BS Nguyễn Đức Cường
Dẫn nhập
Ngải cứu là một dược thảo rất quan trọng trong ngành Đông y, có nhiều công dụng trị liệu, còn được gọi là ngải cứu, thuốc cứu và đồng thời là một loại rau có thể được chế biến thành nhiều món ăn bổ ích.
Ngải cứu là một dược thảo thường được dùng kèm với khoa Châm Trị – Acupuncture, và Cứu (nghĩa là hơ ấm, làm ấm), tức là Moxibustion. Kết hợp hai từ ngữ trên, chúng ta có khoa châm cứu. Như vậy, châm là dùng kim kích thích huyệt, còn cứu là hơ ấm huyệt đạo.
Tất nhiên, từ ngải cứu không liên quan gì đến bùa ngải, như nhiều người vừa thoạt nghe có thể liên tưởng đến. Sở dĩ dễ có liên tưởng này là do cách đọc hai tiếng đồng âm của người Trung Hoa – aiye khi phiên âm, nên người Việt chúng ta đọc là ngải cứu. Tiếng Anh gọi là Mugwort, tên khoa học là Artemisia Vulgaris Leap, thuộc họ cúc.
Trong thực tiễn điều trị, người thầy thuốc dùng ngải cứu, phơi khô rồi xay thật nhuyễn, sau đó cuốn lại thành điếu như xì gà. Khi cứu, người ta đốt lên rồi hơ ấm những huyệt cần thiết.
Ngoài việc được dùng trong trị liệu, loại lá này còn được dùng trong khoa ẩm thực, cụ thể là những món ăn như canh ngải cứu nấu thịt nạc hoặc món trứng gà tráng với ngải cứu vốn rất quen thuộc trong nhiều gia đình.
Trong khoa ẩm thực người Việt, có những món ăn nấu với lá ngải, tốt cho sức khỏe, có tác dụng gia tăng tuần hoàn não, chống nhức đầu và đau nhức gân cốt, ví dụ như món canh ngải ciệp nấu với thịt nạc dùng cho các sản phụ sau khi sinh nở, có tác dụng giảm đau, làm lành nhanh chóng, và giúp sản phụ mau hồi sức.
Ở các quốc gia khác như Nhật Bản, Đại Hàn, Trung hoa cũng vậy, người ta dùng lá ngải nấu với nhiều món ăn. Tại nước Đức, ngải cứu thường được dùng làm gia vị trong món thịt ngỗng. Chưa kể là trong Tây y, ngải cứu có mặt trong một vài loại thuốc chống mụn và viêm da…
Ngoài việc được dùng trong Đông y để hơ ấm các huyệt đạo, lá ngải còn có công dụng tăng cường sinh lực, chống suy nhược, vì hàm chứa một số tinh dầu cần thiết và nhiều hóa chất thiên nhiên giúp hưng phấn thần kinh, chống mệt mỏi.
Từ thời Trung cổ, tại Âu châu, loại lá này đã được xem là một thần dược hỗ trợ cho sức khỏe, ngoài ra còn được dùng để xua đuổi các loài côn trùng ra khỏi các khu vườn. Thời La Mã cổ đại, các chiến binh La Mã trên đường hành quân còn được lệnh phải lót một nắm ngải cứu trong giày trận để chống lại mỏi mệt, và giúp cho sự chịu đựng dẻo dai hơn.
Dù ngải cứu đã được biết đến từ ngàn xưa, nhưng cho đến nay, chúng ta chưa có một tài liệu chính thức nào nói về thời điểm cũng như nguồn gốc xuất hiện của loài thực vật này. Nhưng có thể nói, ngải cứu đã có mặt tại Việt Nam cũng như một số các quốc gia Á châu và Âu châu từ nhiều thế kỷ, rồi sau đó, xuất hiện ở một vài nơi thuộc Bắc Mỹ.
Xa hơn nữa là vào thế kỷ thứ ba trước Thiên Chúa giáng sinh, danh từ ngải cứu đã xuất hiện trong vài bài thơ thời cổ đại.
Trong một quyển sách mang tên “The needle and the sword,” tạm dịch là Cây kim châm cứu và thanh gươm của bác sĩ Kenshi Nabeshima. Ông vốn là một kiếm sư Nhật Bản, từng bị nhiễm độc phóng xạ sau khi quả bom nguyên tử thả xuống Nagasaki. Sau đó, ông đến Hoa kỳ, cư ngụ tại Texas và trở thành một chuyên gia châm cứu. Tại đây, ông đã dùng ngải cứu, kết hợp với vài kinh nghiệm Đông y khác để tự chữa cho mình.
Ở Mễ Tây cơ, ngải cứu còn được dùng để chống lại những cơn đau co thắt dữ dội, một vài nơi khác, người ta dùng ngải cứu và rễ cây ngải cứu để trị bệnh động kinh và đau nhức do phong thấp.
Ngải cứu trong nhận xét của Đông y
Như đã đề cập ở trên, ngải cứu là một loại lá ăn được, một dược vị quan trọng trong nhiều toa thuốc Đông y, có vị đắng, cay nồng và tính ấm, tác dụng an thần trấn thống, giúp êm dịu thần kinh, giúp ngủ ngon, giảm đau khớp xương và cơ bắp, thường có mặt trong khoa Châm Cứu. Ngoài ra, Ngải cứu còn được dùng một mình hoặc kết hợp với các dược thảo khác, để trị các chứng bệnh thuộc về phụ khoa như kinh nguyệt không đều, đau bụng khi hành kinh, bị băng huyết, bị động thai, có tác dụng cầm máu.
Một vài công thức dùng ngải cứu khá công hiệu nhất là cho phái nữ, có thể kể ra như sau:
Điều hòa kinh nguyệt
Công thức cho mỗi ngày như sau:
Lấy 16 grams lá ngải cứu khô, cho vào siêu, thêm vào ba chén nước, sắc cho đến khi cạn còn một chén. Sau đó chia làm hai phần uống trong ngày.
Có thể uống trong bảy ngày liên tiếp, trước ngày dự kiến hành kinh. Trong trường hợp không thể dự đoán được vì một lý do nào đó, thì hãy uống ngay vào ngày đầu tiên có kinh nguyệt, cũng trong bảy ngày liên tiếp.
Chống động thai
Dùng 12 grams lá ngải cứu và 12 grams lá tía tô. Cho vào siêu, sắc với ba chén nước cho đến khi cạn còn một chén. Rót ra rồi chia làm hai phần uống vào buổi sáng và chiều, sản phụ có thể uống liên tiếp trong một tuần lễ.
An thai, đề phòng động thai
Để tạo sự an toàn cho mẹ lẫn con, tránh động thai và những nguy cơ khác có thể xẩy ra, bắt đầu từ cuối tháng thứ tám cho đến cuối tháng thứ chín, mỗi hai ngày sản phụ có thể áp dụng công thức sau:
Đun sôi 6 grams ngải cứu với một chén rưỡi nước, đến khi cạn còn một chén. Ngoài ra, mỗi tuần hai lần, có thể đánh tan vào chén thuốc một tròng đỏ trứng gà. Công thức này, giúp an thai và khi sinh nở, sản phụ sinh nhanh chóng và không bị mất máu nhiều.
Bồi bổ cho phụ nữ sau khi sinh
Dùng 50 gram lá ngải cứu còn tươi, rửa sạch, nhồi vào một con gà ác, (đã bỏ đồ lòng) đem chưng cách thủy cho đến khi chín là có thể ăn được. Cách mỗi ngày ăn một lần, và chỉ ăn bảy lần thôi. Nếu không thích thịt gà ác, thì có thể ngâm 16 grams ngải cứu tươi đã rửa sạch và thái nhuyễn vào một ly nước sôi, ngâm trong 30 phút. Sau đó uống mỗi ngày, trong vòng hai tuần lễ.
Dưỡng da và trị mụn
Ngải cứu còn có công dụng dưỡng da và trị mụn, làm sạch da đặc biệt với những ai có da nhờn, và tác dụng giữ ẩm, cũng có lợi cho những người có da khô. Để làm đẹp da mặt, chúng ta có thể dùng ngải cứu còn non làm mặt nạ chừng 20 phút, sau đó rửa mặt sạch. Sau một thời gian, da mặt sẽ mịn màng và tươi đẹp.
Đối với trẻ em bị rôm sảy, bị mẩn ngứa, có thể nấu từ 100 – 200 grams ngải cứu tươi trong ba lít nước, để sôi 20 phút. Sau đó, hòa thêm nước để tắm mỗi ngày, vừa trị trẻ em bị rôm sảy, vừa giúp người lớn chống mỏi mệt.
Chống cảm cúm, tăng cường sinh lực và tuổi thọ
Ngải cứu giữ một vai trò rất quan trọng trong trị liệu của Đông y, đặc biệt là trong khoa châm cứu. Các thầy thuốc thường dùng điếu ngải cứu để hơ ấm các huyệt đạo, trong trường hợp bệnh nhân bị cảm cúm, sốt cao do nhiễm lạnh quá nặng, hoặc các chứng nôn mửa do lạnh bụng, và các trường hợp suy nhược tổng quát, chúng ta cũng có thể dùng thuốc cứu để hơ ấm các huyệt đặc trị. Trên cơ thể chúng ta, có những huyệt khi được cứu, tức là hơ ấm thường xuyên, sẽ giúp tăng cường hệ miễn nhiễm, tăng cường sinh lực và kéo dài tuổi thọ.
Nhiều trường hợp tuổi thọ cao điển hình đã được ghi nhận tại Nhật Bản, nhiều vị cao niên khi được hỏi bí quyết nào khiến các cụ có tuổi thọ cao như vậy, các cụ thường cho biết mỗi ngày đều hơ ấm huyệt Túc Tam Lý từ 10 đến 15 phút.
Tuy nhiên, phương pháp này không áp dụng được cho những ai có bệnh huyết áp cao.
Trị đau xương khớp và cơ bắp
Ngải cứu từ lâu được dùng trong dân gian để làm dịu các chứng đau nhức, nhất là đau khớp, mỏi cơ, lạnh tay chân hoặc nhức mỏi khi trời trở lạnh. Lá ngải cứu có chứa một số hoạt chất có đặc tính kháng viêm và chống oxy hóa; một số nghiên cứu trên chiết xuất Artemisia vulgaris cũng ghi nhận tác dụng giảm phản ứng viêm trong mô hình thí nghiệm. Tuy vậy, bằng chứng y khoa trên người vẫn còn hạn chế, nên ngải cứu chỉ nên xem như phương pháp hỗ trợ, không thay thế thuốc điều trị viêm khớp, thoái hóa khớp hay bệnh gout.
Dùng 12 grams ngải cứu, tám grams thiên niên kiện, tám grams hải phong đằng, tám grams uy linh tiên, sáu grams quế chi, tám grams tang ký sinh và sáu grams cam thảo, tất cả sắc với ba chén nước, để cạn còn một chén. Mỗi ngày uống một lần, trong bảy ngày liên tiếp, sau đó ngưng ba ngày rồi lập lại như trên bảy ngày liên tiếp cho đến khi khỏi hẳn.
Ngoài ra, chúng ta có thể dùng 20 grams Ngải cứu (thái hoặc xay nhuyễn), bảy lát Gừng thái nhuyễn, rang nóng cùng một chén muối hột trong 30 phút. Sau đó bọc tất cả vào một khăn dầy, cột lại rồi chườm lên vùng đau trong 30 phút. Mỗi ngày chườm một lần.
Một tác dụng độc đáo của ngải cứu là giúp thai nhi trở về vị trí bình thường.
Thường thì thai nhi sẽ tự xoay đầu trong khoảng tuần lễ thứ 30, tức là bảy tháng rưỡi, hoặc tuần lễ thứ 34, tức là tám tháng rưỡi, cũng có khi đến tháng thứ chin, bé mới chịu xoay đầu để chuẩn bị chào đời. Khi bé không chịu xoay đầu, chúng ta gọi đó là vị trí sinh ngược.
Để thay đổi vị trí của thai nhi trong bụng mẹ, đang từ vị trí ngược (breech position), trở về vị trí xuôi (cephalic position), Đông y dùng điếu ngải cứu hơ ấm một số huyệt đặc trị mỗi ngày, mỗi lần trong 20 phút. Một thử nghiệm điều trị tại Trung quốc trên 260 phụ nữ thai nghén, có thai nằm ngược, đã đạt được 75% trường hợp thành công. Tại Ý, một thử nghiệm điều trị trên 226 phụ nữ thai nghén có thai nằm ngược, tỉ lệ thành công là 54%.
Ngải cứu trong nhận xét của Tây y
Theo Tây y, Ngải cứu chứa đựng một số tinh dầu cần thiết, và nhóm Flavonoids, là những hóa chất thiên nhiên có khả năng chống oxy hóa mạnh hơn vitamin C và E, bên cạnh đó là Triterpenes là những hợp chất có khả năng chống ung thư, và Coumarin, là một hóa chất thiên nhiên có khả năng chống sự hình thành các ung bướu, chống huyết áp cao, chống loãng xương, có tác dụng khử trùng và chống đau.
Thêm vào đó, ngải cứu còn được xem là một dược thảo chống bệnh giun sán rất hiệu quả.
Vài lưu ý khi dùng ngải cứu
Với các trường hợp động thai, sản phụ chỉ nên uống mỗi ngày 12 grams ngải cứu, trong bảy ngày liên tiếp, hoặc theo sự chỉ dẫn của các bác sĩ Đông y.
Việc sử dụng điếu ngải cứu để hơ ấm huyệt đạo, rất công hiệu cho những ai bị cảm cúm, đau nhức xương khớp hoặc nhiễm phong hàn lâu ngày. Tuy nhiên, có một số huyệt không nên sử dụng cho những ai bị huyết áp cao, hoặc các chứng nội nhiệt.
Với phụ nữ đang thai nghén, không nên dùng ngải cứu hơ ấm các huyệt đạo vùng lưng dưới, đặc biệt vùng lòng bàn chân (vì có thể gây sẩy thai).
Để bảo đảm sự an toàn, chúng ta nên tham khảo với các bác sĩ Đông y trước khi dùng Ngải cứu để tự trị liệu tại nhà.
Nguyễn Đức Cường,L.Ac., Ph.D. of Oriental Medicine
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/nguyen-duc-cuong/

