Về danh xưng Hùng vương

by Tim Bui
Về danh xưng Hùng vương

ĐINH VĂN TUẤN

Thư tịch Việt liên quan đến danh xưng Hùng vương 雄王 chỉ có (Đại) Việt sử lược (khuyết danh đời Trần) là ghi nhận sớm nhất: “周庄王时,嘉宁部有异人焉, 能以幻术服诸部落,自称碓王” (Đời Trang Vương nhà Chu, ở bộ Gia Ninh có người dị nhân, dùng  ảo thuật khuất phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương), kế tiếp là sách  Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp), Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên). Trước hết cần nhận định về tự dạng, Việt sử lược khắc in là 碓王, chữ Đối 碓 không phải là chữ Hùng 雄, tại sao vậy? Theo chúng tôi, đây có thể là một chữ do vua quan nhà Thanh khắc sai một cách có chủ ý nhằm hạ thấp, miệt thị danh hiệu Hùng vương của dân Việt, nên nhớ sách này nằm trong bộ Khâm định tứ khố toàn thư, do vua Càn Long, một kẻ bại trận dưới tay Quang Trung, chỉ đạo biên soạn. Theo Khang Hy tự điển “䧺: (字彙補) 與雄同” (䧺: (Tự vựng bổ), đồng với 雄) vậy 雄 = 䧺   (chữ hữu 右 bên trái) và chỉ cần thụt đi nét đầu tiên bên trái 䧺 là ra chữ 碓 (bộ thạch 石) có nghĩa là cối giã gạo, hóa ra vua người Việt không còn là vua Hùng 雄 theo nghĩa hùng dũng, siêu quần, người đứng đầu nữa mà trở thành vua Hùng “cối giã gạo”! Lê Tắc trong An Nam chí lược đã không hề đả động đến danh hiệu Hùng vương mà chỉ dẫn Giao Châu ngoại vực ký  với chữ Lạc 雒. Một số nhà sử học đã viện cớ vào ghi chép này để gián tiếp phủ nhận danh hiệu Hùng vương, nhưng theo ý chúng tôi, An Nam chí lược tuy do chính nhà Nho Việt lưu vong ở Trung Hoa biên soạn nhưng không thể thoát khỏi sự kiểm duyệt, sửa chữa theo ý đồ của vua quan nhà Nguyên trước khi khắc in. Như đã nhận định ở trên về chữ 碓 trong Việt sử lược bị nhà Thanh khắc sai một cách có chủ ý nhằm miệt thị danh hiệu Hùng vương, đến lượt An Nam chí lược cũng thế, nếu có viết về “Hùng” vương cũng sẽ  bị loại bỏ để dùng “Lạc” vương theo quan điểm, thư tịch Trung Hoa. Lưu ý, An Nam chí lược chỉ gọi tên nước ta là Giao chỉ, An Nam hay khi viết về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã theo quan điểm  thiên triều để gọi là “yêu tặc,” cũng chịu theo chỉ đạo của vua quan nhà Nguyên. Đáng chú ý là lời chú của Đại Việt sử ký toàn thư: “貉 將 後 訛 爲 䧺 將” (Lạc tướng, sau bị lầm là Hùng tướng) cũng có vẻ tin vào chữ Lạc. Nhưng về tự hình, 2 chữ 貉,䧺 rất khác nhau, khó có chuyện lẫn lộn. Người chú giải của Đại Việt sử ký toàn thư có lẽ bị sử liệu Hán với chữ Lạc 雒 dễ lầm là Hùng 䧺 gây ảnh hưởng nên không tin là có Hùng tướng, nhưng vẫn tin là có Hùng vương. Cho nên Đại Việt sử ký toàn thư khi viết về Trưng Trắc lại viết giống sách Hán với chữ 雒, họ Lạc 雒, con gái của Lạc tướng 雒將 huyện Mê Linh mà không viết là 貉 將 theo truyền thống. Xem thế đủ biết định kiến về LẠC (theo sử liệu Hán) đã ăn sâu vào trí não của nhà Nho Việt. Trong số 9 bản còn lại của Lĩnh Nam chích quái thì 8 bản chép Hai Bà Trưng họ Hùng, dòng dõi Hùng tướng chứ không phải là Lạc tướng và chỉ có 1 bản viết là Lạc tướng Việt điện u linh cũng có bản chép là Hùng như Lĩnh Nam chích quái. Ở bản Nôm Việt sử diễn âm ghi chép đoạn thơ chữ Hán: 王, 侯  相 將 噲 稱 雄(Vua, quan lẫn tướng đều thích xưng là Hùng) và Thiên Nam ngữ lục, khi chép về Hùng vương và Hai Bà Trưng cũng viết là Hùng tướng. Về âm đọc “Hùng” (không phải là “Lạc”) đã có bằng chứng vào năm 1659 qua bản lịch sử An Nam chép tay bằng chữ Quốc ngữ của Bento Thiện, tác giả ghi là “Hùng vương” và Hai Bà Trưng là cháu của “Hùng vương.”

Những ghi chép về Hùng vương, Hùng tướng còn lưu lại trong Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, Việt sử diễn âm….  Người Hán muốn gọi là Lạc vương, Lạc hầu, Lạc tướng là chuyện của họ và người Việt cổ tin vào Hùng vương, Hùng hầu, Hùng tướng theo tập truyền là chính đáng. Do đó, theo quan điểm chúng tôi, không có chuyện viết lầm từ Lạc sang Hùng.

Danh xưng “Hùng vương” 雄王 được ghi chép trong thư tịch Hán là sách Thái Bình quảng ký, thế kỷ thứ X,đã dẫn Nam Việt chí (Thẩm Hoài Viễn) khoảng thế kỷ V: “交趾之地,頗為膏腴,從民居之,始知播植.厥土惟黑壤.厥氣惟雄.故今稱其田為雄田,其民為雄民.有君長,亦曰雄王;有輔佐焉,亦曰雄侯.分其地以為雄將” (Vùng đất Giao Chỉ rất màu mỡ, di dân đến ở, thoạt đầu biết trồng cấy. Đất đen xốp. Khí đất “hùng.” Vì vậy ruộng ấy gọi là ruộng Hùng, dân ấy là dân Hùng. Có quân trưởng cũng gọi là vua Hùng; các phụ tá thì gọi là quan Hùng. Đất đó được chia ra cho các tướng Hùng cai quản). So với Quảng Châu ký, Giao Châu ngoại vực ký thì ở đây sau khoảng 1 thế kỷ, họ Thẩm, là bậc túc Nho, tất nhiên đã từng đọc đến Sử ký, Hán thư, Thủy kinh chú nên chắc chắn đã biết về Lạc 駱,雒 ở Giao Chỉ, nhưng đáng ngạc nhiên là ông đã có một nhãn quan mới về  dân Giao Chỉ thông qua việc viết chữ Hùng 雄 mà nhất định không phải là Lạc 駱,雒 và hơn nữa còn lý giải về chữ 雄 như sau “厥氣惟雄” (khí đất “hùng”). Yếu tố “hùng” của khí đất gây ấn tượng cho họ Thẩm hơn là yếu tố “lạc” 駱,雒 hay thông tin về ruộng nước đầy vơi. Có thể vào thời điểm họ Thẩm khi thu thập thông tin về Giao Chỉ, lúc này đã thuộc Hán, dân ở đấy không còn được người Hán gọi là Lạc nữa, bằng chứng là sử liệu cho biết sau khi  nước Nam Việt của Triệu Đà bị nhà Hán diệt thì thư tịch hiếm khi nhắc đến “Lạc” nữa, chỉ ở Hậu Hán thư có nhắc đến tên Lạc tướng 雒將 khi chép về Trưng Trắc và tiếp đến là “Lạc Việt” ở Giao Chỉ, Cửu Chân. Thế kỷ IV, Quảng Châu ký, Giao Châu ngoại vực ký còn nhắc đến tên Lạc 駱,雒 (Lạc điền, Lạc vương, Lạc tướng…) nhưng chỉ là thuật lại chuyện xa xưa ở Giao Chỉ rồi sau sử sách không còn nhắc đến nữa. Mãi đến đời Đường (618 -907) người Hán mới đặt tên cho Giao Chỉ là An Nam. Nam Việt chí cho biết người di dân đã gọi ruộng đất ở đó là ruộng “Hùng” từ lâu rồi (không còn được gọi là Lạc theo người Hán nữa) và họ Thẩm, đã tìm hiểu ra lý do như sau: vì đất ở đây đen xốp với khí đất “hùng” 雄 nên mới gọi là  ruộng “Hùng” 雄 (Hùng điền). Khó có khả năng khi cho Thẩm Hoài Viễn tự tạo ra danh xưng Hùng vương 雄王, vì chẳng có bằng chứng nào cho thấy họ Thẩm đã ưu ái dân Giao Chỉ để cố ý viết chữ 雄 thay cho 雒 (phiên âm, tối nghĩa) rồi ban cho một ý nghĩa hay hơn là “hùng” (mạnh mẽ). Các học giả xưa nay có vẻ đã chủ quan khi kết luận rằng, khởi đầu từ Thẩm Hoài Viễn qua việc nhận lầm tự dạng từ chữ 雒 giống chữ 雄 nên ông đã viết thay toàn bộ chữ Lạc 雒 thành chữ 雄 rồi sau nhà Nho Việt bắt chước để gọi là Hùng vương. Tuy trong thư tịch Hán vẫn xảy ra chuyện cùng một tên người lại viết 2 tự dạng 雄=雒, chẳng hạn sách Lã Thị Xuân Thu viết về Vương Tôn Hùng 王孫雄, Sử ký là Công Tôn Hùng 公孫雄 nhưng sách Mặc tử lại là Vương Tôn Lạc 王孫雒. Có khi 雄= 絡 như Hậu Hán Thư viết Thúc Tiên Hùng 叔先雄, Thủy Kinh Chú là Tiên Ni Lạc 先尼 絡. Hiểu biết của chúng tôi hạn hẹp nên không biết các học giả Trung Hoa đã xác nhận chữ nào trong 雄,雒, 絡 là đúng và có trước? Nhưng theo thiển ý, nên tin vào các sách sử như Lã Thị Xuân Thu, Sử ký, Hậu Hán Thư viết chữ 雄. Đặc biệt là ở Nam Việt chí, các nhà nghiên cứu đã quên rằng, nếu Thẩm Hoài Viễn sơ ý lầm tự dạng thì ông sẽ không cần phải dẫn ra đoạn giải thích khác thường về ý nghĩa của chữ Hùng 雄  mà đơn giản chỉ máy móc đổi tự dạng như Giao Châu ngoại vực ký đã thay tất cả chữ 駱 từ Giao Châu ký ra chữ 雒 nhưng vẫn giữ ý nguyên thủy: ruộng Lạc (Lạc điền), ruộng này theo nước cao, thấp,…Tên gọi của một dân tộc không phải duy nhất, có thể do tự xưng hay do người ngoài gọi tên và tùy thời kỳ lịch sử, tâm lý chủ quan hay khách quan…nên một dân tộc có nhiều tên như dân Trung Quốc còn gọi là Hoa Hạ, Hoa, Hán, Trung Nguyên, Đường và người Việt gọi họ là Ngô, Tàu, Bắc hay ngay người Việt đối với người thiểu số lại gọi là Kinh, Đáo, Keo. Xem thế thì sự kiện Nam Việt chí ghi nhận về Giao Chỉ có người Hùng, ruộng Hùng, vua Hùng…hay Giao Châu ký chép là dân Lạc, ruộng Lạc, vua Lạc… là chuyện rất bình thường. 

         “Hùng” trong Hùng vương có âm Việt cổ là gì và ý nghĩa ra sao? Trần Quốc Vượng đã từng nêu giả thuyết về từ nguyên của “Hùng” là tiếng phiên âm từ tiếng Việt cổ gần với tiếng “cun” (con trưởng ngành, trưởng nhà Lang) của tiếng Mường và tiếng “khun” (chỉ người cầm đầu, tù trưởng, nhà quý tộc…) của ngữ hệ Mon – khmer và Thái như La ha, Kháng, Xinh Mun, Khmu, Thái Tây Bắc, Lào. Lưu ý là chính người Mường đã có tiếng đồng nghĩa với tù trưởng tối cao là “bua” (vua) như sử thi Đẻ Đất Đẻ Nước đã từng nói đến “bua Dịt Dàng” và người Việt thế kỷ XVII vẫn còn nói là “ ” (A. Rhodes 1651). Vậy đúng ra phải là “bua” chứ không phải là “cun” và nếu là “bua” thì không tương ứng với “hùng”. Theo thiển ý, nó có khả năng là tiếng “sống” (trái với chết) và tiền thân của “sống” còn lưu tích tiếng Mường là “khổng”, thật vậy, trong An Nam dịch ngữ để ký âm tiếng sông đã dùng hai dạng chữ 生 [şeŋ] và 空 [k’uŋ] cho thấy tiếng sông còn dấu vết âm đầu [k’] ở thế kỷ XV-XVI. Theo Nguyễn Ngọc San, thời Tiền Việt–Chứt, tiếng Mường – Việt chưa có âm “kh” bật hơi, vậy có thể cổ âm của “khổng” là “kổng.” So sánh “kông” với âm Hán thượng cổ là [ɣiuəŋ] (Vương Lực), [gwjəŋ] (Lý Phương Quế) cũng tương đồng. Các phụ âm đầu ɣ (g) và k đều là  âm gốc lưỡi nên có thể hoán chuyển, như biến thể trong cách đọc chữ Hán của của người Việt: gương/kính, gươm/kiếm, gửi/kí cho nên [ɣiuəŋ], [gwjəŋ] nếu dùng ký âm cho “kông” là hợp lý. Tiếng Mường còn chỉ giống đực là “khổng,” Việt là “sống/trống” như “ca khổng” là gà trống nhưng còn được gọi là “khổng ca” (trật tự như tiếng Hán) và đây chính là dấu vết chứng tỏ “khổng” là một từ gốc Hán. Theo chúng tôi, đó có thể là từ hùng 雄 (trống, đực) và như trên đã đối chiếu hùng 雄 [ɣiuəŋ], [gwjəŋ] = sống [khổng/kổng] chứng tỏ “khổng” (sống/trống) là âm đọc tiếng Hán 雄 của người Mường cổ đại. Ngược lại, chữ Hán 雄 (Nam Việt chí) dùng để ký âm cho tiếng Việt – Mường “khổng/kổng.”

          Vùng đất theo Nam Việt chí: “khí đất “hùng” rất màu mỡ, đen xốp và đầy sức “sống” (sinh khí), là đất sống, nguồn sống mới của di dân. Rất có thể  do chính dân bản địa tự gọi theo đặc điểm đó khi xâm chiếm, khai phá vùng đất mới. Ban đầu dân đất Sống gọi vua của mình là vua Sống nhưng sau khi Việt cổ bị thuộc Hán, hay có thể ngay từ thời Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc của An Dương Vương, trong đó có Việt cổ, người Việt đã dùng chữ Hán để ký âm “vua Sống” là 雄王 Hùng vương rồi sau này danh xưng theo âm đọc Hán Việt là “Hùng vương” cứ thế đi vào ký ức dân tộc Việt Nam.         Tóm lại, danh hiệu Hùng vương 雄王 là có bằng chứng thuyết phục trong thư tịch Hán và Việt. Nam Việt chí đã tiết lộ dân Việt cổ di dân đến một vùng đất mới để khai khẩn, trồng trọt và đất này đen xốp, khí đất thì “hùng” do đó người dân gọi là ruộng Hùng. Cai trị đất Hùng có vua Hùng…Còn Đại Việt sử lược bằng một diễn đạt khác đã cho biết có một bậc xuất chúng ở bộ Gia Ninh dùng tài trí chinh phục các bộ lạc, sau đó làm vua tự xưng là vua Hùng. Đáng chú ý là Lĩnh Nam chích quái cũng kể về chuyện di dân qua câu chuyện chia ly, Âu Cơ đem 50 con đến vùng đất mới  là đất liền, cao ráo và cùng tôn người anh cả lên làm vua, gọi là vua Hùng (Hùng vương). Có thể hiểu rằng: thủ lĩnh xuất chúng của dân Việt cổ với tài trí, uy lực của mình, đã chinh phục các bộ lạc lân cận, dĩ nhiên sẽ xảy ra sự kiện di dân đến vùng đất mới màu mỡ để khai khẩn, trồng trọt. Lúc này có lẽ xuất hiện tên gọi ruộng, đất “Hùng” bởi lưu dân gọi tên theo một đặc tính của vùng đất mới rất tốt, màu mỡ, đầy sức “sống” (khí đất “hùng”). Một vị vua mới thống lĩnh vùng đất mới mang tên Hùng đã tự xưng là vua Hùng (Hùng vương), vua của đất Hùng, dân Hùng. Danh xưng Hùng vương có thể là một là một danh xưng do chính dân Việt cổ đặt ra, khác hẳn với danh xưng Lạc vương do người Hán tạo ra khi tiếp xúc với dân trồng lúa nước theo nước thủy triều ở Giao Chỉ trước Hán thuộc.

You may also like

Verified by MonsterInsights