DOÃN CẨM LIÊN
LTS: Tạp chí Tôi Yêu Tiếng Nước Tôi kỳ này hân hạnh giới thiệu một bài viết của tác giả Doãn Cẩm Liên, lần đầu tiên cao hứng gửi bài đến cho tòa soạn.
Doãn Cẩm Liên là con gái của nhà văn Doãn Quốc Sĩ, một trong những tên tuổi lớn của văn học miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Sinh trưởng trong một gia đình gắn bó sâu sắc với chữ nghĩa và đời sống tinh thần của người Việt, bà sớm hấp thụ truyền thống suy tư về văn hóa, đạo lý và những giá trị tinh thần của dân tộc.
Bài viết “Tín ngưỡng của người Việt” được Doãn Cẩm Liên ghi lại sau một chuyến trở về Việt Nam vào dịp Tết Nguyên Đán. Từ những điều mắt thấy tai nghe tại các chùa chiền, đình miếu và những sinh hoạt tín ngưỡng quen thuộc của người dân, tác giả đưa ra những suy nghĩ riêng về ranh giới mong manh giữa niềm tin tôn giáo và hiện tượng mê tín trong đời sống hiện đại. Với lối viết nhẹ nhàng, quan sát trực tiếp và nhiều suy nghiệm cá nhân, bài viết không chỉ là một ghi chép du Xuân mà còn là một lời đối thoại về đời sống tâm linh của người Việt hôm nay.
—
Con người chúng ta luôn có hai phần, phần thể xác và phần tinh thần hoặc gọi nôm na là thân và tâm. Cả hai thứ đó đều cần được nuôi dưỡng và bồi đắp cho lớn lên một cách khỏe mạnh. Bồi dưỡng thân thì có thức ăn thức uống, thuốc men, vệ sinh, thể thao. Nuôi dưỡng tâm ý thì người ta thường có những thức ăn như học vấn, sách vở, tin tức, chuyện trò và niềm tin tôn giáo.
Bài biết này nói riêng về phần tín ngưỡng tôn giáo ảnh hưởng lên tâm ý con người.
Niềm tin tôn giáo nơi con người là hẳn có. Nhưng niềm tin này sẽ nổi bật lên theo từng giai đoạn của cuộc đời. Từ lúc sơ sinh đến thiếu niên, tôn giáo chỉ ảnh hưởng đến chúng ta một cách áp đặt hoặc gián tiếp qua cha mẹ, ông bà. Lứa tuổi thanh niên vẫn chưa thực sự có niềm tin tôn giáo, vì đang có quá nhiều sự kiện xảy ra, nhiều điều mới để học thì làm gì có đầu óc để nghĩ về một điều gì có thể không thực, khó hiểu mà lại khó nắm bắt như là niềm tin vào một đấng thiêng liêng nào đó. Những điều mơ hồ này chỉ có những vị chân tu có căn tu từ nhiều kiếp trước thì mới nhận ra được và tin ngay vào.
Đến tuổi trung niên, trên 30 tuổi, con người cũng vẫn chưa có nhiều thì giờ cho tôn giáo. Do vì cuộc sống gia đình, sự nghiệp, miếng ăn hằng ngày lôi xệch họ đi xa ra khỏi sự mơ hồ của niềm tin. Tuy nhiên vẫn có những người sớm biết tìm về tôn giáo để hòng nương tựa cho tâm thức của mình được an ổn khi cuộc sống đầy sóng gió. Rồi qua ngưỡng cửa 40 tuổi, đây là cột mốc để con người chợt nhận ra sự cứu rỗi từ niềm tin tôn giáo khi đối chất với thất bại-thành công, yêu-ghét, buồn-vui và cả chuyện tử-sinh nữa. Thế là con người tìm về và nương tựa vào niềm tin, vào tôn giáo. Lão niên, lứa tuổi đang tiến gần đến cái chết hơn, niềm tin tôn giáo bỗng trở thành cái phao duy nhất cho con người bớt sợ cái chết đang thấp thoáng trước mắt.
Phần nhận xét trên đây có thể sẽ không đúng lắm khi nói về các tôn giáo khác như đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, Do Thái… chẳng hạn. Vì con chiên của Chúa đi nhà thờ hằng Chủ Nhật ở mọi lứa tuổi. Mới sinh ra đã được cha mẹ ông bà cho rửa tội. Lớn lên chút nữa bố mẹ xin cho học các lớp giáo lý. Lớn thêm nữa khi có ý thức thì việc đi nhà thờ là một niềm vui. Niềm vui và niềm tin càng tăng khi người càng già đi. Chúa chờ đón con chiên bên kia cửa tử.
Cho nên, phần nhận xét của người viết chỉ có thể đúng với quần chúng theo đạo thờ cúng ông bà, đạo Phật, đạo Hòa Hảo, đạo Cao Đài… những tôn giáo không có luật lệ chặt chẽ. Không có luật viết ra để kết nối người cầu nguyện và người được cầu nguyện. Tinh thần tự nguyện được xem là điểm mấu chốt giữa chúng sinh đến với chùa, đền thờ, đình miếu.
Chúng ta dừng lại đây để chỉ lần theo niềm tin tôn giáo của các Phật tử, Lão tử, Hòa Hảo tử, Cao Đài tử ở khu vực đất nước Việt Nam. Và cũng xin thưa trước chữ “Phật tử” sẽ được nói chung cho các người theo đạo tương tự với Phật như Lão, Hòa Hảo, Cao Đài.
Vì Phật giáo có những ba vạn tám ngàn pháp môn (38.000), mà vị thầy tổ của từng pháp môn lại có những luật lệ riêng. Mỗi thầy tổ có một đường hướng riêng và truyền thừa xuống các đời sau. Thế là có nhiều sự khác biệt, mà ít điều chung nên không thể tạo thành một hệ thống chặt chẽ trong Phật giáo. Tính kém chặt chẽ dễ biến tính “tôn kính” thành tính “mê tín dị đoan” cho những người đến chùa đình đền.
Phần biện minh cho Phật tử theo Phật giáo một cách nghiêm túc:
Phật Tử khi vào chùa có nhiều sinh hoạt như: đọc tụng kinh điển, nghe thuyết pháp, nghiên cứu kinh tạng và thực hành những điều Thầy Tổ dạy, hòng có được “an – vui – hạnh phúc.”
Phật tử hiểu chữ Phật là tỉnh thức. Phật sau khi đắc đạo đã dạy chúng sinh rằng “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sắp thành.” Nghĩa rằng: Ta đã nắm được chân lý của cõi trần này, thì quý vị cũng vậy, cũng sẽ nắm được những nguyên lý trời đất. Chỉ duy một điều là mỗi người chúng ta phải tự đi tìm và tự nhận biết ra, không ai làm được cho ai cả. Đừng xin xỏ! Phật còn nói thêm: Ngón tay ta chỉ mặt trăng, thì mọi người lần theo ngón tay để thấy mặt trăng. Đừng nhìn ngón tay, kẻo mà không thấy mặt trăng đâu!
Trở lại chuyện mê tín hay niềm tin tôn giáo.
Theo nghiên cứu và nhận xét thường có rằng, vì người Việt Nam sinh sống bằng nghề nông và nghề biển đánh bắt thủy sản, họ gắn liền với đất đai và biển cả, ít di dời đi đây đó những vùng đất xa, nên có niềm tin vào thần linh bên cạnh ông Phật ngự trong chùa. Họ khấn vái Phật y như đi xin thần núi, thần sông, thần biển, thần đất, thần cây… cho được thuận hòa mưa gió, ăn nên làm ra.
Họ quên mất rằng ông Phật đã từng nói và dạy người Phật tử là tin vào chính mình, khả năng nơi mình mà thôi. Thần linh không là yếu tố làm nên mọi chuyện. Mà hỡi ôi, vẫn còn lỗ hổng tâm lý nào đó khiến cho Phật giáo bị biến tướng thành mê tín dị đoan. Chắc do vì ảnh hưởng sau 1,000 năm đô hộ của người Trung Hoa, người dân Việt Nam học được nghề làm nhang, nghề làm vàng mã. Từ những sản phẩm này họ mang vào chùa chiền hòng để dễ dàng khấn vái, xin xỏ và đền đáp.

Từ ngàn xưa đến nay, vào những ngày trước sau Tết Nguyên Đán cho đến rằm tháng Giêng là thời gian người dân quê Việt nghỉ ngơi, vui chơi cho hết “tháng ăn chơi.” Nay, Việt Nam phát triển đã có thêm những ngành nghề trong ngành công nghiệp, người dân đã lên tỉnh thành sinh sống và làm ăn. Nhưng họ vẫn mang theo tính lễ bái cúng kiến như người nông dân xưa. Do vậy mới có hiện tượng đi chùa đình đền đài dịp du Xuân. Họ cúng lễ, xuýt xoa khấn vái, đốt nhang vàng mã, lên đồng cầu khấn. Sự khấn vái này vượt quá ngưỡng tôn kính, dường như bước vào khung mê tín dị đoan hơn là tín ngưỡng. Con người hết làm chủ được chính vận mệnh của mình, nay phải nhờ vào thần thánh để xin được giúp đỡ!
Cảnh tượng tại các chùa đền đình thật là vui khi nhìn các già trẻ lớn bé, không kể những “nam thanh nữ tú” áo quần xênh xang, trang điểm đẹp đẽ, đến lễ bái. Người người với tay nắm một bó nhang khói ngút ngàn, cắm xuống các lư hương to đùng ở cửa. Người người đứng chắp tay, mắt nhắm, miệng lẩm nhẩm dài lâu. Không phải là đọc kinh mà là đang cầu xin!?

Tiền cúng dường?
Ôi thì vô vàn tiền phủ trên bàn thờ. Tờ tiền mệnh giá 1.000, 2.000, 5.000, 10.000, 20.000, 50.000 tràn đầy các mâm để trên bệ thờ. Trên là tượng thờ, dưới là tiền. Bên cạnh những khay tiền luôn có người ngồi cạnh. Người này có nhiệm vụ chăm sóc bàn thờ và cả khay tiền. Hễ những lúc vắng người, người canh gác nhẹ nhàng gom chất đống tiền này đi hòng để không làm nảy lòng tham chúng sinh đi lễ.
Lên đồng là một hiện tượng lên đồng khá phổ thông ở miền Bắc. Dường như đền đình nào cũng có tiết mục lên đồng. Người ngồi đồng mặc áo rất sặc sỡ tươi sáng, đầu đội khăn, mặt trang điểm như diễn viên sân khấu, miệng nhai trầu bỏm bẻm. Hai người hầu đồng ngồi hai bên giúp người lên đồng sắp xếp khăn, áo, quạt, tách trà, dụng cụ múa và nhiều thứ linh tinh khác. Chắc vì vậy mới có chữ “đồng bóng.” Và một ban nhạc, hát theo lối Hát Văn. Người hát vừa hát vừa đàn, đàn nguyệt. Bộ gõ gồm phách và trống. Bài hát sẽ tùy thuộc vào “giá” nào mà người lên đồng chọn. Giá là vai nhập, thánh cô, thánh cậu, mẫu…
Bao nhiêu điều lạ lùng mà người viết này được chứng kiến trong cuộc du lịch về quê hương. Không biết vui hay buồn khi chứng kiến niềm mê tín của dân Việt? Vì bao giờ trong buồn cũng có vui, mà có vui rồi thì buồn sẽ luôn có mặt. Hai mặt của đồng tiền là thế.

Thôi thì… người sống mà niềm tin tôn giáo chưa được đúng, có phần mê tín dị đoan thì mình vẫn hy vọng rằng những người này còn ‘biết sợ.’ Vì biết cầu xin này nọ là họ cũng biết tính “nhân – quả.” Xin và được là nhân gieo rồi hái quả. Nhưng nhân – quả không dừng ở xin xỏ và có được, mà còn ở những hành động mình làm trong từng phút giây, ngày tháng năm, đời và kiếp. Phải biết sợ khi làm điều ác, điều bất thiện đối với người khác là có luật “nhân – quả” hiện lên. Nhân – quả là điều có thật và rất chính xác. Quả của ai người nấy nhận, không ai nhận thay được. Chỉ có điều quả đến lúc nào không ai biết trước được. Nó có thể đến ngay trong kiếp này, kiếp sau hay nhiều kiếp sau nữa mới rớt xuống để người ấy trả. Đáng sợ thật!
Biết sợ nhân – quả thì người con Phật luôn nghĩ và làm điều lành thiện, đó là gieo nhân. Nhân đã gieo thì quả ắt có. Làm nhiều nhân lành sẽ lấn át tần suất những nhân xấu lỡ làm trong quá khứ. Nhân xấu sẽ không có cơ hội trồi lên, nó bị dìm sâu trong hũ “nghiệp lực” và mất cơ hội xuất hiện. Đó là cách người Phật tử xoay đổi vận mệnh của chính mình.
Hỏi rằng, chúng ta là cư sĩ Phật giáo nghĩ sao về Nhân – Quả, Nghiệp – Báo? Giải quyết vấn đề này ra sao? Bằng cách nào để thân tâm thường an lạc?
Doãn Cẩm Liên
California, 9/3/2026
Similar articles: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/doi-song/

