung tác phẩm của các nhà văn đã làm.
Một đặc điểm khác đã khiến văn chương miền Nam bị “bỏ bê” chính là sự nhận định của giới có học ở miền Bắc. Năm 1946, chính phủ của ông Hồ Chí Minh công bố “có đến 90% dân chúng mù chữ.” Lúc đó, không phải người Việt cả nước mù chữ mà chỉ tính từ Quảng Bình ra Lạng Sơn. Nói như vậy để thấy rằng, miền Bắc trước đó chỉ có 10% người biết chữ quốc ngữ, và trong 10% này ắt hẳn chỉ có công chức, học sinh và một số người ở tầng lớp trí thức mới đọc được tiểu thuyết. Và tiểu thuyết ở miền Bắc chắc chắn không thể “phủ” khắp, không thể đến tay tất cả mọi người mà chỉ “chạy lòng vòng” trong giới gọi là “tinh hoa.” Cũng chính giới tinh hoa này nhận định, đánh giá văn chương “hai miền” sau đó.
Chính những yếu tố này đã giúp cho người viết nói chung có được cái nhìn về chính mình và đồng nghiệp. Và chính yếu tố này đã giúp cho tiểu thuyết miền Bắc được tôn vinh nhiều mà tiểu thuyết miền Nam bị bỏ quên hàng thế kỷ qua.
Nhận xét, đánh giá văn chương Việt trong thế kỷ 20 chỉ có hai ông Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh-Hoài Chân, là người Bắc nổi tiếng cho tới nay. Và trong tác phẩm của cả hai ông đều “có rất ít” hoặc “không có” những tác giả miền Nam.
Trong các chương trình giáo dục kể từ năm 1945 trở về sau này, phần lớn cũng do người Bắc lập nên. Mở đầu là ông Hoàng Xuân Hãn, kế tiếp là ông Phan Huy Quát đều là người Bắc. Riêng ở miền Nam từ năm 1955 trở về sau một Hội đồng văn hóa-giáo dục được thành lập chủ yếu là chuyển hướng rời xa chương trình Pháp-Việt trước đó và định hướng giáo dục là chính với ba nguyên tắc là “nhân bản-dân tộc-khai phóng.” Riêng phần văn chương có “cổ văn” và “Việt văn” hoàn toàn không điều chỉnh nội dung như đã có trước đó. Nghĩa là chương trình “Việt văn” tức văn học do người Việt sáng tác hay tác phẩm của người Việt trong nước viết, chỉ dạy và trích dẫn những tác phẩm của người Bắc viết, còn văn chương miền Nam, văn chương Sài Gòn thì…
Nguyên do thì có nhiều, nhưng theo tôi ghi nhận tóm tắc có thể xuất phát từ ba điều:
- Sự tự tôn: người Bắc vốn “tự tôn” và rất cực đoan. Với họ cái gì của họ thì luôn đẹp, đúng và hoàn hảo. Cái họ làm được cần phải “tôn vinh” còn cái người khác làm thì là…đồ bỏ!” Hầu hết các tiểu thuyết miền Nam, cho tới thập niên 1970, đều bị cho là “tiểu thuyết ba xu.” Ở Sài Gòn từ thập niên 1930-1940 trở đi, người ta thường in các truyện dài thành nhiều tập nhỏ và bán với giá 20 hoặc 30 xu/tập. Các nhà tổng kết văn học và những nhà lập trình các chương trình giáo dục người Bắc hẳn biết điều nầy song họ đã bỏ qua tất cả.
- Không được đọc: Văn chương miền Nam ra đời khá sớm từ cuối thế kỷ 19. Phần lớn các tiểu thuyết đều đăng trên báo hoặc in thành sách với số lượng không nhiều lắm. Trong khi đó, mãi tới cuối thập niên 1920 sự giao lưu về sách báo giữa Sài Gòn và Hà Nội mới trở nên bình thường, vì Sài Gòn, miền Nam là thuộc địa còn Hà Nội là xứ bảo hộ. Đường xá thì xa xôi, việc đi lại cách trở và nhiều thủ tục. Khi đã có sự thông thương thì sách, truyện cùng báo chí ở Sài Gòn đã trải qua nhiều đời và mai một không ít. Tờ báo in cho tới nay vẫn là một thứ ít được lưu trữ, trừ thư viện hay các kho lưu trữ. Vì thế mà có thể các ông viết tổng kết văn học Việt, lập trình các chương trình giáo dục thuở ban đầu “không được đọc” những tác phẩm này. Và sự “không được đọc” này đã khiến các nhà làm tổng kết văn học, viết văn học sử dễ dàng bỏ qua những tiểu thuyết đã có ở miền Nam từ trước đó.
- Đọc không được: Năm 1919 chữ quốc ngữ mới chính thức phổ biến ở miền Bắc nói chung. Số người biết chữ quốc ngữ trước đó không bao nhiêu. Và số người “chịu học” chữ quốc ngữ sau năm 1919 cũng không nhiều.
- Nhưng không phải biết chữ quốc ngữ là có thể đọc được các tác phẩm văn chương viết ở miền Nam, viết ở Sài Gòn. Tới nay, dù không chính thức thừa nhận hay phủ nhận, trong cuộc sống bình thường người ta vẫn thấy có rất nhiều khác biệt trong ngôn ngữ, từ ngữ giữa hai miền Nam-Bắc. Tuy cùng một chữ đồng dạng cả viết lẫn nói nhưng nghĩa của chữ ấy ở hai miền khác nhau một trời một vực. Ví dụ chữ “biển.” Biển ở miền Nam là phải có “một vùng nước minh mông,” “phải có muối, phải mặn.” Còn “biển” ở miền Bắc là một “tấm bảng treo” ở trước nhà hoặc sau chiếc xe. Hoặc cùng một chữ “thối” mà Nam-Bắc cũng hiểu khác nhau. Thối ở miền Bắc là rất nặng mùi khó hưởi, còn thối ở miền Nam là “hoàn lại, trả lại!”
- Chính vì sự khác nhau ấy mà hai miền nhiều lúc không hiểu nhau. Và người đọc báo, sách của hai miền thường “thích thú” vì “lạ” chớ còn hiểu thì…chưa chắc!
Có thể chính ba nguyên nhân này dẫn tới việc văn chương miền Nam, ít nhất có từ năm 1881, đã bị loại bỏ khỏi sách giáo khoa, loại bỏ khỏi các tổng kết văn học Việt trong suốt một thế kỷ qua.
Trong thành ngữ “văn Bắc, báo Nam” hàm chứa ngụ ý “người Nam chỉ biết viết báo, còn văn thì phải là người Bắc.” Thành ngữ này còn có một ẩn dụ khác rằng “mấy anh người miền Nam không biết viết văn mà chỉ biết viết báo,” mà báo chí thì là “thứ vứt đi,” “thứ để lót nồi, để chùi đ..:” ngay sau khi đọc! Chính thành ngữ này, chính các chương trình giáo dục một thời, chính những nhận định, suy nghĩ phiến diện ấy mà nhiều thế hệ người Việt “bị lừa gạt” rằng “miền Nam không có văn chương!”
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân từng viết “Không gì vô lý và đau xót bằng khi một học sinh đệ nhị học Đông Dương tạp chí mà không học Phụ Nữ Tân Văn. Nói về phương diện, tạp chí sau này đã vượt xa tạp chí trước về biên khảo, bút chiến, dịch thuật, phê bình tiểu thuyết,” và ông cũng không hiểu “không gì mỉa mai hơn là học Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật, cả Hoàng Ngọc Phách nữa, những nhà văn mà chính phê bình gia có tiếng là Vũ Ngọc Phan nhìn nhận là kém hơn Hồ Biểu Chánh?” [Nguyễn Văn Xuân, Khi những lưu dân trở lại, Thời Mới, Saigon 1969, trang 11]
Có lẽ cần phải nói thêm rằng, không gì vô lý và cực kỳ khó hiểu khi học sinh ngồi trong trường chỉ được học, đọc các tiểu thuyết gia ở tận đâu đâu với những cuốn sách viết về cái khổ như chị Dậu, Chí Phèo…rồi khi ra khỏi trường học họ lại thấy bán đầy các tác phẩm của Bà Lan Phương, Bà Tùng Long, An Khê, Người Khăn Trắng…Trong trường thì họ học Kiều nhưng về nhà thì cha mẹ lại ngâm nga Lục Vân Tiên; và ngay trong bìa cuối cuốn tập họ cầm trên tay chỉ in những truyện Phạm Công Cúc Hoa, Hoàng Trừu công chúa đội đèn, Trần Minh khố chuối…
Tại sao?
Đó là câu hỏi tính cho tới nay chưa có câu trả lời xác đáng!
Văn chương chữ quốc ngữ miền Nam đã từng có một thời thịnh vượng, không chỉ giúp người đọc “giải trí vài trống canh” mà còn bổ sung cho dòng chảy của chữ quốc ngữ đi qua thời sơ khai. Có ở nơi nào ngoài Sài Gòn chúng ta thấy từ người đạp xích lô, đến chị bán bánh mì, bán xôi khi rảnh cũng đọc báo, đọc truyện? Chữ quốc ngữ ban đầu khi ra đời một thời gian, rất nhiều người không tin rằng đây là thứ chữ có thể “thay thế chữ nho!” Người ta tin rằng, chỉ có chữ nho mới đủ sức chuyên chở đủ loại hình hiện diện trong đời sống, đặc biệt là triết học. Sau một thời gian phổ biến chữ quốc ngữ, đã có câu trả lời thích đáng. Tất cả đều nhờ có văn chương, nhờ có báo chí mà chữ quốc ngữ mỗi ngày một lớn lên và trở thành thứ chữ không thể thay thế của người Việt. Nhờ văn chương mà người Việt có rất nhiều chữ diễn tả được tất cả các sự kiện, suy nghĩ, hình ảnh…trong đời sống bằng cách Việt hóa từ chữ, tiếng nói của ngoại quốc, từ biến âm, từ cuộc sống thường ngày.
Song nền văn chương ấy chưa được công nhận một cách thích đáng!
Ngày nay, người ta vẫn coi Tố Tâm là tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam. Sau cái chết của nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển vào năm 1996, người ta phát hiện một cuốn tiểu thuyết in tại Sài Gòn năm 1887 là cuốn Thầy Lazaro Phiền của ông Nguyễn Trọng Quản. Nhiều người cho rằng đây mới là cuốn tiểu thuyết đầu tiên. Nhưng rồi để lâu cứt trâu hóa bùn, trong các chương trình giáo dục về văn học vẫn là Tố Tâm, còn cái vừa phát hiện thì…để đó, tính sau?
Mà đâu có mỗi ông Nguyễn trọng Quản. Tiểu thuyết miền Nam còn có rất nhiều ông trước và sau ông Quản. Trước ông Quản có thầy ông là Trương Minh Ký. Sau ông Quản thì có hàng loạt tay viết rất đáng kể như Nguyễn Dư Hoài, Nguyễn Khắc Huề Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Biến Ngũ Nhy, Tân Dân Tử Nguyễn Hữu Ngãi, Hồ Biểu Chánh, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Kim Đính, Nguyễn Kỳ Nam…chỉ kể một số ít chớ danh sách viết hết thì dài dằng dặc.
Họ đã có chỗ đứng nào trong văn học sử Việt?
Thưa không, cho tới nay.
Hiện trên thị trường sách truyện đã thấy in lại một số tác phẩm, chưa nhiều lắm, của Hồ Biểu Chánh, của Nguyễn Kỳ Nam, của Lê Hoằng Mưu. Còn những tác giả khác thì sao?
Biến Ngũ Nhy là tác giả viết truyện trinh thám đầu tiên và tác phẩm Kim thời dị sử của ông rất nổi tiếng một thời. Nguyễn Trọng Quản, Nguyễn Dư Hoài, Lê Hoằng Mưu [Hà Hường phong nguyệt truyện] và Nguyễn Chánh Sắt [Chăng Cà Mum] viết truyện xã hội đầu tiên. Ngay cả Hốt Tất Liệt tức Nguyễn Háo Vĩnh là cây bút phê bình sách báo dữ dội đầu tiên. Ông viết mạnh tay đến nỗi nhà cầm quyền phải tiêu hủy cuốn sách bị phê bình! Tân Dân Tử Nguyễn Hữu Ngỡi là người đầu tiên viết truyện lịch sử. Cuốn sách Giọt máu chung tình của ông không chỉ được mọi người đọc mà còn được dựng thành tuồng cải lương, được viết thành bài ca vọng cổ với cái tên Võ Đông Sơ-Bạch Thu Hà. Cuốn Gia Long tẩu quốc và Hoàng tử Cảnh như tây của ông cũng từng “hot” trong làng văn ở Sài Gòn vào thập niên 1930.

“Làm người tất phải thông tất những việc quá khứ, rồi mới cân nhắc nổi những việc hiện thời; việc quá khứ, việc hiện thời hai việc ấy ta cần phải đối chiếu nhau, lọc lấy phần tinh hoa cốt yếu mà người ta gọi là quốc tuý đó, để di dưỡng lấy tinh thần, dồi mài nên khí tiết, dường ấy đối với quốc gia xã hội, rồi quốc gia xã hội mới mong chờ mình,” ông Nguyễn Tử Thức, chủ bút tờ Nam Trung Nhật Báo đã viết trong lời nói đầu của cuốn Hoàng tử Cảnh như tây như vậy.
Viết vậy cũng là cách nhận xét về truyện lịch sử của Tân Dân Từ.
Hay Hồ Biểu Chánh, sau 1975 được in lại khá nhiều, và cũng khá nhiều tác phẩm của ông được dựng thành tuồng, thành phim. Ông là thân phụ của tướng Hải quân Hồ Văn Kỳ Thoại. Tiến sĩ văn học Võ Văn Nhơn ví Hồ Biểu Chánh là “Balzac của Nam Bộ” – không chỉ là tiểu thuyết gia, mà còn góp phần khai sáng nền văn học hiện đại và cách tân thể loại tiểu thuyết.”
Ngoài nghề công chức, nghề báo, nghiên cứu ông viết được 64 cuốn tiểu thuyết, một con số không phải nhà văn nào cũng đạt được. Các tiểu thuyết nổi bật của ông như Cay đắng mùi đời (1923), Nhân tình ấm lạnh (1925), Ngọn cỏ gió đùa (1926), Cha con nghĩa nặng, Khóc thầm (1929), Con nhà nghèo (1930), Ông Cử (1935), Đoạn tình (1939), Mẹ ghẻ, con ghẻ (1943), Đại nghĩa diệt thân (1955), Một duyên hai nợ (1956), Tắt lửa lòng (1957) nói về những xáo trộn, thay đổi trong cuộc sống ở đầu thế kỷ 20 cho tới nay vẫn còn giá trị.
Thế nhưng….
Từ cuối thập niên 1960 của thế kỷ 20, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân, người được miền Trung tôn là “thầy miền Trung” đã khẩn thiết kêu lên “Văn nghệ miền Nam phải có quyền được các học giả nghiên cứu sân rộng. Bộ văn học sử của Dương Quảng Hàm cũng như các bộ phê bình văn học của Vũ ngọc Phan đều phiến diện. Việc giảng dạy trong các nhà trường không thể như cũ. Không thể quá nặng về văn học miền Bắc mà lầm tưởng là văn học Việt Nam từ thế kỷ 18 trở lui chính là văn học hai miền mà từ 1863 đến 1932 thì miền Nam đã vọt lên vai tiền phong, hướng dẫn cả mọi phương diện phát triển văn học quốc ngữ…” [Nguyễn Văn Xuân, sách đã dẫn trang 10].
Nếu những nhà nghiên cứu, những nhà hoạch định chính sách giáo dục có trách nhiệm, có quyết tâm cần làm rõ ràng hơn nền văn học Việt viết bằng chữ quốc ngữ, không nên bỏ qua các tác giả miền Nam. Cần phải làm sao cho thế hệ đi sau hiểu biết đầy đủ hơn về tiền nhân trong lĩnh vực văn chương của cả hai miền Nam-Bắc, chớ không nên phiến diện. Và đó cũng là một cách thể hiện sự thống nhất của đất nước. Mong thay!
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/tran-nhat-vy/


Nhà văn chuyên nghiệp
Ông Tư là nhà văn “chuyên nghiệp” của xóm. Chuyên nghiệp ở chỗ… không ai biết ông viết gì, chỉ thấy ông luôn nói mình đang “thai nghén tác phẩm lớn.”
Sáng nào ông cũng ra quán cà phê, mở laptop, gõ lạch cạch. Hàng xóm đi ngang hỏi:
– Anh Tư viết tới chương mấy rồi?
Ông nhấp ngụm đen đá, trầm ngâm:
– Tôi đang chỉnh một câu.
Một tuần sau gặp lại.
– Câu đó xong chưa?
Ông thở dài:
– Tôi bỏ câu đó rồi. Nó chưa đủ chiều sâu.
Thiệt ra, màn hình của ông thường chỉ có một dòng: “Trời hôm nay buồn như tâm sự của một nhà văn lớn.” Ông ngắm nó suốt ba tiếng, rồi đổi thành: “Trời hôm nay hơi buồn.” Rồi lại thấy “hơi” thiếu khí chất, bèn sửa thành: “Trời hôm nay buồn.”
Chiều về, vợ hỏi:
– Hôm nay ông viết được bao nhiêu?
Ông nghiêm trang:
– Rất nhiều. Tôi xóa được mười lăm lần.
Vợ gật gù:
– Vậy chắc sách ông mỏng lắm.
Ông cười tự tin:
– Tác phẩm lớn không nằm ở số trang, mà nằm ở… số lần suy nghĩ.
Cho tới nay, tác phẩm của ông vẫn chưa ra đời. Nhưng xóm thì đã có một kết luận chắc nịch: ông Tư là nhà văn duy nhất mà tác phẩm dày nhất… nằm trong đầu ông.

