Thưởng Tết: Phong tục trường tồn trong đời sống người Việt

by Tim Bui
Thưởng Tết: Phong tục trường tồn trong đời sống người Việt

LÊ NGUYỄN

Để gọi chung các cụm từ chơi Tết, thưởng Tết, hưởng Tết, vui Tết, người Việt thường dùng một từ nôm na là “ăn Tết.” Hai chữ này gợi lên các truyền thống, sinh hoạt, tập tục, nghi thức liên quan đến những ngày đầu năm mới âm lịch trải dài hàng ngàn năm trên đất nước chúng ta.

So với các phong tục tập quán còn tồn tại đến ngày nay, tục ăn Tết có một nguồn cội khá lâu đời. Nó được nhắc đến trong tác phẩm xưa nhất còn được lưu trữ trong văn khố và còn có giá trị tham khảo đến ngày nay, đó là tài liệu nghiên cứu có tên “An Nam Chí Lược” do Lê Tắc soạn thảo vào khoảng thập niên 1330, dưới thời vua Trần Hiến Tông (1329—1341). Tác phẩm miêu tả xã hội Đại Việt từ thời Trần trở về trước, dưới các khía cạnh lịch sử, địa lý, nhân vật, phong tục tập quán…

Điều khá thú vị là tác phẩm “An Nam Chí Lược” của Lê Tắc đã dành một phần quan trọng để miêu tả phong tục ăn Tết của người Việt, khởi đầu bằng sinh hoạt cung đình trước, trong và sau những ngày đầu năm mới.

Sách kể rằng khi còn hai ngày đến Tết, vua nhà Trần cùng các quan lại đi tế điện Đế Thích, đến ngày 30 âm lịch, vua ngồi ở cửa Đoan Củng để các bề tôi đến làm lễ và cùng nhau xem múa hát. Đêm trừ tịch, các thầy tu vào cung nội làm lễ “khu na” (xua đuổi tà ma, quỷ mị), trong lúc người dân mở rộng cửa nhà, đốt pháo tre và lập cỗ bàn cúng bái. Đặc biệt, theo Lê Tắc, trong dịp cuối năm này, những đôi nam nữ nào vì nhà nghèo, không tìm được người mai dong (người làm mai mối,) thì tự mình kết ước chồng vợ với nhau.
     
Vào thời đó mà đến ngày nguyên tiêu (rằm tháng Giêng), nhà Trần đã thực hiện lễ “Chầu đèn” bằng cách cho thắp đến mấy vạn ngọn đèn “Quảng chiếu” trên một sân rộng, sáng rực cả một vùng rộng lớn.

Thời Lê-Trịnh, với sự hiện diện của cả vua Lê và chúa Trịnh, lễ Tết cũng mang những sắc thái khác, tiêu biểu là lễ “Hạ điền” diễn ra vào ngày mùng ba Tết hàng năm. Sáng hôm đó, vua Lê ngồi lên ngai vàng do quân lính khiêng trên vai, dẫn đầu đám rước. Tiếp sau ngai vua, chúa Trịnh ngồi trong xe thếp vàng, theo sau là các cử nhân, tiến sĩ, quan lại các cấp. Khi đám rước đi đến khu ruộng dành làm lễ thì dân chúng đã tụ tập đông vầy. Nhà vua bước xuống ngai vàng, làm lễ tế cáo trời đất, rồi bước xuống ruộng, tay cầm cày, rẽ một luống, như sự cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng phong phú.

Ngày Tết thời Lê-Trịnh vào những năm 1627-1630 còn đánh dấu sự có mặt của một người phương Tây là giáo sĩ Alexandre de Rhodes. Chỉ trong ba năm ngắn ngủi ở Đàng Ngoài (vùng đất từ sông Gianh trở ra phía Bắc), ông ta đã nghiên cứu mọi mặt sinh hoạt của xã hội lúc bấy giờ và biên soạn một tác phẩm dày bằng tiếng Ý, sau dịch ra tiếng Pháp với nhan đề “L’histoire du royaume du Tunquin” (Lịch sử vương quốc xứ Đàng Ngoài).
     
Khi viết lại hồi ức về những ngày Tết thời Lê-Trịnh, Alexandre de Rhodes nhắc lại một tập quán vô cùng lạ lẫm mà ta không thấy ghi chép trong tác phẩm nào khác trước và sau đó. Đó là tập quán diễn ra nhiều ngày trước Tết, các bô lão trong thôn xã trốn hết vào các chùa chiền để tránh bị làm hại bởi tà ma, quỷ mị. Mãi đến ngày Tết, họ mới rời các ngôi chùa, lục tục trở về nhà, ăn Tết với con cháu.

Hồi ức của De Rhodes cũng là một trong những tác phẩm đầu tiên đề cập đến cây nêu ngày Tết. Ông mô tả nó đơn giản là “một cột dài vượt quá mái nhà, trên ngọn treo một cái giỏ hay một túi đục thủng nhiều lỗ và đựng đầy thứ tiền bằng giấy vàng giấy bạc…” (Lịch sử vương quốc xứ Đàng Ngoài – bản dịch của Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên – NXB Khoa học xã hội – 2016, trang 115).

Về sau, nhiều tài liệu đã miêu tả chi tiết hơn về cây nêu, cho biết thường chúng làm bằng một cây tre cao được róc bỏ hết các cành nhánh bên dưới, chỉ chừa lại chỏm là trên cùng bay phất phơ trước gió.

Theo tín ngưỡng đương thời, trầu cau đựng trong chiếc giỏ treo trên đầu ngọn tre dùng để ông bà cha mẹ ở thế giới bên kia sử dụng hàng ngày, còn giấy tiền, vàng bạc là để họ có cái chi xài và thanh toán nợ nần với người cùng thế giới bên kia. Còn có nơi, ngoài chiếc giỏ đựng trầu cau, giấy tiền vàng bạc, người dân còn gắn thêm trên ngọn cây nêu một tấm lưới mắt cáo đan bằng tre, hình chữ nhật, có bốn  thanh ngang và năm thanh dọc, bốn thanh ngang tượng trưng cho bốn phương Đông Tây Nam Bắc, còn năm thanh dọc tượng trưng cho năm yếu tố vật chất căn bản của trời đất là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ!

Có tài liệu còn đi xa hơn, khoác cho câu nêu tác dụng dự báo thời tiết và tiên đoán tương lai của con người trong năm mới. Dựa vào những làn gió mới thổi ngọn nêu bay theo hướng nào, họ dự báo tình hình thời tiết và những sự kiện xảy ra trong năm, có hướng dự báo một mùa màng thuận lợi, lúa chín đầy đồng, có hướng cho biết sẽ có dịch bệnh, một vụ mùa thất bát, hay chiến tranh sẽ xảy ra.

Vào thời Lê –Trịnh và suốt thời nhà Nguyễn, trong sinh hoạt cung đình, thường vào những ngày cận Tết, có hai cuộc lễ diễn ra, một là lễ Tiến xuân ngưu, hai là lễ Hạp ấn. Lễ tiến Xuân ngưu được tổ chức vào tháng Mười Hai âm lịch, là tháng Sửu trong năm, nên triều đình cho nặn con trâu bằng đất, đưa đến một cái đàn trong kinh thành Thăng Long, các quan địa phương dùng cành cây dâu đánh vào con vật để tống khí lạnh cuối năm.

Lễ hạp ấn thường diễn ra vào ngày 25 tháng Chạp, tất cả công đường ở kinh đô và các tỉnh, huyện, mang chiếc ấn tín sử dụng hàng ngày ra lau rửa, chùi sạch rồi dùng vải bọc kín. Từ đó cho đến ngày khai ấn (mở ấn) diễn ra vào khoảng mùng Năm đến mùng Bảy tháng giêng, các sinh hoạt công quyền hầu như ngừng lại, tuy vậy, người ta vẫn giải quyết những sự việc bất thường xảy ra trong dịp Tết, ấn tín đóng sau.

Từ triều Nguyễn, với sự miêu tả trong các tác phẩm Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và An Nam Phong Tục Sách của Đoàn Triển, phong tục Tết có nhiều nét gần gũi với con người đương đại. Đã có tục tiễn ông Táo về trời ngày 23 tháng Chạp, lễ rước ông Táo ngày 30 tháng Chạp. Ngày nay, hầu hết chúng ta dùng lò nấu bằng điện, bằng ga, người xưa vào dịp này có tục mang bỏ ba ông “đầu rau” (ba hòn đất nung dùng kê nấu) ra một vùng đất sạch, rước ba ông mới về.

Tục tảo mộ cũng diễn ra rất phổ biến từ thời Nguyễn. Để đón Tết, mọi người sửa sang, làm đẹp nhà cửa bằng quét vôi, sơn phết, họ quan niệm rằng người sống cần làm thế thì người chết cũng cần làm thế với ngôi nhà (mộ) của họ. Vì thế, vào những ngày giáp Tết, con cháu trong gia đình đi thăm mộ ông bà, cha mẹ, giãy cỏ cho sạch, sơn phết lại cho có vẻ mới.

Theo Trịnh Hoài Đức, mấy ngày cuối năm, hàng đêm, từng đoàn chừng 10-15 người gọi là “Nậu sắc bùa” kéo nhau đi ngang các nhà hào phú, dán vào cửa ra vào lá bùa cầu tài lộc; chủ nhân mời họ vào nhà đãi đằng, tặng cho tiền bạc, phẩm vật. Cứ thế, các đoàn nậu sắc bùa đi từ nhà (hào phú) này sang nhà khác cho đến đêm giao thừa mới thôi.

Thời của Tuần phủ Đoàn Triển, tác giả An Nam Phong Tục Sách, vào nửa sau thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX, người Việt đã quen với tục xem ngày giờ xuất hành trong ngày đầu năm âm lịch, và chỉ ra khỏi nhà vào ngày tốt, giờ tốt. Đêm giao thừa, họ đi đến các đình chùa, thắp hương, hái lộc mang về để cầu sự may mắn cả năm.

Tục biếu xén cũng phát triển giữa nhiều mối quan hệ khác nhau trong đời sống hàng ngày: giữa dân chúng với quan chức địa phương; giữa cấp dưới với cấp trên trong giới quan chức; giữa học trò với thầy; giữa con nợ với chủ nợ; giữa thông gia với nhau…

Với sự phát triển nhiều mặt của xã hội Việt Nam hiện nay, phong tục đón Tết đã có sự chắt lọc cho phù hợp với nếp sống mới, song những nét cơ bản của sinh hoạt ngày Tết do cha ông để lại vẫn được con cái gìn giữ như những giá trị tinh thần trường tồn với thời gian. 

Similar articles: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/van-hoa/

You may also like

Verified by MonsterInsights