TRÙNG DƯƠNG
Những ngọn đồi phủ hoa vàng trải dài vô tận trong cái lạnh giữa Xuân. Đó là hình ảnh đầu tiên tôi nhìn thấy khi chui ra khỏi chiếc lều nhà binh mới dựng ngày hôm trước, rộng thênh thang mà chỉ mới có ba mẹ con chúng tôi — tôi và hai cháu nhỏ, trai chín tuổi và gái mới hai tuổi rưỡi – trú ngự.
Đó là buổi sáng ngày 1/5/1975, ngày đầu tiên tôi thấy mình đứng trên đất Mỹ. Tôi cảm thấy bị choáng ngợp trước cảnh tượng những ngọn đồi phủ hoa vàng rực rỡ kéo nhau chạy vào vô tận trước mắt, trong giây phút quên nỗi giao động thê thiết của những ngày trước đó đã đưa đẩy mình tới đây — một không gian mênh mông tĩnh lặng song an lành bảo bọc. Tôi rưng rưng muốn khóc.
Tôi cảm thấy mình được chào đón. Không chỉ bởi thiên nhiên như một biểu tượng. Mà còn bởi nước Mỹ và không khí an bình, nơi trở thành quê hương thứ hai của tôi. Nhìn lại, 51 năm làm công dân Mỹ — dài gần gấp đôi thời gian làm công dân nước Việt – tôi không khỏi ngậm ngùi trước bao đổi thay, đặc biệt là hậu quả của những chính sách bắt bớ giam cầm và trục xuất hàng loạt dân nhập cư tàn bạo đang diễn ra từ nhiều tháng qua.
Hồi ấy, vào năm 1975, ở Mỹ cũng có những cuộc biểu tình lẻ tẻ phản đối người Việt tị nạn đến Mỹ, cho rằng chúng ta sẽ lấy đi nghề của họ, rằng chúng ta sẽ ăn bám các chương trình an sinh xã hội, rằng chúng ta sẽ khó hội nhập. Nhưng nhìn chung thì người tị nạn được chào đón vì chính phủ liên bang, cả Hành pháp lẫn Quốc Hội lưỡng đảng, có chính sách hẳn hoi dành cho người tị nạn, bao gồm Đạo luật Hỗ trợ Di dân và Tị nạn Đông Dương với ngân sách hàng trăm triệu đô la. Khác với bây giờ cũng chính phủ ấy lại đang có chính sách ngược lại, bên cạnh một Quốc hội bó tay bất lực hoặc im lặng đồng lõa.
Hồi ấy, dân Mỹ vốn rộng lượng vị tha, nên đã có nhiều gia đình mở rộng cửa nhà mình đón và giúp đỡ chúng ta ổn định trong cuộc sống mới. Song cũng nhờ giới truyền thông lúc ấy chưa phân cực như bây giờ đã hỗ trợ công trình tái định cư người tị nạn.
Tôi nhớ khi còn ở Trại Pendleton đã đọc được bài này của nhà bình luận có lối viết hài hước nhưng sâu sắc, Art Buchwald, tựa là “Putting Shoe on the Other Bare Foot” (Hãy xỏ giày lên bàn chân không kia), đăng trên tờ Los Angeles Times ngày 6 tháng 5, 1975. Vì mượn báo đọc nên tôi đã ngồi cặm cụi chép lại bài đó trong cuốn vở học trò Olympic dùng ghi nhật ký từ những ngày cuối cùng ở Sài Gòn.

Trong bài này, bình luận gia Buchwald mở đầu bằng một hình ảnh tưởng tượng: ông “trò chuyện” với tượng Nữ thần Tự do, yêu cầu bà quay mặt về phía Thái Bình Dương để “soi đường” cho người tị nạn Việt Nam đang đến Mỹ. Tuy nhiên, Nữ thần Tự do trong câu chuyện lại tỏ ra khó chịu, nói rằng nước Mỹ đã có “quá nhiều người rồi.” Từ đó, câu chuyện tiếp tục bàn về thái độ của người Mỹ đối với người tị nạn và dân nhập cư — sự mâu thuẫn giữa lý tưởng tự do, nhân đạo mà nước Mỹ tuyên bố và thực tế là nhiều người dân lại tỏ ra dè dặt, thậm chí bài xích người mới đến. Tác giả dùng giọng văn mỉa mai, hài hước nhưng cũng đầy trăn trở để phản ánh sự thiếu bao dung và nỗi lo sợ vô lý của một số người Mỹ trước làn sóng người Việt tị nạn. Toàn bộ bài viết vừa mang tính thời sự của năm 1975, vừa bày tỏ quan điểm nhân văn: nhắc nhở rằng nước Mỹ được xây dựng bởi những người nhập cư, và rằng những người tị nạn cũng đang đi tìm tự do — đúng như biểu tượng mà Nữ thần Tự do đại diện.
“Tôi xin bà đừng quay lưng lại với họ,” tác giả Buchwald van lơn cùng Nữ thần Tự Do. “Nếu có ai đó chỉ cần nói một câu ‘Chào mừng! Chúng tôi rất vui vì các bạn đã đến,’ thì đa số người Mỹ sẽ ủng hộ thôi. Người Mỹ hay than phiền, nhưng khi có người hướng dẫn, họ sẽ làm điều đúng đắn. Nếu bà có thể hướng ngọn đuốc về phía Cổng Vàng [chỉ hướng San Francisco nơi có cầu Golden Gate Bridge], có lẽ mọi người sẽ thấy xấu hổ vì cách họ đã cư xử.
“Tượng Nữ thần Tự do từ từ quay lại. Trong mắt bà ánh lên một giọt lệ. Bà nói: ‘Ta đứng ở đây quá lâu đến mức suýt quên mất vì sao mình cầm ngọn đèn này. Cậu bảo ta phải chiếu sáng về đâu?’
“Tôi đáp: ‘Ở đằng kia kìa. Hãy giơ nó thật cao và hướng về phía Tây để mọi người Mỹ đều nhìn thấy. Đúng rồi. Giờ thì hãy lặp lại theo tôi: ‘Hãy gửi đến ta những kẻ không nhà, những con người bão tố vùi dập; ta giơ ngọn đèn lên bên cánh cổng vàng!’”
Hồi ấy, không chỉ tác giả Buchwald của truyền thông lên tiếng giúp người tị nạn chúng ta, mà ngay cả một nhóm gồm những tiếng nói có trọng lượng trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi châu cũng đã quyết định lên tiếng. Họ là các mục sư, nhà hoạt động dân quyền, lãnh đạo công đoàn, trí thức – những người từng trải qua lịch sử dài của bất công và đấu tranh. Họ hiểu rõ cảm giác bị bỏ rơi, bị xem nhẹ, bị đẩy ra bên lề xã hội. Và chính vì thế, họ cảm thấy mình có trách nhiệm đạo đức phải đứng về phía những người đang tuyệt vọng ở nửa kia của thế giới.
Và họ đã cùng nhau ký tên vào một tuyên bố công khai đang trên nguyên một trang báo của tờ The New York Times ngày 19/3/1978, gửi đến Tổng thống Gerald Ford thuộc đảng Cộng hòa và toàn thể nước Mỹ. Trong lời kêu gọi ấy, họ nhấn mạnh rằng người tị nạn Đông Dương không chỉ là những con số vô danh. Đó là những gia đình bị chia cắt, những đứa trẻ không còn nhà để trở về, những con người đang bám víu vào hy vọng cuối cùng. Họ lập luận rằng nước Mỹ – một quốc gia luôn tự hào về lòng nhân đạo – không thể quay lưng với những người đang cầu cứu.

Tuyên bố ấy cũng mang một sắc thái rất riêng của cộng đồng người Mỹ gốc Phi châu: sự đồng cảm xuất phát từ kinh nghiệm lịch sử. Họ nhắc lại rằng chính họ từng phải đấu tranh để được công nhận nhân phẩm và quyền sống. Và vì đã từng chịu đựng, họ càng hiểu rõ giá trị của việc dang tay giúp đỡ người khác.
Danh sách chữ ký khá dài, gồm những nhân vật nổi bật như các mục sư, nhà hoạt động dân quyền, lãnh đạo tôn giáo và xã hội. Sự đoàn kết ấy gửi đi một thông điệp mạnh mẽ: lòng nhân ái không có biên giới, và những người từng bị áp bức có thể trở thành người bảo vệ cho những ai đang gặp nạn. Bản kêu gọi ghi lại khoảnh khắc ấy – một khoảnh khắc mà hai cộng đồng tưởng chừng xa lạ lại tìm thấy sự giao thoa trong nỗi đau và trong khát vọng về một tương lai nhân bản hơn.
Cũng trong thời gian của bản tuyên bố này đang diễn ra thảm cảnh thuyền nhân Việt bị ruồng bỏ trên đường vượt biển t tự do, mà phóng viên nhiếp ảnh Eddie Adams đã ghi lại, được coi là đã đóng góp vào việc tạo áp lực lên quyết định của chính phủ Mỹ hồi ấy dưới thời Tổng thống Jimmy Carter thuộc đảng Dân Chủ.

Đã nửa thế kỷ sau biến cố 1975 và thảm cảnh thuyền nhân vào cuối thập niên 1970, câu chuyện của người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ không chỉ là một chương lịch sử của cộng đồng người Việt hải ngoại, mà còn là một tấm gương phản chiếu sự biến đổi sâu sắc của nước Mỹ. Khi so sánh hành trình của những người Việt đầu tiên đặt chân đến đất Mỹ với kinh nghiệm của người nhập cư ngày nay, ta thấy rõ một điều: nước Mỹ hiện giờ đã thay đổi – theo hướng khiến ta không khỏi xót xa, như nhìn sự thay lòng đổi dạ của một người rất thân thương.
Dù vậy, tôi vẫn tin bản chất của quốc gia này vẫn chứa đựng những giá trị có khả năng tự điều chỉnh và tái sinh. Và sự thay đổi trước mắt chỉ là giai đoạn.
Năm 1975, nước Mỹ đón nhận hơn 100,000 người Việt Nam trong bối cảnh hỗn loạn của chiến tranh và sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam. Dù chính phủ liên bang khi ấy có chính sách mạnh mẽ hỗ trợ người tị nạn Đông Dương, phản ứng của người dân địa phương lại không hoàn toàn dễ chịu. Nhiều cộng đồng lo ngại người tị nạn sẽ trở thành gánh nặng kinh tế hoặc không hòa nhập được. Một số nơi thậm chí tổ chức biểu tình phản đối. Nhưng điều đáng chú ý là sự phản đối này không trở thành phong trào chính trị toàn quốc. Nó không được khuếch đại bởi mạng xã hội, không bị biến thành công cụ tranh cử, và không bị đẩy lên thành biểu tượng của sự chia rẽ quốc gia.
Lý do nằm một phần ở bối cảnh lịch sử. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, người Việt tị nạn được nhìn nhận như nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản – một câu chuyện phù hợp với hình ảnh mà nước Mỹ muốn xây dựng về mình hồi ấy. Chính phủ liên bang, với sự đồng thuận tương đối rộng rãi, xem việc tiếp nhận người Việt là trách nhiệm đạo đức và cả chiến lược. Điều đó không xóa bỏ hoàn toàn sự kỳ thị, nhưng nó tạo ra một nền tảng chính trị và xã hội đủ vững để người Việt có cơ hội bắt đầu lại cuộc đời.
Ngày nay, bối cảnh ấy đã thay đổi hoàn toàn. Nhập cư trở thành một trong những chủ đề gây chia rẽ sâu sắc nhất trong đời sống chính trị Mỹ. Truyền thông phân cực và mạng xã hội khiến những nỗi sợ hãi, dù có cơ sở hay không, được khuếch đại đến mức cực đoan. Người nhập cư hiện đại – từ Trung Mỹ, Trung Đông đến châu Phi và châu Á – không còn được nhìn qua lăng kính của một cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu. Họ bị đặt vào những câu chuyện khác: an ninh biên giới, tội phạm, cạnh tranh kinh tế, hay “mối đe dọa văn hóa”. Những câu chuyện này, lặp đi lặp lại trong không gian truyền thông hiện đại, trở thành nền tảng cho nhiều chính sách hạn chế nhập cư và cho những cuộc tranh luận không hồi kết.
Nếu người Việt năm 1975 từng đối mặt với sự e dè, thì người nhập cư ngày nay phải đối mặt với sự nghi ngờ sâu sắc hơn, rộng khắp hơn và được tổ chức có căn cơ, bài bản hơn. Những cuộc chống nhập cư không còn là hiện tượng địa phương mà trở thành vấn đề quốc gia. Những chính sách hạn chế nhập cư không còn là phản ứng tạm thời mà trở thành chiến lược chính trị có khuynh hướng lâu dài.
Và điều đáng suy ngẫm là ngay cả một số người Việt – những người từng là nạn nhân của sự kỳ thị – đôi khi cũng bị cuốn vào làn sóng chống nhập cư, quên mất rằng chính họ đã từng có một dạo bước xuống máy bay với ánh mắt hoang mang và trái tim đầy lo âu.
Tuy nhiên, để đánh giá sự thay đổi của nước Mỹ chỉ qua những biểu hiện tiêu cực ấy e rằng thiếu sót. Lịch sử nước Mỹ luôn là lịch sử của những chu kỳ: khép lại rồi mở ra, sợ hãi rồi bao dung, loại trừ rồi hòa nhập. Mỗi chu kỳ đều có những lúc căng thẳng, nhưng cuối cùng, nước Mỹ vẫn tìm được cách tái tạo và tiến lên. Điều này không phải là lời an ủi rỗng tuếch, mà là thực tế được chứng minh qua hơn hai thế kỷ.
Lịch sử Hoa Kỳ nhiều lần rơi vào những thời khắc khủng hoảng tưởng chừng không thể vượt qua, nhưng cũng chính từ đó cho thấy sức mạnh phục hồi đặc biệt của quốc gia này. Giữa thế kỷ 19, Nội chiến đã chia cắt đất nước, gây tổn thất nặng nề và đẩy Liên bang đến bờ vực tan rã. Tuy nhiên, sau chiến tranh, nước Mỹ đã tái thống nhất và từng bước xây dựng lại, đặt nền tảng cho sự phát triển lâu dài. Đến năm 1929, Đại Khủng hoảng kinh tế khiến xã hội rơi vào cảnh suy sụp, nhưng nhờ các cải cách sâu rộng và sự huy động trong Thế chiến II, Mỹ không chỉ phục hồi mà còn vươn lên thành cường quốc công nghiệp. Trong Thế chiến thứ hai, sau biến cố Trân Châu Cảng, tinh thần đoàn kết đã giúp Mỹ đóng vai trò quyết định trong chiến thắng của phe Đồng minh. Ngay cả thời hiện đại, sau biến cố 11/9, nước Mỹ vẫn thể hiện khả năng đứng dậy từ đau thương, tái thiết và tiếp tục bảo vệ những giá trị cốt lõi của mình.
Từ nội chiến đến khủng hoảng kinh tế, từ chiến tranh thế giới đến khủng bố, lịch sử Mỹ cho thấy một điều: dù rơi vào bóng tối sâu đến đâu, quốc gia này luôn tìm được con đường đi tiếp, và thường bước ra mạnh mẽ hơn trước.
Ở một cương vị nhỏ bé và khiêm tốn hơn, người Việt Nam cũng là minh chứng sống động cho khả năng tái tạo ấy. Từ những ngày đầu sống trong các trại tị nạn tạm bợ, họ đã vượt qua khó khăn để xây dựng nên những cộng đồng vững mạnh tại California, Texas, Virginia và nhiều nơi khác. Họ mở tiệm nail, nhà hàng, chợ Việt, công ty công nghệ, xuất bản sách báo, văn phòng luật, phòng khám bệnh. Con cái họ trở thành bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, nghị sĩ, doanh nhân, và cả tướng tá trong quân ngũ. Họ đóng góp vào kinh tế, văn hóa, khoa học và đời sống xã hội của nước Mỹ. Và đặc biệt là việc tái dựng lại nền văn học nghệ thuật tự do đã bị Cộng sản đóng đinh khai tử ở trong nước. Họ đã chứng minh rằng dân nhập cư không làm nước Mỹ yếu đi; họ làm nước Mỹ mạnh hơn, giàu có và đa dạng hơn.

Vậy điều gì khiến nước Mỹ hôm nay trở nên khép kín hơn?
Có lẽ không phải bản chất của người nhập cư, mà là bản chất của nền chính trị quốc gia. Nước Mỹ đang trải qua những biến động sâu sắc về kinh tế, xã hội và nhân khẩu học. Những biến động ấy tạo ra nỗi lo lắng, và người nhập cư trở thành biểu tượng cho những nỗi lo lớn hơn: sự thay đổi dân số, sự bất an kinh tế, sự mất niềm tin vào thể chế. Nhưng thay vì đưa ra các chính sách nhằm giải quyết tận gốc rễ các biến động trên, nhiều chính trị gia đã chỉ lợi dụng những lo âu đó để mị dân kiếm phiếu. Đắc cử rồi thì dùng quyền lực thao túng cho những mưu đồ của bè phái và cá nhân, bỏ rơi những người đã bỏ phiếu cho họ.
Quê hương thứ hai của tôi đấy, hỏi sao không đau lòng. Chúng ta đang trải qua một thời kỳ đen tối, phân hóa trầm trọng, không chỉ trong nội bộ mà còn lan tỏa đến cả bên ngoài. Từ một ngọn hải đăng biểu tượng của tự do dân chủ, nơi thu hút nhân tài xây dựng nên một cường quốc số một, nước Mỹ đang trở thành một quốc gia bị chảy máu chất xám, phách lối, ưa gây hấn, không đáng tin cậy và bị xa lánh, chỉ trong vòng có một thời gian ngắn trên một năm.
Dù vậy, tôi vẫn tự nhủ cần phóng cái nhìn xuyên qua những lớp lang đen tối xấu xí ấy, để nhìn vào một sự thật không đổi: nước Mỹ là một quốc gia được xây dựng bởi những con người rời bỏ quê hương để tìm kiếm một cuộc sống nhân bản tốt đẹp hơn. Cái gốc gác ấy không thể một sớm một chiều mà tan biến đi được.
Dù hiện tại có nhiều điều khiến ta ưu tư lo buồn – những chính sách khắt khe, những lời lẽ chia rẽ, nhục mạ, những bức tường hữu hình và vô hình – nhưng không vì thế mà ta đành lòng phó mặc cho tuyệt vọng. Lịch sử nước Mỹ cho thấy từ hoang tàn đổ nát đất nước này sẽ vươn lên, như đã nhiều lần vươn lên. Mặc dù tôi cũng hiểu xây dựng lại từ đổ nát lần này không dễ, vì không chỉ vật chất hao mòn, mà còn vì tinh thần đầy thương tích.
Cũng như cánh cửa nhập cư chưa bao giờ đóng vĩnh viễn. Bởi vì nước Mỹ, dù đôi lúc ta quên, vẫn là một quốc gia của những con người tin vào khả năng tái tạo, tin vào cơ hội và tin vào tương lai.
Và tương lai ấy, như 250 năm qua đã chứng minh, luôn được viết bởi những người dám rời bỏ quá khứ để tìm kiếm một ngày mai tốt đẹp hơn.
[TD2026-04]
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/trung-duong/

