ĐINH VĂN TUẤN
Chẳng hạn như câu thành ngữ: “Vạch áo cho người xem lưng,” câu này các từ điển tục ngữ, thành ngữ đa số đều giải thích dễ dàng như: Bày cái dở cái xấu của mình hay của phe mình một cách vô ý thức cho người ta thấy. Tự mình để lộ cái không tốt trong nội bộ, gia đình để người ngoài chê cười…Tuy nhiên, tại sao lại có hành động vạch áo để xem lưng; tại sao lại là “lưng” và “lưng” có ý nghĩa gì; thành ngữ này từ đâu xuất hiện? Thì xưa nay chưa thấy ai trả lời rõ ràng, thuyết phục mà chỉ là những suy đoán mơ hồ, tùy tiện.
Chẳng hạn như câu thành ngữ: “Vạch áo cho người xem lưng,” câu này các từ điển tục ngữ, thành ngữ đa số đều giải thích dễ dàng như: Bày cái dở cái xấu của mình hay của phe mình một cách vô ý thức cho người ta thấy. Tự mình để lộ cái không tốt trong nội bộ, gia đình để người ngoài chê cười…Tuy nhiên, tại sao lại có hành động vạch áo để xem lưng; tại sao lại là “lưng” và “lưng” có ý nghĩa gì; thành ngữ này từ đâu xuất hiện? Thì xưa nay chưa thấy ai trả lời rõ ràng, thuyết phục mà chỉ là những suy đoán mơ hồ, tùy tiện.
Có một số thành ngữ Việt Nam rất quen thuộc với người Việt và tuy ta có thể hiểu ý nghĩa, sử dụng chúng đúng hoàn cảnh qua khẩu ngữ, văn viết nhưng về nguồn gốc phát sinh ra những thành ngữ này vẫn chưa được lý giải tường tận.
Chẳng hạn như câu thành ngữ: “Vạch áo cho người xem lưng,” câu này các từ điển tục ngữ, thành ngữ đa số đều giải thích dễ dàng như: Bày cái dở cái xấu của mình hay của phe mình một cách vô ý thức cho người ta thấy. Tự mình để lộ cái không tốt trong nội bộ, gia đình để người ngoài chê cười…Tuy nhiên, tại sao lại có hành động vạch áo để xem lưng; tại sao lại là “lưng” và “lưng” có ý nghĩa gì; thành ngữ này từ đâu xuất hiện? Thì xưa nay chưa thấy ai trả lời rõ ràng, thuyết phục mà chỉ là những suy đoán mơ hồ, tùy tiện, chẳng hạn như: người thì cho “lưng” là nơi thường được che kín,
là nơi mắt không thể tự nhìn thấy, người khác lại cho lưng là nơi có những vết roi đánh vì có lỗi…
Theo tìm hiểu của chúng tôi, “lưng” có thể là:
1- Cái dải lưng quần mà người xưa thường hay giắt, dấu xâu tiền như Truyện Kiều có câu: “Tiền lưng đã có việc gì chẳng xong” (Tiền lưng: tiền ở dải lưng quần); đặc biệt là câu: “Chung lưng mở một ngôi hàng”, (Chung lưng: góp vốn chung, dựa vào nhau để làm ăn chung). Do đó nếu ta tự vạch áo ra sẽ lộ hết tiền bạc ở lưng quần cho người khác thấy và dễ bị người ta hại, trộm cắp.
2- Xuất xứ từ truyện cổ dân gian là truyện Vua Heo:
“Ngày xưa có một đứa bé không cha không mẹ, được người ta nhặt về nuôi để sai vặt. Vì nó bẩn như heo nên người ta gọi là thằng Heo. Mặc cho ai muốn chế nhạo khinh bỉ mình thế nào, Heo vẫn coi thường mọi người. Trải qua những năm đói kém, Heo vẫn sống và ngày một lớn. Năm mười lăm tuổi, Heo đến ở với một ông quan lớn.
Một hôm, ông quan bắt Heo múc một thau nước để rửa chân cho mình. Khi Heo mó đến chân quan, quan trỏ vào mấy cái nốt ruồi và dặn:
– Tao có ba cái nốt ruồi đỏ ở chân đây. Mày hãy coi chừng! Nếu cào xước lên thì cả họ nhà mày cũng khó mà đền cho ta cái tướng quý đó, con ạ!
Heo ta nghe nói nghĩ bụng: – “Cái thứ người mới chỉ mới có ba nốt ruồi vặt đã làm gì mà nhặng lên như thế!”. Nghĩ đoạn, Heo vạch áo cho quan xem những nốt ruồi của mình và nói:
– Quan lớn chỉ có ba cái nốt ruồi thôi mà đã quý đến thế, còn tôi có đến chín nốt đây này.
Ông quan thấy thằng bé có những chín nốt ruồi đỏ ở sau lưng thì lấy làm lạ lắm, bụng nghĩ thầm: – “Trời ơi! Làm sao mà nó có tướng quý thế kia! Về sau nó không làm vua thì cũng làm chúa mà thôi. Nếu để cho nó làm vua làm chúa thì còn thể thống gì nữa. Phải tìm cách giết đi mới được.”
Thế rồi mấy hôm sau, ông quan trao cho đứa hầu gái một gói thuốc độc và bảo nhỏ rằng: – “Mày nhớ rắc thuốc này vào cơm cho thằng Heo ăn. Nhưng phải giữ thật kín miệng, nếu để ai biết tao sẽ giết mày trước.”
Người hầu gái cầm lấy gói thuốc độc, bụng thương Heo vô hạn. Nhưng nàng không thể trái lời chủ được đành phải rắc vào bát cơm để dành phần cho Heo.
Hôm ấy, Heo phải đi chợ mua giấy bút cho chủ. Trở về thì vừa lúc người hầu gái đang cho heo ăn. Thấy Heo bưng bát cơm sắp và vào miệng, nàng vội vàng lấy thanh củi, vừa gõ vào cái máng heo ăn vừa vờ mắng heo:
– Heo òn! Heo òn! Heo ăn Heo chết, mà Heo không ăn heo cũng chết!
Nàng vừa gõ vừa nói như thế đến ba lần. Heo nghe lấy làm chột dạ, nhưng vẫn chưa hiểu ý tứ thế nào liền chạy lại hỏi nhỏ:
– Thế nào? Có việc gì nói cho tôi biết đi!
Cô gái đáp:
– Heo đừng có quên tôi, tôi sẽ cho Heo biết.
Heo gật đầu. Nàng vội dắt Heo ra một chỗ vắng, kể hết sự tình cho nghe, và bảo:
– Nếu Heo không trốn mau, tai vạ sẽ đến nữa. Không sao tránh khỏi (…)” [Nguyễn Đổng Chi, KHO TÀNG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM, Nhà xuất bản Giáo dục Hà nội 2000]
Trong truyện này, có hành động: “vạch áo cho quan xem những nốt ruồi của mình” và vị trí ở lưng “thằng bé có những chín nốt ruồi đỏ ở sau lưng” vì vậy nhân vật Heo sau đó đã bị ông quan âm mưu đầu độc vì đã nghĩ đến việc phải tìm cách giết nó đi.
Trước hết từ tên truyện Vua Heo, có thể xác định truyện cổ này thuộc về miền Nam vì miền Nam gọi là “heo” còn miền Bắc gọi “lợn.” Trong Đại Nam Quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của tuy không thấy câu thành ngữ trên nhưng thấy có mục từ Vạch lưng: Lục lưng, mở lưng, dở lưng mà coi, rất có thể liên quan đến câu chuyện Heo tự vạch áo cho quan xem nốt ruồi quý
[https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/cb327469238/date1922.liste]

tướng. Nhiều khả năng thành ngữ “Vạch áo cho người xem lưng” sinh ra từ truyện cổ Vua Heo ở miền Nam. Bằng chứng sớm nhất ở Công Luận Báo, tờ báo chữ Quốc ngữ ở Sài Gòn vào năm 1922 qua bài viết của T.L, Cuộc quốc-dân Giáo-dục còn phải làm nhiều, đã xuất hiện thành ngữ “Vạch áo cho người xem lưng”.
Sau đó thành ngữ này đã phổ biến cả nước, ở miền Bắc thành ngữ này chỉ xuất hiện muộn hơn trong Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức năm 1931.
Chúng tôi nhận thấy lý giải 1 tuy cũng hợp lý nhưng vẫn không thuyết phục bằng lý giải 2 vì có bằng chứng trong truyện cổ dân gian, trong sách báo thời kỳ đầu chữ Quốc ngữ thuộc miền Nam.
Từ chuyện Heo tự vạch áo khoe quan những nốt ruồi quý tướng ở sau lưng dẫn đến quan âm mưu đầu độc Heo, dân gian đã tạo nên thành ngữ “Vạch áo cho người xem lưng.” Ban đầu chỉ mang ý nghĩa răn đe, cảnh giác cho những ai thật thà, dại dột, thích khoe khoang, tự lộ ra điều quý giá bí mật của mình cho người khác rồi dẫn đến bị hại đến thân. Sau đó thành ngữ này biến đổi ý nghĩa: Bày cái dở cái xấu của mình hay của phe mình một cách vô ý thức cho người ta thấy. Tự mình để lộ cái không tốt trong nội bộ, gia đình để người ngoài chê cười.
__________
Ông bán xoài
Trong xóm tôi hai vợ chồng người bán xoài. Ông chồng là người thích nói, đặc biệt là thích “giải thích cho rõ.” Ai hỏi một, ông trả lời mười. Ai chưa hỏi, ông cũng trả lời luôn, kẻo không có gì để nói.
Một hôm, bà vợ đem ra chợ bán mấy chục trái xoài. Bảng treo rất hấp dẫn: “Xoài nhà trồng, ngọt lịm, không chê vào đâu được.”
Khách vừa cầm lên một trái, ông đã đứng kế bên nói nhỏ:
“Trái đó hơi bị sâu đầu chút xíu, nhưng gọt bỏ là ăn được.”
Bà vợ liếc ông một cái bén như dao cau.
Người khách đặt trái xoài xuống, cầm trái khác. Ông lại ân cần:
“Trái này thì ngon, chỉ có điều hôm qua rớt xuống đất, con chó nó ngửi một cái thôi chớ chưa liếm.”
Bà Tư bắt đầu thở mạnh.
Một cô khác hỏi:
“Xoài này chín cây hả bác?”
Ông cười hiền:
“Chín cây thì cũng chín cây, mà có vài trái tui ủ thêm bằng bao gạo cho nó đều màu. Nói thiệt tình để cô biết.”
Đến đây, bà vợ kéo ông ra sau, nghiến răng:
“Ông giúp tôi bán xoài hay ông đi tố cáo tui vậy?”
Ông chồng ngơ ngác:
“Thì tui nói sự thật. Mình buôn bán phải thật thà.”
Bà chỉ vào tấm bảng:
“Thật thà là tốt, nhưng không ai mượn ông đứng giữa chợ vạch áo cho người ta xem lưng! Xoài có chút tì vết thì để tui lựa, tui nói khéo… là đủ
Ông chồng nghe vậy, gật gù. Từ đó ông chỉ ngồi phía sau gọt xoài ăn thử.
Nhưng khổ nỗi, khách nào đi ngang ông cũng ngoắc lại:
“Mua đi cô! Hôm nay bả dặn tui đừng nói gì hết, chắc là xoài ngon hơn hôm qua nhiều!”

