VŨ THỊ PHƯƠNG ANH
Những ai thường theo dõi mạng xã hội Việt Nam hẳn đều biết đến cuộc livestream vào đầu tháng 8/2026 của bà Nguyễn Phương Hằng, xoay quanh những phát ngôn gây tranh cãi nhắm vào hai nhân vật nổi tiếng trong giới giải trí. Còn với những ai không theo dõi câu chuyện này, chỉ cần biết rằng đây là một buổi phát trực tiếp thu hút hơn hai triệu người xem cùng một thời điểm – một con số hiếm thấy đối với một cá nhân.[1]
Vụ livestream ấy đã qua gần nửa tháng, vậy mà mỗi lần mở Facebook ra tôi vẫn thấy người ta tiếp tục bàn tán về nó. Điều khiến tôi chú ý không phải là ai đúng ai sai, mà là một câu hỏi khác: điều gì đã khiến hàng triệu con người cùng muốn dừng mọi việc để nhìn về một màn hình?
Không chỉ được bàn chơi trên Facebook, sự kiện livestream của bà Hằng còn được phân tích trên một tờ báo chính thống tại Việt Nam.
Ngay sau buổi livestream ngày 5/8/2026, chỉ một ngày sau, báo Một Thế Giới đã có bài “Phía sau 2 triệu lượt xem livestream của bà Nguyễn Phương Hằng,” phân tích hiện tượng này từ góc độ công nghệ.[1] Bài báo giải thích khá thuyết phục vai trò của thuật toán đề xuất, hạ tầng truyền dẫn, AI tự động cắt video thành những đoạn ngắn, mạng lưới tài khoản chia sẻ lại và cả độ trễ của hệ thống kiểm duyệt. Những yếu tố ấy kết hợp với nhau có thể biến một buổi phát trực tiếp thành một sự kiện truyền thông có sức lan tỏa khổng lồ.
Đọc xong, tôi thấy rất thuyết phục. Nhưng tôi vẫn có cảm giác còn thiếu một mảnh ghép.
Công nghệ giải thích rất hay việc làm thế nào một livestream có thể lan truyền với tốc độ chóng mặt. Nhưng nó chưa giải thích được vì sao hàng triệu người lại muốn xem. Thuật toán có thể khuếch đại sự chú ý. Nhưng trước khi được thuật toán tác động và khuếch đại, chính buổi livestream ấy cũng phải có điều gì đó khiến người ta dừng lại và muốn xem.
Vậy điều gì đã thu hút họ?
Có người cho rằng sức hút của bà Hằng nằm ở chỗ bà nói hộ, thậm chí chửi hộ, những điều mà nhiều người nghĩ nhưng không thể hoặc không dám nói. Tôi thấy cách giải thích ấy đáng suy nghĩ. Nhiều điều bà nói không hẳn mới mẻ, thậm chí không ít phát ngôn rất khó kiểm chứng. Nhưng cách nói ào ào, không kiêng dè, đôi khi rất thô, có thể tạo cho một số người nghe cảm giác rằng cuối cùng cũng có ai đó nói ra những bực bội mà họ vẫn giữ trong lòng. Người này bực ông sếp mà không dám chửi. Người kia bực những kẻ đạo đức giả. Người khác lại bất mãn với những bất công mà họ cảm thấy nhưng không biết gọi tên thế nào. Những bực bội ấy có lẽ chẳng liên quan gì đến nhau, cho đến khi chúng cùng tìm được một chỗ để gửi vào.
Tất nhiên, từ hơn hai triệu người xem mà suy ra xã hội đang chứa một lượng bất mãn khổng lồ thì có lẽ cũng chưa đúng lắm. Người ta có thể xem vì đồng tình, vì phản đối, vì tò mò, hoặc đơn giản vì cả Facebook đang nói về chuyện ấy nên cũng ghé vào xem thử. Con số người xem livestream cho biết sức hút, chứ tự nó không cho biết động cơ của từng người xem, càng không chứng minh nội dung được nói trong livestream là đúng.
Nhưng dù động cơ là gì, hiện tượng này vẫn khiến tôi nhớ đến một câu chuyện đã hơn một thế kỷ: tâm lý của đám đông.
Gustave Le Bon xuất bản Psychologie des foules, thường được biết đến trong tiếng Việt với tên Tâm lý học đám đông, từ cuối thế kỷ XIX.[2]
Ông nhìn đám đông khá bi quan: khi hòa vào đám đông, con người dễ bị cảm xúc lây truyền và có thể hành động khác với khi đứng một mình. Đám đông mà Le Bon quan sát là đám đông ngoài quảng trường, trên đường phố, trong những cuộc biểu tình và biến động chính trị.
Chỉ có điều, trong môi trường số mà chúng ta đang hiện diện ngày nay, đám đông không còn cần có mặt cùng lúc ở một nơi. Một người có thể nằm trên giường ở Sài Gòn, một người ngồi trong quán cà phê ở Hà Nội, một người khác ở Mỹ hay Úc. Họ không nhìn thấy nhau, có thể chẳng biết gì về nhau, nhưng trong cùng một lúc lại cùng hướng sự chú ý vào một màn hình.
Có một nghịch lý khá thú vị ở đây: chưa bao giờ con người có thể ở một mình mà lại ở trong một đám đông lớn đến thế.
Nhưng nói đến đây tôi lại thấy phải cẩn thận, kẻo lại rơi vào trạng thái tự đặt mình ra ngoài và lên trên đám đông, kiểu như chỉ có mỗi mình là tỉnh táo còn thiên hạ thì dễ bị dắt mũi. Vì tôi cũng biết đám đông đâu phải lúc nào cũng sai hoặc dễ bị thao túng. Các nền dân chủ hiện đại được xây dựng trên nguyên tắc rằng ý chí của số đông có vai trò quyết định trong nhiều lựa chọn chung. Nói cách khác, số đông không phải tự nó là một điều đáng ngờ. Vấn đề là số đông ấy được hình thành như thế nào, các cá nhân trong đó có còn giữ được tính độc lập hay không, và bằng cơ chế nào những ý kiến riêng lẻ được tổng hợp thành quyết định chung.
Tôi nhớ đến một cuốn sách có cái tựa rất đẹp là The Wisdom of Crowds – Trí tuệ đám đông – của James Surowiecki, xuất bản năm 2004. Surowiecki cho rằng trong những điều kiện thích hợp, phán đoán được tổng hợp từ nhiều người có thể chính xác hơn phán đoán của phần lớn các cá nhân riêng lẻ.
Tất nhiên trí tuệ ấy cũng không tự nhiên xuất hiện chỉ vì có thật đông người. Nó cần một số điều kiện, trong đó có sự đa dạng về ý kiến, tính độc lập giữa các cá nhân, tri thức phân tán và một cơ chế để tổng hợp những phán đoán của từng người.[3]
Điều này khiến tôi nghĩ đến mạng xã hội. Một trong những điều kiện để hình thành “trí tuệ đám đông” là mỗi người phải có khả năng đưa ra phán đoán tương đối độc lập, thay vì chỉ nhìn xem số đông đang nghĩ gì rồi nghĩ theo. Nhưng mạng xã hội lại rất dễ làm suy yếu sự độc lập ấy. Ta thấy một bài có hàng chục nghìn lượt thích thì dễ cho rằng nó đáng tin; thấy rất nhiều người phẫn nộ thì chính mình cũng dễ phẫn nộ theo. Thuật toán lại tiếp tục đưa đến cho ta những nội dung tương tự, khiến ta càng có cảm giác rằng “ai cũng nghĩ như thế”. Cuối cùng, cái tưởng là ý kiến của rất nhiều người độc lập có khi chỉ là những ý kiến đang liên tục tác động và củng cố lẫn nhau.
Vậy có lẽ câu hỏi thú vị không phải là đám đông thông minh hay ngu ngốc. Câu hỏi là: khi nào nhiều người tạo nên trí tuệ, và khi nào nhiều người chỉ khuếch đại những cảm xúc tức thời?
Và chính ở đây thuật toán quay trở lại.
Ngày xưa, muốn biết một đám đông đang quan tâm đến điều gì, có lẽ phải ra quảng trường mà xem. Ngày nay, nền tảng biết gần như tức thì chúng ta dừng lại ở đâu, xem bao lâu, bấm thích cái gì, bình luận vào đâu, chia sẻ cho ai. Một căn phòng livestream càng đông thì càng có người tò mò bước vào. Càng nhiều người bước vào, thuật toán càng nhận thêm những tín hiệu cho thấy nội dung đang thu hút sự chú ý và có thể tiếp tục phân phối nó đến những người khác.[1]
Vài ngày sau bài viết đầu tiên, Một Thế Giới lại có một bài khác nhìn vào cơn sốt tìm kiếm liên quan đến hai nhân vật bị nhắc đến trong buổi livestream[2].[4] Điều tôi chú ý ở đây rất đơn giản: sự tò mò của con người có thể được công nghệ biến thành dữ liệu. Mỗi lần tìm kiếm, mỗi cú nhấp chuột, mỗi phút ở lại đều để lại dấu vết. Những dấu vết ấy lại góp phần giúp các hệ thống biết người dùng đang quan tâm đến điều gì.
Thế là một vòng lặp hình thành: con người tò mò nên bấm vào; nhiều người bấm vào tạo thành tín hiệu về một xu hướng; nội dung được phân phối rộng hơn; thấy nhiều người đang xem, những người khác lại tò mò.
Thuật toán khuếch đại đám đông, đám đông cung cấp dữ liệu cho thuật toán, và thứ nằm giữa hai bên chính là sự chú ý của chúng ta.
Đến đây thì câu chuyện không còn chỉ là tâm lý học nữa. Nó trở thành chuyện kinh tế.
Từ năm 1971, Herbert A. Simon đã viết về một nghịch lý rất đơn giản: trong một thế giới giàu thông tin, sự phong phú của thông tin lại tạo ra sự khan hiếm của một thứ khác – chính là sự chú ý của người tiếp nhận. Nói ngắn gọn theo câu nổi tiếng của ông: “a wealth of information creates a poverty of attention” – sự giàu có về thông tin tạo ra sự nghèo nàn về chú ý.[5]
Hơn nửa thế kỷ sau, câu ấy nghe cứ như được viết cho Facebook, TikTok và YouTube hôm nay.
Thông tin bây giờ không thiếu. Thứ chúng ta thiếu là thời gian để đọc, khả năng tập trung để suy nghĩ, và một cái đầu đủ yên tĩnh để quyết định thứ gì đáng được mình chú ý.
Sự chú ý vì thế trở thành một tài nguyên. Facebook muốn có nó. TikTok, YouTube cũng muốn nó. Báo chí cần nó. Người bán hàng cũng cần nó. Người nổi tiếng thèm khát nó. Người viết bài như tôi cũng muốn nó – nếu không thì người ta viết xong rồi vội đăng lên Facebook để làm gì?
Nói như vậy để thấy chẳng ai trong chúng ta thực sự đứng ngoài nền kinh tế của sự chú ý. Vấn đề không phải là có tìm kiếm sự chú ý của người khác hay không. Con người vốn là sinh vật xã hội, chúng ta cần được người khác lắng nghe và cũng cần chú ý đến người khác. Vấn đề nằm ở chỗ sự chú ý ngày nay có thể được đo đếm, dự đoán và khai thác bằng công nghệ, và vì thế cuộc cạnh tranh để giành lấy nó trở nên quyết liệt hơn rất nhiều.
Mỗi phút chúng ta dành cho một livestream là một phút không dành cho cuốn sách đang đọc, công việc đang làm hay người đang ngồi trước mặt mình. Nhưng càng nghĩ tôi càng thấy tính như thế vẫn còn quá đơn giản.
Cái mất không chỉ là một tiếng đồng hồ.
Có những thứ ta chỉ xem năm phút nhưng nó ở lại trong đầu cả buổi chiều. Một câu nói làm ta tức. Một clip khiến ta tò mò đi tìm clip thứ hai. Một cuộc tranh cãi đã đóng Facebook rồi mà trong đầu mình vẫn tiếp tục cãi. Nội dung đã kết thúc trên màn hình nhưng chưa kết thúc trong đầu ta.
Sự chú ý hóa ra còn có dư chấn
Và chính đến đây tôi lại nhớ đến một cách gọi của Đào Trung Thành mà tôi rất thích: “vệ sinh tinh thần.”[6]
Nghe có vẻ hơi cổ lỗ, nhưng nghĩ kỹ thì cũng chẳng khác chuyện vệ sinh thân thể bao nhiêu. Ta đánh răng, tắm rửa, ăn uống kiêng khem vì biết những gì đi vào cơ thể đều để lại dấu vết. Những thứ đi qua mắt, tai và màn hình cũng vậy. Có thứ làm ta hiểu đời hơn. Có thứ làm ta thương người hơn. Có thứ khiến ta tỉnh ra. Nhưng cũng có thứ chỉ để lại một lớp cặn gồm phẫn nộ, kích động, tò mò, khinh miệt hay hả hê. Xem xong chẳng biết dùng nó vào việc gì, nhưng nó vẫn ở đó.
Nói thế không có nghĩa là tôi cho rằng mình đạo đức hay tỉnh táo hơn những người đã xem livestream của Nguyễn Phương Hằng. Đúng là Nguyễn Phương Hằng không phải là “gu” của tôi, nhưng dù là của ai khác thì tôi cũng ít khi xem. Chẳng qua là vì một lý do rất thực dụng: tôi biết rõ điểm yếu của mình. Nếu mở ra “xem thử năm phút”, rất có thể năm phút ấy sẽ thành nửa tiếng, rồi một tiếng; và sau khi tắt màn hình, câu chuyện có khi vẫn còn chạy tiếp trong đầu.
Tất nhiên, biết chưa chắc đã làm được. Tôi vẫn có thể biết rất rõ một clip chẳng có gì đáng xem nhưng vẫn lơ đễnh bấm vào vì thấy nó đang “hot.” Biết rằng mình đang bị cuốn theo đám đông những vẫn tò mò muốn xem đám đông đang chạy đi đâu. Con người là thế.
Nhưng biết thì có khi vẫn không làm; còn nếu không biết thì chắc chắn không thể lựa chọn.
Muốn không bị cuốn theo đám đông, trước hết phải biết mình cũng là một phần của đám đông.
Muốn giữ lấy sự chú ý của mình, trước hết phải biết có cả một nền kinh tế đang tranh giành nó. Và muốn giữ được tự do, có lẽ trước hết phải biết mình: biết điều gì dễ làm mình nổi giận, điều gì dễ gây cho mình sự tò mò, và điều gì làm mình khó cưỡng lại nhất.
Ngày xưa bố tôi thường nói một câu:
“Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”
Hồi nhỏ tôi cứ nghĩ chữ “biết” ấy có nghĩa là phải khôn ngoan, biết người biết ta để sống ở đời. Bây giờ tôi lại hiểu thêm một nghĩa khác.
Giữa một thế giới mà thuật toán có thể tìm đến từng người, đám đông có thể hình thành trong vài phút, và sự chú ý của chúng ta đã trở thành một món hàng, có lẽ cái “biết” đầu tiên và khó nhất vẫn là:
biết chính mình.
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/vu-thi-phuong-anh/
—–
Chú thích
[1] Tiểu Vũ, “Phía sau 2 triệu lượt xem livestream của bà Nguyễn Phương Hằng”, Một Thế Giới, 6/8/2026. Bài báo ghi nhận phiên livestream tối 5/8 có thời điểm hiển thị hơn 2,1 triệu người xem đồng thời, đồng thời lưu ý đây chưa phải một kỷ lục được TikTok chính thức xác nhận. Bài phân tích vai trò của thuật toán đề xuất, hạ tầng truyền dẫn, AI, hoạt động đăng lại và độ trễ kiểm duyệt.
[2] Gustave Le Bon, Psychologie des foules, 1895; bản tiếng Anh thường mang tựa The Crowd: A Study of the Popular Mind. Khi sử dụng Le Bon ở đây, bài viết chỉ tham chiếu một số nhận xét kinh điển của ông về tính dễ gợi ý và sự lan truyền cảm xúc trong đám đông, không coi lý thuyết của ông là lời giải thích đầy đủ cho hành vi tập thể trong môi trường số hiện nay.
[3] James Surowiecki, The Wisdom of Crowds: Why the Many Are Smarter Than the Few and How Collective Wisdom Shapes Business, Economies, Societies and Nations, Doubleday, 2004. Surowiecki nhấn mạnh các điều kiện quan trọng để trí tuệ tập thể hình thành, gồm sự đa dạng về ý kiến, tính độc lập, tính phân tán/phân quyền và cơ chế tổng hợp các phán đoán riêng lẻ.
[4] Tiểu Vũ, “Lý Nhã Kỳ, Mai Phương Thúy: Cơn sốt tìm kiếm dưới góc nhìn công nghệ”, Một Thế Giới, tháng 8/2026. Bài viết sử dụng dữ liệu xu hướng tìm kiếm để xem xét sự chú ý trực tuyến phát sinh sau vụ livestream.
[5] Herbert A. Simon, “Designing Organizations for an Information-Rich World”, trong Martin Greenberger (chủ biên), Computers, Communications, and the Public Interest, Johns Hopkins Press, 1971, tr. 40–41. Simon viết rằng trong một thế giới giàu thông tin, thông tin tiêu thụ sự chú ý của người nhận; vì vậy sự dư thừa thông tin tạo ra sự khan hiếm chú ý.
[6] Đào Trung Thành, bài đăng Facebook về “vệ sinh tinh thần”, tháng 8/2026. Bài đăng gốc: https://www.facebook.com/share/p/19GDeXQzd7/. Ở đây tôi mượn cách gọi “vệ sinh tinh thần”; những diễn giải tiếp theo về “lớp cặn” của sự chú ý và việc lựa chọn nội dung là suy nghĩ của người viết, không quy cho tác giả bài đăng.
[1] https://1thegioi.vn/phia-sau-2-tr ieu-luot-xem-livestream-cua-ba-nguyen-phuong-hang-256092.html
[2] https://1thegioi.vn/ly-nha-ky-mai-phuong-thuy-con-sot-tim-kiem-duoi-goc-nhin-cong-nghe-256232.html

