Bùa yêu và Ma gà của người Tày ở Tây Nguyên

by Tim Bui
Bùa yêu và Ma gà của người Tày ở Tây Nguyên

QUỐC ĐỊNH

“Ma gà” cũng có… truyền thống. Nhà nào đã bị “ma gà” ám thì như một lời nguyền truyền kiếp, thế hệ sau sẽ có thêm một “ma gà” nữa. Niềm tin mê muội này đã khiến người Tày đang sinh sống ở Tây Nguyên điêu đứng, khốn khổ biết bao năm qua. Mà ác nỗi, chẳng ai biết hình thù cái con “ma gà” kia ra sao…

Lời nguyền… gái đẹp

Cách thị trấn Buôn Hồ (tỉnh Đắc Lắc) khoảng 70 km, xã Ea Tam, huyện K’rông Năng, nằm lọt thỏm trong một thung lũng sâu dưới cánh rừng Tây Nguyên bạt ngàn. Trên đường vào xã, ông Nguyễn Đại Hà (60 tuổi, nguyên chủ tịch xã Ea Tam) rỉ tai chúng tôi: Không biết “con ma” này bắt nguồn từ đâu, nhưng nó vận vào tâm linh của mọi người, đặc biệt là người Tày, Nùng sinh sống ở các tỉnh Tây Nguyên. Nghiệt nỗi “ma gà” chỉ ám vào các cô gái đẹp, càng đẹp rực rỡ với núi rừng, thì coi như bị… trời đày. Theo tục truyền, nếu một cô gái Tày xinh đẹp bỗng bâng quơ khen con vật, cây cỏ… xinh xắn, đáng yêu mà hôm sau, loài vật hay cái cây đó bị bệnh, úa héo hoặc lăn đùng ra chết thì cô gái đó đã xem như bị… “ma gà” nhập. Người bị “ma gà” nhập thì thường ở nách nổi lên một cục hạch lớn. Khi bóp vào cục hạch này, người bị nhập ban đầu sẽ kêu những tiếng lạ, “lục cục” như… tiếng gà. Thời gian này nếu không tìm được vị thầy mo, thầy tào cao tay ấn về khắc chế thì “nạn nhân” sẽ bị tâm thần, nhẹ thì lang thang bỏ nhà bỏ xứ đi mất, nặng thì chết trong đau đớn, khổ sở.

Đến giờ, người dân xã Ea Tam vẫn còn bàn tán về con “ma gà” hoành hành gần chục năm trước, khiến cộng đồng người Tày, Nùng ở đây mất ăn mất ngủ. Thị Thư (25 tuổi), là người miền xuôi lên ở xã Ea Tam làm việc. Một ngày kia, Thư khen bâng quơ con trâu của một người dân đi qua, bữa sau, con vật bỗng lăn đùng ra chết, còn Thư thì đổ bệnh. Hay tin, người mẹ ở Bình Phước tức tốc lên chăm sóc con, rồi nghĩ con mình ở vùng cao lâu ngày nên bị ai đó yểm bùa nên mời thầy mo đến cúng. Thầy mo cúng không biết bao nhiêu lần rồi phán Thư bị “ma gà” nhập. Từ lời phán này, thầy mo yêu cầu gia đình phải làm lễ để trục con “ma gà” ra khỏi cơ thể Thư.

Nửa đêm hôm đó, khi Thư đang say ngủ, thầy mo của mình bước vào phòng cầm nhang vẽ bùa, phun rượu, rung lục lạc… Còn người nhà, mỗi người trên tay một cây roi dâu, cứ nhè vào người Thư mà vụt lấy vụt để. Quá đau, Thư vùng vẫy gào thét rồi tung chạy ra khỏi nhà. Còn đám người phía sau, ai nấy như lên đồng, hè nhau la hét đuổi đánh cho bằng được con “ma gà.” Trục ma đâu không thấy, chỉ thấy Thư té ngã bất tỉnh. Hay tin, cán bộ xã, bà con chòm xóm đến đưa nạn nhân đến bệnh viện cấp cứu. Tại đây các bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân do bị căng thẳng nên xuất hiện các bệnh lý về thần kinh.

Gần 40 năm an cư lạc nghiệp nơi đất khách, ông Hà Tiến (67 tuổi, ngụ ở xã Ea Tam) cho biết đã chứng kiến vô số chuyện đau lòng về cơn ác mộng “ma gà” nhập vào những cô gái ở độ tuổi xuân thì, gây ra không biết bao cái chết oan ức. Ông Tiến nhớ lại, vào những năm của thập niên 80 của thế kỷ trước, buôn làng này bị “ma gà” hoành hành rất dữ. Ông còn nhớ như in một buổi lễ trục “ma gà” vào khoảng năm 1987 mà ông tận mắt chứng kiến. Đó là Nông Thị Nhi (18 tuổi), cô gái xinh đẹp nhất nhì xã Ea Tam lúc bấy giờ bị cộng đồng cho là đã bị “ma gà” nhập, bởi thời gian đó cô hay ăn nói lung tung và ở hai bên nách có hai cục thịt trồi lên. Sợ hãi, gia đình nhờ thầy mo đến trục con “ma gà.” 

Sau khi xem qua bệnh tình, thầy mo yêu cầu người nhà lấy hồng hoàng và thần sa (cát đỏ giống như thiên thạch nghiền nát) để kẹp vào hai bên nách của Nhi. Kẹp cả tuần mà không hết, hai nách của nạn nhân sưng tấy lên thì thầy mo trị bằng cách “lên đô” nặng hơn, lấy diêm sinh thầy tự bào chế tiếp tục kẹp vào nách nhưng Nhi vẫn không hết bệnh. Thế là ông thầy mo cùng người nhà đè nạn nhân xuống đất, rồi cả chục người, trai gái lớn bé, họ hàng nội ngoại thi nhau trét phân gà và… tè lên người cô gái. Còn thầy mo cầm bó nhang to đùng, cháy như bó đuốc chạy quanh hô thần chú, quơ qua quơ lại khắp nhà ngoài sân. Sau đó, thầy dùng từng cây nhang cháy đỏ rực, chích vào hai cục hạch ở nách cô Nhi. Thấy con “ma gà” đau đớn giãy giụa, gào thét, cả đám người càng bị kích động, lên đến cao trào thì họ thay nhau dùng roi đánh khắp thân thể cô. Cô chết đi sống lại mấy lần, thân thể bầm dập, sưng tấy. Đến ngày thứ ba thì cô qua đời.

Ông Tiến cho biết, lệ tục “ma gà” của người Tày, Nùng tại Ea Tam gần như không còn phổ biến nữa. Bởi cũng nhờ sự tuyên truyền, giải thích của các cán bộ huyện về những hủ tục lạc hậu, mê tín nên bà con người Tày, Nùng khi thấy người nhà có biểu hiện không ổn về thần kinh và sức khỏe, họ đã biết đưa người nhà xuống bệnh viện huyện, tỉnh tìm cách chữa trị. Một vài thầy mo cũng đã bị luật pháp trừng trị vì kiểu trục “ma gà” phản khoa học khiến nhiều nạn nhân tử vong. Nhưng theo ông Tiến, ở một số nơi, thầy mo vẫn còn lén lút trục “ma gà.” Vẫn có người mê tín tin vào “cõi âm” nên thầy mo vẫn còn đất sống. 

Đến nay, cộng đồng người Tày, Nùng ở đây vẫn còn lưu truyền câu chuyện về ông Vừ Thế Cả, vốn là một ông già đã ngoài 60 tuổi hom hem, yếu đuối. Bỗng một ngày, ông Cả cho là đã bị “ma gà” nhập vụt biến thành người có sức khỏe kinh hồn. Cộng đồng ở đây đã chứng kiến ông Cả bẫy rồi nâng, vác một tảng đá ven đường nặng hàng trăm ký, chạy băng băng cả cây số đường rừng mà… không mệt. Và bỗng có biệt tài leo cây như… khỉ, ăn thóc như… gà. Rồi ông Cả chết, một cái chết quằn quại, đau đớn ở một xó rừng nào đó, khi bị con “ma gà” hành đến kiệt quệ, thân tàn ma dại. 

Còn riêng bài chú trục “ma gà,” thì chỉ có các thầy mo biết. Bởi khi làm lễ trục “ma gà,” thầy mo chỉ đọc lí nhí trong miệng hoặc hô to, liến thoắng như… “tiếng gà,” nên không ai có thể hiểu được. Nói về câu thần chú trục “ma gà,” ông Đại Hà cười nói, ngày trước ông từng chứng kiến một buổi trục “ma gà” của ông thầy mo ở tỉnh Kon Tum. Ông đã thu lại một đoạn băng rất dài về bài chú trục “ma gà” của ông thầy mo này. Dù ông Đại Hà là người tìm hiểu, nghiên cứu về ngôn ngữ, văn hóa, đời sống… của đồng bào ở Tây Nguyên gần 20 năm qua nhưng ông cũng chẳng hiểu đó là ngôn ngữ gì. Ông cũng tìm đến những nhà dân tộc học về các dân tộc vùng cao phía Bắc, nhưng sau khi nghe đi nghe lại đoạn ghi âm ấy, họ cũng thốt lên… “biết chết liền!”
“Có thể đó là loại văn khấn cổ xưa chỉ được các thầy mo truyền đời, thế hệ trước truyền cho thế hệ sau chứ không được thể hiện trên các văn bản. Đó cũng có thể là thổ ngữ xưa của người Tày, nhưng theo thời gian bị mai một. Có lẽ chỉ các vị thầy mo, thầy cúng mới hiểu nghĩa của các đoạn văn khấn tế kia,” ông Hà nói.

Chạm trán với… bùa yêu

Theo ông Nguyễn Đại Hà, Ea Tam là vùng di dân tự do của người Tày, Nùng từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào sau năm 1980. Ở đây, đồng bào vẫn giữ và lưu truyền những nét văn hóa truyền thống, đặc biệt là chuyện bùa yêu. Xã Ea Tam có khoảng 12 ngàn dân, chủ yếu là dân tộc Tày, Nùng (chiếm khoảng 88% dân số), xã có 14 thôn và một buôn. Người Tày, Nùng ở Ea Tam đến nay vẫn giữ được các phong tục và lễ hội truyền thống, như lễ hội Lồng tồng, luôn được tổ chức vào ngày Rằm tháng Giêng hàng năm. Lễ hội này thường gọi là Hội xuống đồng, quy tụ những sắc thái văn hóa đặc trưng nhất của các dân tộc Nùng, Dao, Sán Dìu, Cao Lan… ở vùng cao phía Bắc. 

Lễ hội là hoạt động tín ngưỡng cầu trời cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, đời sống ấm no. Lễ hội cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt luôn do các thầy tào chủ trì và luôn có hội (trò) ném còn. Hội này được tổ chức ở giữa một khoảnh ruộng lớn, người ta dựng một cây mai cao từ 20 – 30m làm cột, trên đỉnh cột có uốn vòng tròn đường kính 50 – 60cm dán giấy hai bên, đề chữ Nhật – Nguyệt tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời. Ở hội ném còn, không có ai tung còn trúng đích thì dân làng không vui. Vì theo quan niệm của họ, phải có người tung còn trúng vòng tròn làm rách giấy thì năm đó làm ăn mới khởi sắc, mưa thuận gió hòa.

Người Tày ở Ea Tam nói riêng, cả nước nói chung thờ tổ tiên và bái vật giáo. Bàn thờ tổ tiên của người Tày đặt chính giữa nhà, làm thành một không gian riêng, cung kính hết mực. Khách và phụ nữ trong nhà “đến tháng” chửa đẻ không được phép ngồi hay nằm trên ghế, trên giường trước bàn thờ. Trong tín ngưỡng của người Tày, ngày 3/3 Âm lịch là ngày tảo mộ, ngày lễ quan trọng nhất. Họ vẫn còn giữ gìn rất chặt chẽ tục tang ma. Có những ngôi mộ trong dòng tộc lớn của người Tày tại xã giữ đến 10 đời mà vẫn chưa cải táng. Riêng hoạt động tâm linh, tín ngưỡng thì càng chặt chẽ hơn. Chính vì vậy, người Tày ở đây vẫn còn giữ được tục thả bùa yêu (còn gọi là bùa riu) dù không rầm rộ, phổ biến.

Sau nhiều đắn đo, ông Hà giới thiệu cho chúng tôi một “thầy mằn” (thầy thả bùa riu), rất “cao tay ấn,”, là thầy tào Hoàng Văn Thắng (năm nay 62 tuổi), ngụ ở xã Ea Tam. Ban đầu, “thầy mằn” rất khó chịu khi thấy người lạ vào nhà, nhưng do nể ông Hà vốn là cán bộ, cũng là người chuyên nghiên cứu về văn hóa, phong tục, tâm linh, tín ngưỡng của người Tày ở đây nên “thầy mằn” mới chịu tiếp chuyện chúng tôi. 

Vui chuyện, ông Hà “mớm” cho “thầy mằn” hé lộ bài chú bùa yêu của người Tày, trong điều kiện không được chụp ảnh, ghi âm. Với sự “bảo chứng” của ông Hà, lát sau, “thầy mằn” mới khề khà đọc cho chúng tôi nguyên văn bài “thả bùa riu,” bằng tiếng Tày. Ông Hà đã dịch nghĩa (nôm na) bài thả bùa như sau: Bùa ta thả trúng quả mơ, quả mơ nhớ ta mà rụng cuống/ Bùa ta thả trúng trái mận, trái mận yêu ta mà phải lìa cành/ Bùa ta thả lên trời, mặt trời phải trốn vào trong mây/ Bùa ta thả xuống dòng sông, dòng sông phải sôi lên vì thương nhớ/ Bùa ta thả trúng gái tơ, gái tơ yêu ta tha thiết/ Bùa ta thả trúng gái già, gái già vì yêu ta mà quên nhà/ Không phải mai sau mới yêu mà yêu ngay tức thì/ Thái thượng lão quân/ Cấp cấp như lập lệnh.” Rồi “thầy mằn” Thắng chậm rãi tiết lộ: “Bài bùa riu này tôi được cụ tổ, ông, cha truyền lại, không biết mấy đời rồi. Và cũng không phải ai “thả” cũng được đâu. “Thả” phải đúng thời điểm, đúng “bài” và những “chiêu,” nghi thức áp dụng kèm theo nó. Nếu không, sẽ bị “phản đòn” rất nặng.”

Thầy tào Thắng khẳng định, đây là thứ bùa khiến người ta (cả trai lẫn gái, lớn lẫn bé), mê mẩn, say đắm nhau đến… quên cả đất trời, đắm đuối nhau như bị… bỏ bùa. Ngoài “thầy mằn” thì một vài người trong buôn cũng có thể nắm được “bí kíp” bùa yêu, như thầy cúng, bà Pựt (bà đồng)… nhưng ít ai dám công khai và cũng ít người trong cộng đồng biết được. Họ chỉ rỉ tai nhau, đồn đoán về người “thả” và người bị “thả” mà thôi. 

“Như mấy năm trước, trong thôn có một cô gái tên Sớ, đang học lớp 11, bỗng dưng chán ăn chán uống, suốt ngày cứ tơ tưởng nhắc đến tên một người đàn ông ngoài 40 tuổi, đã có vợ và 3 đứa con, là người trong làng. Cô Sớ cứ luôn miệng nhắc đến tên, kiếm đủ mọi cách để gặp “người ấy,” một ngày mà không trò chuyện, gặp mặt được thì cô ấy gần như phát điên,” “thầy mằn” Tào Thắng kể. Mọi người trong buôn đồn đoán cô này đã bị “nó” thả bùa riu nhưng không có chứng cứ. Rồi khoảng vài tháng sau, bỗng nhiên cô Sớ ghê sợ, căm ghét người đàn ông ấy, tìm mọi cách lánh mặt. “Tôi biết ngay là tay này thả bùa còn non nên bùa chỉ có tác dụng trong một thời gian nhất định, sau đó sẽ tự nhiên hết “công lực.” Đó là bản chất của bùa riu,” thầy tào Thắng khẳng định.

Cũng có chuyện, khoảng 10 năm trước, trong làng có một người đàn bà đứng tuổi nhưng chưa có chồng vì xấu đến ma chê quỷ khóc. Quanh năm suốt tháng bà ấy sống thui thủi cuối làng, lầm lũi đi nương đi rẫy một mình, rồi về với căn nhà đìu hiu rách nát, cả tháng không nói chuyện với ai trong buôn. Bỗng “đùng một cái,” một người đàn ông ở thôn khác, đã có gia đình, hai con, giỏi giang, khỏe khoắn, đầy nét nam tính… không hiểu sao bỏ nhà cửa, vợ con, nương rẫy nhà mình đi theo người đàn bà kia. Cả hai sống chung với nhau như vợ chồng, bỏ qua mọi lời dị nghị, đàm tiếu. Nhưng khi người đàn bà ấy có con cũng là lúc người đàn ông này “tỉnh” ra, bỏ về nhà cũ. Đến nay, đứa con của họ đã hơn 16 tuổi, khôi ngô, nhưng người cha thì một đi không trở lại.

Lại có chuyện, khoảng 4 năm trước ở Ea Tam có một anh tên là Thanh Tùng, không phải là người địa phương, anh về đây công tác theo điều động của cơ quan. Mới về được một thời gian, anh và cô gái người Tày 20 tuổi, trắng trẻo, xinh đẹp, nết na… đã có tình cảm, rồi gian díu với nhau. Gái có thai rất khó dấu, nhưng ngặt nỗi, anh Tùng đã có vợ con, nhà cửa khang trang ngay tại thị trấn Buôn Hồ. Sau khi thuyết phục cô gái “giải quyết” không được, anh ta tính bài… chuồn. Biết được “âm mưu” của anh chàng họ Sở, cô gái âm thầm đến gặp “thầy mằn” tào Thắng tỏ rõ hoàn cảnh, nhờ thầy giúp. Chỉ một tháng sau, anh chàng kia đã bỏ nhà cửa, vợ con đi theo cô gái Tày đến lập nghiệp ở nơi nào không biết. Chỉ biết, cứ mỗi năm vào ngày Rằm tháng Giêng, bà con ở làng lại thấy cô gái “đáo” qua nhà “thầy mằn.” Ông tào Thắng khẳng định, cứ mỗi lần qua nhà là cô gái lại xin thầy “truyền” thêm một chút “công pháp” bùa yêu để giữ chân chồng.

Trong đời sống tâm linh của người Tày, Nùng, những vị thầy mo, thầy tào có khả năng kết nối với thế giới thần linh, có khả năng cầu cho mưa thuận gió hòa, xua tan đi âm khí làm hại gia chủ hay những điều không tốt đẹp. Chính vì vậy, những thầy tào được coi như một chức sắc quan trọng trong đời sống tín ngưỡng, tâm linh của người Tày, Nùng. Khi chức sắc càng cao, thầy tào càng có năng lực hơn và được mọi người kính trọng. Trước và sau khi trở thành thầy tào, phải trải qua một quá trình học tập và kiêng kỵ vô cùng nghiêm ngặt. Việc học ở đây là học chữ Hán theo các sách: Tam tự kinh, Luận ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung, Đại học, Kinh Thi, Ấu học quỳnh lâm, Thành ngữ khảo… Còn những điều phải kiêng kị như: Không ham mê nữ sắc, không trọng giàu khinh nghèo, không được sát sinh, kiêng thịt trâu, thịt bò, thịt chó…

Thầy tào có sức ảnh hưởng lớn bởi các tôn giáo Nho, Phật, Đạo giáo và tín ngưỡng bản địa. Đặc biệt là Đạo giáo, thầy hành nghề theo hướng dẫn của sách chữ Hán, nên các thầy tào đều phải biết chữ Hán, tuân theo khuôn phép, thời gian làm lễ theo khung giờ nhất định. Ngoài ra, các đệ tử khi vào nghề phải thông qua các lễ thụ giới “cấp sắc” của Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu… những vị thần của Đạo giáo. Lấy hệ tư tưởng của đạo Phật, Phật Bà Quan Âm là mẹ, mẹ Pựt Luông, mẹ Hoa. Kinh sách của thầy Tào chủ yếu là văn cúng hướng dẫn thực hành các nghi lễ chứ không phải là sách tụng kinh niệm Phật. Trong quan niệm của các thầy cúng Tày, Nùng đều tự nhận mình là đệ tử của Phật. Họ giải thích nôm na về việc thiếu kinh sách dựa trên sự tích Đường Tăng sang Tây Trúc lấy kinh như sau: “Trong đoàn đi lấy kinh do thầy tào đến trước nên lấy được kinh sách đầy đủ. Thầy mo đến sau chỉ nhận được một ít kinh sách nên không đầy đủ…”

Cú “hồi mã thương” của bùa “yêu”

“Thầy mằn” tào Thắng “bật mí,” bùa yêu không thể truyền ra cho người ngoài. Nếu rơi vào tay những người không có đức, bùa sẽ tác hại vô lường. Bởi một thầy không chỉ “mằn” yêu mà còn “mằn” ghét, thuốc, say… Trước khi thực hiện “mằn,” thầy phải cần biết tên tuổi, địa chỉ người bị (hay được) “mằn”. Sau đó, cũng cần có một vài “công cụ hỗ trợ” như nước, sỏi, gạo hoặc lá cây trên núi. Trước khi “mằn” phải cúng vái tổ tiên đã chứng giám và truyền nghề cho mình, cũng như để thầy “thả” thành công.

Bài mằn bùa yêu nêu trên được đọc khi thầy đã nín hơi, mím chặt môi và phải đọc bằng tiếng Tày, đọc thầm trong cổ họng… để không ai có thể biết được bí mật của bài “mằn.” Sau khi đọc xong, thầy sẽ thổi hơi mình vào các vật “hỗ trợ” kia rồi gói lại cẩn thận. Người xin bùa sẽ cho các vật đó tiếp xúc (trực tiếp hay gián tiếp) với đối tượng của mình. Có thể là vẩy hoặc cho người đó uống nước, thổi vào tay, rải gạo vô giường, đính một vài hạt cơm lên tóc… Sau vài ba ngày bùa yêu sẽ có tác dụng, còn hiệu quả dài ngắn về thời gian là tùy “thầy mằn” có “cao tay ấn” hay không.

Đặc biệt, theo “thầy mằn” tào Thắng, bùa yêu chỉ áp dụng cho người đàn ông chưa vợ và gái chưa chồng chứ không dùng “đại trà.” Rồi “thầy mằn” tào Thắng nói tếu táo: “Các lớp trẻ mới lớn sau này không biết tụi nó dùng “bùa yêu” loại gì mà yêu đương nhau lung tung, rồi bầu bì, phá thai, bỏ nhau như cơm bữa.” Chúng tôi góp vui, lớp trẻ bây giờ “xài” bùa yêu là những quán karaoke, quán bar, tụ tập tại các điểm “vui chơi ca múa, nhảy nhót, đua xe.” Loại bùa này “công hiệu” với tụi nhỏ gấp trăm lần bùa yêu của thầy tào Thắng, vốn dĩ chỉ dành cho những tình yêu chân thành… Ông Nguyễn Đại Hà cũng khẳng định, bùa yêu là một trong những bí ẩn tâm linh độc đáo của người Tày ở Đắc Lắc. “Nhưng dùng bùa yêu với mục đích đen tối, lừa tình thì tác dụng ngược của nó là rất thảm khốc, không có “thầy mằn” nào có để đỡ được “chiêu” phản đòn này. Cú “hồi mã thương” có thể khiến “thầy mằn” chết bất đắc kỳ tử hoặc hóa điên,” ông Hà nói. 

Bà Pựt (bà đồng) trong một lễ cúng cầu hồn của người Tày tại xã Ea Tam, huyện K’rông Năng, tỉnh Đắc Lắc

Thầy tào Hoàng Văn Thắng trong trang phục hành lễ đang giới thiệu các kinh sách thực hành các nghi lễ của người Tày

You may also like

Verified by MonsterInsights