YẾN TUYẾT
Vào ngày lễ Mother’s Day năm nay, khi từ San Diego trở về Orange County, tôi thấy trước cửa nhà mình một bình hoa hồng đỏ, có xen lẫn mấy đóa hoa lan, hoa cúc màu hồng sẫm và hoa hydrangeas màu trắng thật tuyệt đẹp .
Món quà dễ thương kèm tấm thiệp viết tên người gửi là PM, cô bạn gái của tôi đang sống ở một tiểu bang miền Đông nước Mỹ.
Cử chỉ đẹp này của PM khiến tôi cảm động và nghĩ đến tình bạn nói chung, bởi vì lúc nào nó cũng có thể mang đến cho chúng ta sự ấm áp và tình thương cần thiết trong đời sống.
PM là vợ ông LT, bạn thân của chồng tôi. Hai ông bạn cùng hoạt động trong giới báo chí từ Việt Nam ở tuổi 20 cho đến ngày chiến tranh chấm dứt.
Khi chồng tôi qua Mỹ vào năm 1992 diện HO, vợ chồng LT đã có cơ sở thương mại vững vàng sau khi vượt biên và đến Mỹ 10 năm trước đó. Họ giúp đỡ chồng tôi tận tình trong những bước đầu “chân ướt, chân ráo“ đến Mỹ vì trong đám bạn bè làm báo, từng rất thân với nhau ở Việt Nam, thì chồng tôi qua Mỹ trễ nhất vì bị tù Cộng sản hơn 13 năm.
Từ đó, hai gia đình tụi tôi có dịp thân thiết hơn dù ở hai tiểu bang CA và VA. Hai bà vợ cũng hợp tính và trở thành bạn dù cách nhau những đến 10 tuổi. Nhất là 13 năm trước đây sau khi hai phụ nữ chúng tôi trở thành góa phụ, trước sau nhau có tám tháng.
Chúng tôi có thể gọi nói chuyện điện thoại hàng giờ về đủ mọi đề tài từ thơ văn đến chính trị, từ chuyện gia đình đến xã hội rất ý hợp, tâm đầu.
Thị giác PM kém nhưng cô ấy rất tự tin khi sống một mình và tự lo liệu mọi thứ. Tình cảm của PM dành cho tôi rất chân tình dù cô có nhiều bạn và khi còn sống, LT là một người rất quảng giao.
Dĩ nhiên, cũng như nhiều người Việt Nam khác, tôi có hai người bạn gái khá thân từ xưa khi học trung học. Qua Mỹ, chúng tôi bắt được liên lạc và vì cùng ở California nên có dịp gặp gỡ nhau khá thường xuyên.
Một số bạn khác thì tôi quen khi vào Hướng Đạo Việt Nam ở tuổi 20. Và vì “một ngày là HĐ thì mãi mãi là HĐ” nên , dù ở gần hay xa, “giây thân ái” của chúng tôi vẫn không hề đứt đoạn.
Ngoài ra, tôi cũng có một vài người bạn cũ từng là đồng nghiệp khi vào làm Biên tập viên Đài Phát Thanh Quân đội trước tháng 4/1975, do tình cờ cũng tìm lại được nhau.
Sau khi ổn định đời sống và đi làm việc ở nhiều cơ quan khác nhau ở quân Cam, tôi lại có dịp làm quen và trở thành bạn với một số người Việt Nam dễ thương sinh cùng thế hệ hay trẻ tuổi hơn ở quận Cam.
Bên cạnh đó, tôi còn có cơ hội nới rộng cái vòng tròn bạn bè khi tìm được suy nghĩ đồng điệu và cảm thông từ một vài bạn gái người Mỹ trắng, Mỹ đen và Mễ Tây cơ từng làm việc với mình.
Kể dông dài để khoe với bạn là nhờ mối giây liên lạc của “tình bạn không biên giới” này khiến tôi chưa bao giờ cảm thấy cô đơn từ khi còn là một người mẹ độc thân trước khi lập gia đình lần thứ hai; hay ngay cả bây giờ sống một mình sau khi người bạn đời ra đi hơn 12 năm trước đây.
Đang sống giữa tuổi ngoài 70 và bước gần đến ranh giới của sự sống và cái chết, tôi hay nhìn lại quãng đường dài mình đã đi qua, nghĩ đến những người mình đã gặp: xấu có, tốt có, giàu nghèo có, đẹp xấu có. Để thấy rằng từ số đông ấy, tôi may mắn được làm bạn với không ít những tâm hồn đẹp và cao thượng.
Tôi đã học hỏi được từ những phụ nữ mà tôi chọn làm bạn, kinh nghiệm quý giá từ cuộc đời riêng của họ. Và mãi mãi thấy mình hạnh phúc có được tình bạn bền vững, làm giàu có hơn trong tôi những giá trị tinh thần.
Những người bạn Việt Nam của tôi dù đến Mỹ từ ngay sau ngày 30/4/1975 khi ở tuổi vị thành niên hay trở thành thiếu phụ đã tiếp tục hy sinh, học hỏi và phấn đấu trong mọi lĩnh vực. Họ không nề hà làm những nghề lao động chân tay như lau dọn nhà cửa, giữ trẻ, may vá, làm tóc, làm móng tay, hầu bàn để tạo dựng một cuộc sống đầy đủ cho gia đình.
Thí dụ như câu chuyện một người bạn lớn hơn tôi năm tuổi mà tôi luôn mến phục đó là chị O, vợ một ông sĩ quan Hải quân, vượt biên đến Mỹ năm 1980. Chị rất tháo vác, làm đủ thứ nghề để kiếm sống. Nào là đạp xe đạp đi bỏ mối áo thun, mở tiệm phở, mở tiệm pizza, cắt tóc. Cùng chồng nuôi hai con học ra bác sĩ và y tá mà không phải mắc nợ tiền học.
Thí dụ như chi LC, năm 1990, mới đến Mỹ được năm ngày đã đi làm thư ký/người giúp việc linh tinh cho hai văn phòng bán bảo hiểm ở khu Bolsa với mức lương $5/giờ để nuôi hai con vì ông chồng bảo lãnh qua Mỹ nhưng “đường ai nấy đi.”
Một số bạn khác, nhờ sư hỗ trợ và thương yêu của người bạn đời hay của cha mẹ, đã trở lại trường học, bồi dưỡng thêm kiến thức của trường học vào trường đời, giúp họ đạt được những địa vị cao, vun trồng cho họ tư cách và nhân cách đáng quý trong xã hội và đất nước mà họ sinh sống.
Bằng sự hy sinh và cố gắng, họ đã lót đường cho các con cháu của thế hệ sau gầy dựng cuộc sống tốt đẹp hơn trên đất Mỹ.
Điều đáng nói ở đây là ở trên tất cả mọi danh vọng và tiền bạc, dù hoàn cảnh nghèo hay giàu, chúng tôi luôn đối xử với nhau bằng những chân thành và thương yêu của tình bằng hữu.
Bởi vì chúng tôi biết mình từ đâu tới, đã trải qua những cảnh ngộ giống và khác nhau ra sao để thông cảm, hỗ trợ và kính trọng nhau.
Tôi luôn cố gắng sắp xếp thời giờ để có thể gặp các bạn mình, trong những nhóm khác nhau kể trên, ít nhất mỗi tháng một lần.
Thường là đi shopping, đi uống cà phê, đi ăn trưa hay đi xem xi nê , nhờ đó, chúng tôi có dịp kể lể cho nhau nghe những chuyện mưa nắng, chuyện con cái, chuyện cháu nội, cháu ngoại; nhắc chuyện đời xưa và bàn ra, tán vào về chuyện đời nay.
Tôi cảm ơn những phần thưởng tinh thần mà mình có được nhờ bạn bè và tình bạn đã và đang khiến cho đời sống mình trở nên phong phú, và giúp mình trở nên cởi mở và rộng lượng hơn.
Đôi khi với bạn, chúng ta hỗ trợ tinh thần nhau, giản dị chỉ qua một cuộc điện đàm ngắn ngủi, hỏi thăm về buồn vui trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày.
Khi khác, chỉ là cái vai để bạn mình dựa vào, cái tai nghe lời than thở, tâm sự.
Chẳng hạn như khi VA, người bạn mà tôi quen khoảng hơn 25 năm nay, phải chăm sóc chồng bị bệnh nặng, sau khi chính cô ấy cũng trải qua một cơn bệnh thập tử nhất sinh, cần tôi lắng nghe và an ủi thì tôi đã có mặt với sự im lặng và đồng cảm chia sẻ nỗi buồn lo như chính mình phải đối diện với hoàn cảnh khó khăn đó.
Tôi cùng thổn thức và chia sẻ sự đau buồn của TL, cô bạn hơn 50 năm của thời trung học, khi chồng cô ra đi một cách bất ngờ trước lễ Giáng sinh. Chỉ sau chồng tôi có hai năm. Bởi vì tôi biết bạn cần có tôi khi trải qua kinh nghiêm của riêng mình.
Hơn 20 năm trước, chỉ một tuần sau khi tôi vừa mất đi người bạn đời, MT, cô bạn cùng học báo chí Vạn Hạnh trước 1975- đã từ Virginia bay xuống, thay vì để đi chơi đây đó, lại ở nhà phụ nấu cơm cúng chồng tôi mỗi ngày.
MT ngồi ăn cơm chung và năn nỉ tôi ráng ăn uống cho có sức, khỏi bị bệnh vì buồn và cô đơn.
Bên cạnh đó, hai chị bạn O va LC mà tôi kể ở trên, tuy lúc đó chỉ mới quen nhau có vài năm thôi, vậy mà dù mưa gió hay tối trời, vẫn thay phiên đến thăm, an ủi tôi trong nhiều tháng trời.
Họ ân cần với tôi biết bao trong giai đoạn đau buồn nhất của bất cứ một người góa phụ nào khi mất chồng.
Tôi rất ngưỡng mộ tư cách của mấy cô bạn trẻ của tôi ở tuổi con cháu, thuộc thế hệ Việt Nam thứ hai lớn lên ở Mỹ, dù là bác sĩ, giáo sư hay giám đốc của một công ty, nhưng đối xử với mọi người, dĩ nhiên có tôi trong đó, bằng sự tương kính và lễ độ.
Họ lúc nào cũng ăn nói lịch sự, ân cần và chứng tỏ tinh thần vị tha khi tham gia rất nhiều công tác xã hội ở các quốc gia nghèo đói trên thế giới.
Các người bạn trẻ này tìm đến tôi, một người bạn vong niên, để trao đổi những suy nghĩ mà đôi khi họ không thể hỏi mẹ hay chị của họ.
Tôi cám ơn những người bạn này vì họ cho tôi có dịp được lắng nghe những suy nghĩ và mơ ước của họ, nhờ đó, hiểu hơn về con cái riêng của mình.
Sau cùng, tôi phải kể cho bạn nghe về tình bạn mà tôi có được với những phụ nữ Mỹ sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ, tuổi từ 40 đến 70.
Nhờ họ, tôi hiểu biết hơn nữa về những suy nghĩ và thái độ sống của con người ở đất nước mình chọn làm quê hương thứ hai, nhưng vẫn còn xa lạ về nhiều khía cạnh.
Khi làm bạn với bạn Mỹ, tôi có thể thảo luân với họ khá tự do về chính trị, văn nghệ, sách báo, phim ảnh, nhưng cũng có thể quay qua bàn tán về đề tài gia đình, phụ nữ và tình yêu và shopping một cách dễ dàng.
Tôi còn tìm thấy ở họ một tình người và tình gia đình bền chặt và dễ thương chứ không phải thờ ơ, ích kỷ như nhận xét khá hạn hẹp của một số người Việt Nam mình dành cho dân bản xứ.
Thí dụ như khi tôi cư ngụ ở San Diego vào những năm cuối thập niên 1980, hai người bạn Mỹ đã tình nguyện thay phiên đưa đón con tôi đi học ở ba ngôi trường khác nhau trong hai tháng trời tôi phải nghỉ làm và không lái xe được vì bị mổ lưng.
Khi tôi dọn lên Orange County , qua công việc, tôi làm quen với một số bạn gái xuất thân từ cộng đồng thiểu số người Mễ hay Mỹ gốc Phi Châu. Họ là tấm gương cho tôi noi theo về tinh thần học hỏi và kiên trì phấn đấu.
Những người bạn này giúp tôi biết sống cởi mở hơn, dễ dàng thích ứng hơn với những khác biệt về văn hoá và chủng tộc. Họ giúp tôi vượt qua được sự kỳ thị về màu da hơn trước.
Chẳng hạn như GB người Mỹ đen, thua tôi gần 30 tuổi, từng làm việc với tôi ở cơ quan Children Home Society và chúng tôi trở thành bạn vong niên cho đến nay đã 25 năm.
GB chia tay với người bạn trai đầu tiên và từng là mẹ độc thân khi mới 25 tuổi.
Cô một mình nuôi hai đứa con một trai, một gái. Nhờ sư hỗ trợ của mẹ cô là một y tá, GB trở lại trường và tốt nghiệp cử nhân xã hội năm 26 tuổi. Trong vòng bốn năm sau đó, khi đang làm việc với tôi, GB lấy thêm văn bằng Master. Những năm gần đây, cô giữ chức vụ Supervisor ở cơ quan Regional Center lo cho trẻ em có nhu cầu đặc biệt.
GB lập gia đình và có thêm một đứa con trai năm nay 20 tuổi, nhưng năm ngoái, thương thay, chồng cô qua đời ở tuổi 50.
GB là một thí dụ điển hình cho sự phấn đấu và quyết tâm của một người da đen, vốn là nhóm dân thiểu số, dù được coi là người Mỹ, nhưng vẫn còn tiếp tục bị kỳ thị nặng nề nhất ở đất nước này.
Tôi cũng muốn nhắc đến bà bạn người Mễ của tôi tên MO, thuộc thế hệ người Mễ di dân thứ ba định cư ở Mỹ.
Bà MO kể cho tôi biết là ông bà nội ngoại của bà đã từng đi bộ hàng trăm cây số từ Mexico để đến California cả trăm năm trước đây để tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn và lập nghiệp ở Compton, LA, vốn là một thị xã nghèo và đầy vấn nạn xã hội.
Ông bà của MO là thế hệ người Mễ đầu tiên góp phần trong việc xây dựng thành phố Los Angeles, nhưng cho đến nay, không thấy ai ghi lại công lao của nhóm người này.
Mẹ bà MO làm việc cho một cửa hàng bán hoa và cây cảnh nên bà rất mê hoa cỏ và có năng khiếu về nghệ thuật.
Bà MO có cử nhân về văn chương và hay viết những bài văn xúc tích nhưng ngắn gọn để đọc trong những buổi họp của chương trình HICAP mà chúng tôi làm việc chung. Tôi học được nhiều ngữ vựng mới, rất văn hoa từ vốn liếng phong phú về từ ngữ của MO khi nói chuyện với bà.
Cho đến bây giờ sau khi cả hai về hưu, bà MO là người vẫn thường trao đổi với tôi về giá trị đạo đức của đời sống gia đình và chúng tôi tìm thấy nhiều điểm tương đồng trong hai nền văn hóa Việt Nam và Mễ Tây Cơ.
Còn bà bạn JL người Mỹ trắng thì vẫn gọi tôi là “my Vietnamese sister.”
Khi còn trẻ, JL đã từng sống cuộc đời homeless với mẹ mình sau khi bị cha bỏ rơi. Thế mà bà phấn đấu để đi học và trở thành giáo sư Đại học ở Cal State Fullerton. Bên cạnh việc dạy học, bà từng làm manager cho chương trình cố vấn Medicare, nơi tôi từng làm việc trước khi về hưu.
JL có những quan niệm mạnh mẽ về nữ quyền. Bà không hề ngần ngại khi phát biểu quan điểm chính trị của mình trên mạng, và tham dự những cuộc biểu tình đòi quyền tự do ngôn luận nhất là trong thời gian gần đây đối với những quyết định có tính cách độc đoán của Tổng Thống Mỹ hiện nay.
Bà JL cùng tuổi với tôi nên khi biết tôi đến Mỹ từ Việt Nam, bà tỏ ý thương cảm cho hoàn cảnh của một người cùng thế hệ, phải sống trong một đất nước có chiến tranh kéo dài hơn 20 năm. Bà sửng sốt về sư tàn bạo của chế độ Công sản đối với những người như chồng tôi sau khi chiến tranh chấm dứt vì đã giam cầm và ngược đãi họ.
Bà luôn bày tỏ sự ngưỡng mộ sư can đảm của người Việt trên con đường vượt biển tìm tự do.
(Và dĩ nhiên, bà JL rất thích món gỏi cuốn và bánh xèo của chúng ta nên bà nói có lẽ bà là người Việt Nam trong kiếp trước?!)s
Bà JL mới báo tin là sẽ về thăm Việt Nam trong tháng Mười và tôi cảnh cáo bà có thể đối diện với bão lụt của miền Trung nơi “trời hành cơn lụt mỗi năm.” Bà JL nói như thế, bà được biết thêm một chút về nước Việt Nam của bạn bè là tôi.
Các người bạn Mỹ nói rằng, tình bạn giữa tôi và họ nhắc nhở về sư tư tự do, chế độ dân chủ mà họ may mắn được hưởng trong khi nhiều người khác trên thế giới không hề có được.
Tôi có thể kể lể cho bạn nghe mãi mãi về tình bạn của tôi trong đời sống, nhưng phải giã từ bạn ở đây vì tay bắt đầu mỏi vì đánh máy.
Bạn đọc ơi, tôi sung sướng khi thấy mình luôn được giàu có nhờ tình bạn, và mong rằng bạn còn giàu có và sung sướng hơn tôi nữa với tình bạn của riêng mình. (YT)
___
Họp mặt sáng thứ Bảy
Dù mưa hay nắng mấy đứa tụi tôi cũng gặp nhau mỗi sáng Thứ Bảy ở quán cà phê góc phố. Một cô bạn đặt tên cho nhóm là “Hội thanh xuân hồi đó.” Hai chữ thanh xuân nghe rất oai, còn hai chữ hồi đó thì nói nhỏ ít ai nghe thấy nên không sao. Cả bọn đứa nào mỗi lần đứng lên khỏi ghế đều phải vịn bàn một chút cho chắc ăn.
Bà Lan là người kỹ tính nhất. Đi đâu cũng mang theo dầu gió, kính lão, kẹo gừng, và một cuốn sổ nhỏ ghi những món cần mua. Nhưng lạ một điều, bà hay quên đem theo tiền.
Bà Mai thì trái ngược. Tiền lúc nào cũng có, nhưng kính lão lúc nào cũng mất. Mỗi lần đọc menu, bà phải đưa tờ giấy ra xa đến mức gần chạm mặt người bàn bên cạnh. Một hôm, bà đọc rất nghiêm trang:
“Cho tôi một ly… cà phê… sữa… đá… và một tô… phở bò.”
Cô phục vụ cười:
“Dạ cô, đó là bảng quảng cáo tiệm phở bên kia đường.”
Cả nhóm cười muốn lung lay hàm răng giả.
Riêng bà Hạnh thì rất hiện đại. Bà mới học dùng điện thoại thông minh, nên chuyện gì cũng muốn chụp hình. Chụp cà phê, chụp bánh, chụp bạn, chụp cả cái muỗng vì “ánh sáng đẹp quá.” Nhưng lần nào bà cũng bấm nhầm quay video. Thành ra trong điện thoại bà có cả một bộ phim tài liệu dài mười hai phút về bốn bà già đang tranh luận nên ăn bánh bò hay bánh bột lọc.
Sáng hôm đó, bà Lan thở dài:
“Già rồi, trí nhớ kém, mắt mờ, chân chậm. Chán quá.”
Bà Mai gật gù:
“Ừ. Nhưng bù lại, tụi mình có một cái hay.”
“Cái gì?”
Bà Hạnh giơ điện thoại lên, cười tỉnh bơ:
“Quên buồn rất nhanh.”
Cả bọn ngồi im một chút, rồi phá lên cười. Ngoài kia nắng vừa lên, vài sợi tóc bạc chưa kịp nhuộm lấp lánh như ai rắc đường lên những ngày xưa cũ
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/yen-tuyet/

