YẾN TUYẾT
Trong không gian tĩnh lặng của một ngày cuối tuần của tháng Tư ở Orange County, tôi nhìn lại 75 tháng Tư đã đi qua trong cuộc đời mình và bàng hoàng vì không ngờ thời gian có thể “bay đi” nhanh đến thế.
Tháng Tư với tôi luôn mang đến niềm vui đặc biệt vì tôi chào đời vào một ngày trong tháng Tư của ¾ thế kỷ trước ở thành phố Huế, nơi có dòng sông Hương thơ mộng, trôi êm đềm như đã trôi qua Huế từ hàng trăm năm trước.
Tôi chỉ đón những tháng Tư sau đó ở Huế trong thời gian năm năm đầu của tuổi thơ, nhưng khi nhớ về Huế, con đường Hàng Me nơi ông bà ngoại tôi ở với những cánh lá me bay lẫn trong tiếng ve kêu vang mỗi buổi trưa Hè, mãi mãi mang hình ảnh và âm thanh tuyệt vời trong trí tưởng.
Tháng Tư của những năm làm học trò ở Saigon từ tiểu học cho đến Đại Học mang những kỷ niệm đẹp, vô tư và hồn nhiên biết bao. Dù lúc đó chiến tranh đang diễn ra nhưng tôi và các bạn đồng lứa vẫn vô tư vui tươi, đùa nghịch, không hề biết lo âu vì tiếng súng hay bom đạn, bởi vì đôi khi, chúng chỉ vọng về từ những nơi rất xa thành phố.
Chúng tôi có lẽ cũng vô tư như người phu quét đường trong một bản nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi ông viết các ca từ trong một bản nhạc liên quan đến chiến tranh: “Đại bác đêm đêm, dội về thành phố, người phu quét đường, dừng chổi đứng nghe.”
Dĩ nhiên, chiến tranh Việt Nam trong thời gian hơn 20 năm ấy, có ảnh hưởng ít nhiều đến gia đình tôi vì trong năm bà chị lớn của tôi thì hết bốn bà lấy chồng là sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)
Hai ông anh ruột của tôi cũng thay phiên nhau gia nhập hàng ngũ lính tráng khi đến tuổi động viên.
Tuy nhiên, trong số các người thân đi lính chỉ có ông anh rể lấy bà chị thứ hai của tôi là dân đánh trận từ khi ông ấy còn là Trung Uý Biệt Động Quân , còn mấy ông anh rể kia toàn là lính văn phòng vì hoặc là bác sĩ quân y hay sĩ quan trong ngành Chiến Tranh Chính Trị hay Tâm Lý chiến.
Những thanh niên, thiếu nữ ở hậu phương như tôi trong hơn 20 năm đất nước chia đôi ấy may mắn sống an toàn là nhờ hàng ngàn chiến sĩ VNCH có mặt ngoài mặt trận, hy sinh mạng sống để bảo vệ cho thành phố nơi chúng tôi ở được yên ổn. Chúng tôi chỉ biết cắp sách đi học, tranh giành thứ hạng trong lớp, lo học bài rồi lo thi cho đậu để được lên lớp, rồi mong cuối tuần đến để được đi dạo phố, đi ăn hàng hay xem xi nê.
Những tháng Tư của hơn 50 năm trước ngoài sinh nhật của mình với tôi chẳng có gì quan trọng.
Cho đến khi tôi lên năm thứ hai đại học thì lệnh tổng động viên xảy ra khiến một số bạn nam sinh viên đồng lớp bị kêu nhập ngũ, hay phải tham gia huấn luyện quân sự. Trong số đó, có mấy tên bạn trở thành lính tác chiến, ít khi được về phép ở thành phố.
Lúc bấy giờ tôi mới cảm thấy đời sống của mình bắt đầu mang vẻ lo âu căng thẳng hơn và bắt đầu nghĩ đến sự nguy hiểm và bất an mà người thân hay bạn bè mình đang đối diện nơi chiến trường.
Lúc tôi 20 tuổi vì ba tôi về hưu nên tài chính gia đình eo hẹp, khiến tôi phải đi kiếm việc làm trong khi đi vẫn còn tiếp tục đi học ngành Báo Chí ở Đại Học Vạn Hạnh.
Được mướn vào làm Biên Tập viên Tin tức ở Đài Phát Thanh Quân Đội trước tháng Tư năm 1971, tôi bắt đầu nhìn thấy và nghe rõ hơn hình ảnh hiện thực của chiến tranh qua những bản tường trình của các phóng viên từ mặt trận gửi về; hay qua những bản tin mà mình phải soạn hàng ngày cho xướng ngôn viên loan trên đài mỗi đầu giờ.
Bây giờ nhớ lại những tháng Tư của các năm 1971-1975 sau khi gia nhập Đài Phát Thanh Quân Đội, tôi mới nghĩ ra là đã có hàng trăm bản tin tôi viết, những cuốn băng đã được tôi cắt dán, hoàn chỉnh ghi nhận việc tử trận của hàng ngàn người lính ở hai miền Nam Bắc trong ấy.
Tôi tưởng tượng không biết bao nhiêu bậc cha mẹ ở Việt Nam trong thời gian 20 năm chiến tranh đó đã khóc hết nước mắt vì mất con, bao nhiêu người vợ mất chồng, bao nhiêu đứa trẻ mất cha, bao nhiêu người con gái mất người yêu trong những tháng Tư của hơn hai thập niên bom đạn dày xéo lên quê hương đó.
Mỗi lần đến ca của mình làm tin, tôi thường nhận được những bản tường trình sống động, mô tả các cuộc đụng độ giữa những người lính VNCH với lính Cộng sản Bắc Việt được các phóng viên chiến trường đang có mặt tại các mặt trận đánh, có khi rất khốc liệt, gọi telephone về đài tường thuật.
Khi thâu tiếng của họ trực tiếp truyền thanh, tôi có thể nghe rất rõ bên kia đầu dây điện thoại tiếng súng nổ, tiếng la hét chung quanh và hình dung ra cảnh tượng nguy hiểm gần kề.
Và tôi luôn niệm Quan Thế Âm Bồ Tát cho họ được yên lành trở về.
Kỷ niệm đáng nhớ nhất của tôi trong thời gian làm Biên Tập Viên tin tức ở Đài Phát Thanh Quân đội là đã có dịp thâu những bản tường trình của các phóng viên mặt trận gửi về từ mặt trận An Lộc trong những ngày tử thủ kéo dài từ 13/4/1972 đến 20/7/72. Sự chiến đấu quả cảm của các chiến sĩ Biệt Kích Dù dưới sư lãnh đạo oai hùng của tướng Lê văn Hưng tại An Lộc, một địa danh trở nên nổi tiếng trong quân sử VNCH , sau đó đã được một cô giáo địa phương làm hai câu thơ để vinh danh các chiến sĩ Biệt Kích Dù:“An Lộc địa sử ghi chiến tích. Biệt Cách Dù vị quốc vong thân.”
Những chiến sĩ Biệt Kích Dù này là hình ảnh tượng trưng cho lòng can đảm và anh dũng chiến đấu để giữ từng tấc đất của các chiến sĩ VNCH khác có mặt trên các mặt trận.
Tiếc thay, cuối cùng họ đã cùng đón tháng Tư năm 1975 với dân chúng miền Nam trong tủi hờn và đau đớn.
Trở lại câu chuyện của tôi vào ngày 29/4/1975.
Lúc sáu giờ tối hôm ấy, tôi hoàn tất ca làm việc của mình ở đài Phát thanh Quân Đội và dĩ nhiên không bao giờ ngờ đó là ca làm tin tức cuối cùng của mình tại cơ sở này.
Trước khi lái xe về nhà, tôi ghé qua Đài Phát Thanh Saigon, chỉ nằm cách đó có hai blocks đường vì Đài Phát Thanh Quân Đội nằm trên đường Hồng Thập Tự, gần chân cầu Thị Nghè, còn Đài Saigon thì nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần góc đường Hồng Thập Tự.
Tôi cần kể thêm lý do vì sao tôi có mặt ở Đài Saigon vào cái ngày 29 và 30/4/1975 ấy.
Vào đầu năm 1972, bên cạnh việc làm Biên tập viên Tin tức ở Đài Phát Thanh Quân Đội, tôi được tuyển vào làm việc ở Đài Saigon, còn gọi là Đài Phát Thanh Quốc gia; hay tên sau cùng là Hệ Thống Truyền Thanh Việt Nam với vai trò Phóng viên Phát Thanh.
Vì là nữ phóng viên duy nhất ở Đài Phát Thanh Saigon lúc bấy giờ nên tôi chưa từng được cắt cử đi ra mặt trận để săn tin, vì ưu tiên một của tôi là tháp tùng bà Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu để tường trình các sinh hoạt liên quan đến giáo dục, y tế và xã hội của bà Thiệu. Thí dụ như đi uỷ lạo thương bệnh binh, cắt băng khánh thành trường học…v. v…
Nếu không phải đi theo ban Báo Chí Phủ Tổng Thống để làm việc, tôi cùng với một hay hai nam phóng viên khác, thay phiên nhau đi dự những cuộc họp báo do phát ngôn viên chính phủ là ông Bùi Bảo Trúc, hay phát ngôn viên Quân sự là Trung Tá Lê Trung Hiền phụ trách.
Vì còn đi học hai năm nữa ở Đại học Vạn Hạnh với dự tính ra trường vào năm 1973 hay 1974 nên tôi xin được làm ở Đài Phát Thanh Saigon ca buổi sáng để có thể chạy qua làm việc bên đài Đài Phát Thanh Quân Đội vào ca buổi trưa hay chiều. Tôi xoay sở thì giờ của mình để có thể đến Đại học Vạn Hạnh tham dự một vài lớp học cần thiết đòi hỏi sự có mặt của mình.
Tối 29/4/1975 khi ghé đài Saigon tôi gặp người yêu của tôi lúc đó là anh VA , lúc đó là Chánh sự vụ Sở Thời Sự .
Anh VA có mặt ở đài Saigon 24/24 vì từ ngày 1/4/1975 anh đã quyết định vào cắm trại ở luôn trong đài để có thể theo dõi và loan báo những tin tức quan trọng dồn dập gửi về từ các hãng thông tấn hay từ những phóng viên chiến trường.
Từ đầu tháng 4/1975, các nhân viên cao cấp của Đài Phát Thanh Saigon không thấy vào đài vì có lẽ họ đang tim đường ra đi, do đó anh VA phải nhận trách nhiệm theo dõi và loan báo các tin tức thời sự trong thời gian “dầu sôi, lửa bỏng” ấy.
Trước đó, từ tháng Ba trở đi cho đến tháng tư 1975, phòng tin tức và phòng phóng viên của chúng tôi tại Đài Phát Thanh Saigon bận rộn nhận tin, viết tin và loan tin. Chúng tôi vừa làm phận sự tường thuật sự kiện của người phóng viên, vừa đau lòng khi biết tin những thành phố miền Trung bị bỏ ngỏ.
Tôi xúc động biết bao khi liên tiếp nhận tin tức về cảnh tượng di tản đau thương và hoảng loạn trên Quốc lộ 1 khi những người lính VNCH nằm chết bên cạnh dân chúng vô tội bị chết vì đạn pháo kích hay vì bị đói khát..
Đêm 29/4 sau khi tôi đến Đài Phát Thanh Saigon thì Việt Cộng pháo kích vào phi trường Tân Sơn Nhất và nhiều nơi khác nên anh VA muốn tôi rời đài về nhà ngay.
Trước khi rời đài Saigon, tôi có một kỷ niệm nhỏ khó quên là tìm chỗ tránh đạn pháo kích dưới chân cầu thang của Đài Phát Thanh Saigon kế bên chị Dạ Lan, người em gái hậu phương của các anh chiến sĩ VNCH, vì khi ấy chị Dạ Lan qua làm xướng ngôn viên ở Đài Phát Thanh Saigon.
Sau đó, khi tôi lái xe Honda về đến nhà ở Cư Xá Lữ Gia Phú Thọ thì trường đua nằm kế bên đầy lính VNCH đóng quân ở đó. Họ đâu biết ngày hôm sau là phải buông súng và bắt đầu một cuộc đời bi thảm và bị kỳ thị, đày đọa bởi Cộng sản trong một thời gian dài.
Ở nhà tôi tối 29/4/75 chỉ con ông anh kế làm lúc đó là Trung Uý Quân cảnh vừa từ Bình Dương về thăm gia đình và ở lại giữ nhà vì ba mẹ tôi đã cùng gia đình bà chị thứ hai có chồng là Đại tá Chỉ huy phó Sư Đoàn 7 đang kẹt ở Cần Thơ với tướng TVH dẫn nhau vô tạm trú ở Đại Học Vạn Hạnh vì tưởng đó là khu phi quân sự, Việt công sẽ không pháo kích nên an toàn hơn.
Cũng vì nhà của chị Th. tôi ở khu trại Lê văn Duyệt nên sợ bị Việt Cộng pháo kích và bà đã dẫn bảy đứa con đi theo ba me tôi đến Đại học Vạn Hạnh để mong tránh nạn. Ai ngờ khi chị ấy trở về chiều ngày 30/4 thì nhà chị tôi đã bị một số kẻ gian và tụi 30/4 vô hôi của và phá tan nát. Chị Th. và các con trở thành homeless và phải kéo về nhà ba mẹ tôi tạm trú một thời gian ngắn, chờ anh rể tôi từ Cần Thơ về đoàn tụ rồi mới dọn ra riêng.
Sáng 30/4/1975, trước khi tôi sửa soạn đi làm ca sáng của mình như thường lệ thì ông Q. anh lớn của tôi đang là chuẩn uý Hải quân ghé ngang rủ tụi tôi ra bến Bạch Đằng tìm đường di tản vào giờ thứ 25 với ông ấy. Vợ con ông anh tôi đã được Bank of America nơi bà làm việc bốc đi từ ngày 23 hay 24/4 khi ông bị cắm trại nên ông phải tìm đường đi theo bằng mọi cách.
Anh H là ông anh thứ hai của tôi từ chối đi theo vì nghĩ ông ấy sẽ là con trai duy nhất ở lại lo cho Ba Me tôi khi đó đã ở trong tuổi gần 70. Phần tôi thì muốn làm phận sự phóng viên của mình ở Đài Phát Thanh Saigon và cũng muốn hỗ trợ người yêu là anh VA trong những giờ phút căng thẳng nên cũng nói không đi.
Ông Q là người duy nhất trong gia đình tôi qua Mỹ năm 1975 và sau này lần lượt bảo lãnh tụi tôi đến Mỹ từ các trại tị nạn.
Tôi đến Đài Phát Thanh Saigon khoảng 9 giờ sáng ngày 30/4/1975 nhưng không gặp các nam phóng viên khác.
Bên phòng tin tức, môt số biên tập viên vẫn đến làm công việc theo ca hàng ngày của họ. Bên phòng thu thanh, môt số kỹ thuật viên và xướng ngôn viên vẫn ở đó để loan tin.
Tôi ghé đến văn phòng làm việc của anh VA thì thấy anh đang cầm phone nói chuyện với bên Phủ Tổng Thống, lúc đó Đại tướng Dương văn Minh mới lên làm Tổng Thống được ba ngày.
Sau khi gác máy, anh VA nói Phủ Tổng Thống muốn anh gửi phóng viên qua Dinh Độc Lập gấp để thâu một thông báo quan trong. Tôi ngỏ ý muốn được đi nhưng anh VA bảo đó không phải nhiệm vụ của nữ phóng viên vì LPB và PMD mới là hai phóng viên phụ trách tin bên Phủ Tổng Thống.
Trong khi anh VA dự định sẽ đi qua Dinh Độc Lập với một kỹ thuật viên kỳ cựu là anh HO thì phóng viên LPB xuất hiên, do đó anh VA gửi LPB đi.
Chúng tôi ở lại đài chờ LPB với nỗi lo âu và nóng ruột không biết lời tuyên bố quan trọng của TT Dương văn Minh sẽ là gì?
Khoảng một giờ đồng hồ sau thì LPB và anh HC trở về. LPB trao tận tay anh VA “cuốn băng cassette định mệnh,” ghi âm lời kêu gọi của TT Dương văn Minh gửi đến các quân dân cán chính VNCH về việc “bàn giao với phía bên kia trong vòng trật tự.”
LPB cho biết TT ra lệnh phát thanh lời kêu gọi đó nhiều lần và nghĩ mình đã làm xong phận sự nên rời đài để lại tôi và anh VA đón tin sét đánh đó trong kinh ngac, hoảng hốt và sững sờ.
Anh VA nói với tôi về phòng Phóng viên chờ anh và cầm cuốn cassette chạy qua studio để loan tin theo lệnh ông Dương Văn Minh.
Theo lời kể của anh VA thì anh gặp và đưa cuốn cassette cho anh VTA, lúc đó đang là Chánh sở Chương Trình và Phụ Tá Trưởng khối (tương đương với chức phụ tá Giám Đốc).
Hai nhân viên cao cấp nhất của đài lúc bấy giờ đã cho nhân viên loan trên Đài Phát thanh Saigon lời tuyên bố lịch sử chấm dứt chiến tranh Việt Nam lúc 10am sáng ngày 30/4/1975, và dự định sẽ cho phát lại mỗi 15 phút một lần.
Kể từ ngày đó, tôi không hề gặp lại anh VTA cho đến khi qua Mỹ trong kỳ họp mặt Truyền Thanh-Truyền Hình ở Texas khoảng năm 2000.
Anh VTA sau đó cũng bị đi tù Cộng sản.
Tưởng đã xong phận sự nên sau khi cho phép nhân viên thu dọn để ra về, anh VA gặp tôi ở phòng Phóng viên và chúng tôi cùng quyết định rời Đài Phát Thanh vì không còn biết phải làm gì nữa.
Đang cùng nhau bước tới cổng Đài thì thấy một nhóm người mặc áo quần Bộ đội Việt Cộng áp giải TT Dương Văn Minh bước vào đài, dẫn đầu là tướng Nguyễn Hữu Hạnh (mà sau này tôi mới biết là ổng nằm vùng). Tướng Hạnh yêu cầu anh VA dẫn lên phòng thâu âm và bắt buộc ông Dương văn Minh đọc trực tiếp vào máy phát thanh lời tuyên bố do họ viết sẵn, nội dung ra lệnh cho các đơn vị của VNCH buông súng, đầu hàng vô điều kiện.
Sau khi chúng tôi được phép rời đài, anh VA và tôi ở trong tâm trạng hoang mang, nửa muốn về nhà, nửa muốn tìm đường đi nhưng cuối cùng không thực hiện được.
Ngày 30/4/1975 đánh dấu cuộc đổi đời của hàng triệu người dân miền Nam trong đó tôi.
Anh VA sau đó đón 13 cái Tháng Tư trong nhiều nhà tù Cộng sản từ Nam ra Bắc.
Còn phần tôi thì dù có được ở bên ngoài nhà tù và đã đón sáu tháng Tư nữa ở Việt Nam trong thời gian từ năm 1975 đến 1981, nhưng hình như tôi không còn để ý đến ngày tháng làm gì nữa.
Những tháng Tư đó sau 30/4/1975 ở Việt Nam của tôi là những năm -sống- vì- không- chết được. Tôi cũng không ngờ mình đã kiếm sống trên mọi ngả đường bằng cách bán chợ trời từ Saigon đến Chợ Lớn, qua Phú Nhuận, xuống Tân Định rồi Gò Vấp.
Bên thắng trận có ăn mừng to lớn, huy hoàng bao nhiêu tôi cũng chẳng màng tới. Chỉ cần lo hai bữa ăn và trong đầu mơ chuyện vượt biên.
Cuối cùng, may mắn tôi vượt biên thành công vào cuối năm 1981 và bước chân đến Mỹ vào ngày 2/4/1982, lại là một ngày của Tháng Tư.
Mười năm sau, tôi đoàn tụ với người yêu cũ ở California, USA cũng vào tháng Tư, năm 1992.
Đã hơn 50 năm qua kể từ tháng Tư 1975. Tôi sung sướng vì được sống và đón tháng Tư ở Mỹ 44 lần trong 44 năm ở Mỹ.
Tôi không phải sống ở Việt Nam để nhìn thấy chế độ Công Sản ăn mừng chiến thắng của họ 51 lần vào ngày 30/4/2026.
Ở Mỹ, tôi cũng không còn tham dự ngày kỷ niệm 30/4 nữa vì càng ngày các buổi lễ càng mất dần ý nghĩa qua những cuộc trình diễn ca hát và những bài diễn văn đầy sáo ngữ.
Với tôi, kỷ niệm về ngày 30/4/1975 sẽ không bao giờ có thể quên được. Nó đã trở thành một sự kiện lịch sử.
Thế nhưng, vết thương ấy phần nào đã được lành lặn vì tôi được sống ở Mỹ và được hưởng tự do, dù không tuyệt đối như những năm trước kia nhưng cũng hơn là sống dưới chế độ Công sản.
Người cùng chia sẻ với tôi những giờ phút cuối cùng của ngày 30/4/1975 ở Đài Phát Thanh Saigon là anh VA nay đã ra người thiên cổ. Đồng nghiệp LPB sống im lặng ở một nơi nào đó trên đất Mỹ. Anh VTA bây giờ trở thành nhà tu.
Rồi chúng tôi lần lượt sẽ trở thành cát bụi. Những tháng Tư đã qua hay sắp đến sẽ tan theo thời gian. Viết về ngày 30/4/1975 với kỷ niệm riêng và lòng thương nhớ pha lẫn ngậm ngùi.
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/yen-tuyet/

