DOÃN CẨM LIÊN
Lời đầu tiên phải cám ơn anh Trần Hoài Thư (THT) và Thư Quán Bản Thảo (TQBT) số 95, tháng Mười năm 2021, đã dẫn dắt người hậu sinh này hiểu thêm quãng đường mà bán nguyệt san Chính Văn đã đi. Dù rằng rất ngắn. Chính Văn chỉ phát hành ngót nghét 20 số, khởi từ tháng Sáu 1971 đến tháng Tám 1972, với mong muốn của ông chủ bút Nguyễn Mạnh Côn mang những “suy tư và xúc động trẻ” đến độc giả.
Nguyễn Mạnh Côn, chủ bút đầu tiên Tạp chí Chính Văn, với hoài bão lớn là chuyển tải nhiều ý thức chính trị cho giới trẻ. Nhưng nhận ra rằng hoài bão này khó nuôi dưỡng sự sinh tồn của tờ báo nên đoạn cuối ông đã chuyển chức danh “chủ bút” sang cho Trần Phong Giao và ông chỉ còn giữ vai trò nhỏ là thư ký tòa soạn. Ông Trần Phong Giao liền thay đổi chiến thuật với sự cộng tác các tay bút từ khắp các tỉnh thành, mà trước đây chỉ ở Sài Gòn dưới thời Nguyễn Mạnh Côn, hầu mong cứu lấy sinh mạng của tạp chí.
Vẫn không thành công, Tạp chí Chính Văn đành đóng cửa một năm sau đó.
Trở lại mục trích đăng bài trong TQBT số 95, độc giả được đọc Nguyễn Mạnh Côn, Đỗ Tấn, Túy Hồng, Kim Tuấn, Thái Tú Hạp, Mường Mán, Hạc Thành Hoa, Nguyễn Chí Kham, Hoàng Đình Huy Quan, Hà Vũ Giang Châu, Cao Thoại Châu, Vũ Hữu Định.
Bài “Lời Nguyện Cầu Trong Không” – Nguyễn Mạnh Côn, hút tôi vào nó mãnh liệt. Và đọc đến câu kết “Ơ hay! Có lẽ đâu những điều tôi tưởng bày đặt ra, để trấn an em tôi, đều là thật cả!” “Nguyễn Mạnh Côn – Ngày 9 tháng chạp năm Tân Hợi.”, truyện đã hết mà lòng vẫn bồi hồi kéo dài cho đến giây phút này.
Câu chuyện kể về nỗi ám ảnh của một người vợ lính nhảy dù, từ một giấc mơ thấy chồng bị tử nạn. Chị mơ thấy cảnh chồng đang hành quân, từ trên không rơi băng xuống cánh rừng thưa, với cánh dù đã bị mất hai khổ vải, và kết cục là anh đã bị nạn trên một cành cây xuyên qua người. Giấc mơ đó được lập đi lập lại nhiều lần, trong khoảng thời gian dài, mà ngày càng rõ ràng các chi tiết nhỏ đã khiến nàng mất hết tinh anh của những ngày trước đó. Cuối cùng nàng phải cầu viện người anh trợ giúp.
Người anh giúp cô em bằng cách kể nhiều chuyện xưa nay về “anh hồn” của người này gặp “anh hồn” của người kia mà hỗ trợ cho nhau. Những tín hiệu được truyền qua không gian, phi thời gian mà người thường hay gọi là giác quan thứ sáu hay trực giác. Bên cạnh đó, người ta cũng dùng lời cầu nguyện thật chân thành và đầy tình thương yêu gửi đến người kia ở một nơi nào đó, trong thời gian nào đó vào những lúc cực kỳ nguy hiểm, mà kết quả là thành công.
Lời nguyện cầu từ người vợ ở tít mù xa, đã hóa giải tình huống vô cùng nguy kịch thành vô sự, chỉ trong một sát na. Người chồng, chiến sĩ nhảy dù, đang lao xuống không phanh vì chiếc dù bị rách, trong màn đêm đen kịt. Với tiếng hét “Anh! Coi chừng! Anh ơi!…”, anh bừng tỉnh và tránh được nhánh cây chỉa thẳng lên trời. Chàng đã thoát một sự rơi thẳng và phập vào nhánh cây đó.
Bên cạnh đó người anh sử dụng niềm tin của cô em, một kế hoạch có hơi chút mê tín, và một số tiền không nhỏ trả cho ông thầy pháp. Kế hoạch vạch ra để chứng minh lòng thương yêu và lòng hy sinh của cô em cho chồng là bao nhiêu? Tất cả đều là dàn dựng như màn kịch, người anh khiển và lôi cuốn cô em ra khỏi cơn hoảng loạn. Ai dè, cô em đã rất chân thành và làm theo đúng từng điều người anh dặn dò. Kết quả là thành công. Không thành công bởi màn kịch mà thành công bởi sự “hiệu lực của cầu nguyện,” bởi tình yêu chân thật. Tất cả những điều xảy ra vừa trong giấc mơ của nàng, vừa ngoài đời thật nơi chiến trường của người chồng. Nó quện lẫn vào với nhau, hư hư thực thực, bí hiểm và khó giải thích bằng khoa học là thế.
Trở lại cái bồi hồi của người đọc “Lời Nguyện Cầu Trong Không” để nhận rằng Nguyễn Mạnh Côn là một tiểu thuyết gia tầm cỡ của thời kỳ sau cuộc di cư Bắc – Nam 1954, cho đến nay chưa chắc kiếm được một ngòi bút có ma lực như thế. Ông dẫn dắt người đọc từng màn, từng cảnh, tình tiết khúc chiết của câu chuyện đến nhân vật và cuối cùng mở toang ở đoạn kết. Người đọc, bị hút vào truyện mà không dứt ra được, chỉ đến nốt chấm hết mới bừng tỉnh mà thở.
Nguyễn Mạnh Côn không dùng bút pháp cầu kỳ. Chữ dùng lại càng giản dị đời thường vì dành phần khó cho việc theo dõi câu chuyện, những chi tiết siêu thực khó hiểu. Ông muốn độc giả nương vào truyện mà tự khám phá những điều chỉ diễn ra trong tâm thức chằng chịt, không thể giải thích bằng khoa học, mà chỉ có thể nói bằng chữ “niềm tin.”
Duy Thức Học hay còn gọi Tâm Lý Học Phật Giáo đã chỉ ra được đường đi nẻo về của tâm-ý-thức con người. Độc giả đọc Nguyễn Mạnh Côn không thể lơ là một giây phút nào, vì những chữ, câu văn, đoạn văn đều dẫn dắt câu chuyện đi tới. Đi xa tắp vào sâu trong ý thức, tâm ý và vào kho chứa tâm thức. Giải thích được nó chỉ bằng sự quay vào tâm, lắng đọng lại để nghe và nhận ra.
Nguyễn Mạnh Côn đã rất thành công trong những bài viết theo thể loại này. Ông đã kết hợp kiến thức tâm lý học cùng với những cảnh thật đời sống người dân Việt thời nội chiến Bắc – Nam.
Đây câu chuyện “Hai Đứa Trẻ Một Cây Cầu.” Hai đứa trẻ mồ côi. Chúng không còn mái nhà nên chọn cái hầm bỏ hoang ngoài bờ ruộng làm chốn nương thân. Cái gọi là cái nhà để chúng tạm tránh mưa, tránh nắng, tránh lạnh… để sống còn. Miếng ăn của hai anh em là những con vật sống, còn nhúc nhích như chuột, tôm tép ngoài bờ mương. Chúng sống hồn nhiên như cây cỏ, nếu đừng có một ngày… đoàn quân cộng sản tràn về chiếm lĩnh khu làng bỏ hoang và biến nó thành chiến trường.
Chiến trường vào xóm làng không làm ai tổn hại vì chẳng còn một ai ở lại trong đó! Nó chỉ xen vào cuộc đời hai đứa trẻ và lấy đi mạng sống của chúng.
Nước mắt có tuôn trào ở cảnh cuối cùng không? Đoạn tả cảnh giữa hai làn đạn, hai đứa trẻ cõng nhau lết từng bước mong qua được bến bờ Quốc Gia tự do… Hai thân xác còm cõi của hai đứa nhỏ, cố giữ tay lên cao báo hiệu “có tụi con đây, đừng bắn!”. Thế nhưng đạn vẫn vô tình hay con người vô tình để rồi tiếng nói của thằng anh: “Ly, giơ tay lên em. Ly, giơ tay lên em…” “… Nó nói: Những tiếng sau cùng, hình như cả tiếng thở hắt ra đều lẫn vào tiếng súng của địch.”
Đó, chiến tranh là vậy đó!
Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn đại diện cho văn đàn Văn chương chiến trường. Ông tả lại những thực trạng của chiến tranh, không thêm không bớt. Bút pháp của ông ngắn gọn, chữ dùng chuẩn xác, không màu mè. Ông dồn độc giả vào khung chỉ để thưởng thức câu chuyện. Câu chuyện thâm sâu, trầm lắng có nhiều triết lý nhân bản, có khi có một chút mơ hồ siêu hình tâm linh, có khi mang đầy tính khoa học giả tưởng. Khoa học viễn tưởng nhưng dần dà tiến bộ hơn trong kỹ thuật thì hình như nó trở thành đúng, khi khoa học chứng minh được.
Bên cạnh là Mai Thảo đại diện cho Văn chương đô thị. Mai Thảo với phong cách bóng bẩy trong chữ nghĩa và câu cú. Ông tả truyện trời đất và con người rất ư là thơ thẩn thơ. Ông trải dài nhiều con chữ trên mặt giấy một cách ngoạn mục, chỉ để chuyển tải một hình ảnh hay một ý tưởng rất đời. Hãy nghe ông tả Chùa Hương như thế này:
“Tôi lên Hương Tích Sơn. Tìm đến vùng tín một trầm mặc của chùa Tiên. Ngả vào đằm đằm bóng mát Thiên Trù. Đánh chìm những nhễ nhại mồ hôi những choáng váng mưa nắng xuống giòng xanh lặng hiền hòa của giòng suối, mang tên Đục, nhưng trong vắt như hồn người ở ngoài mọi bến bờ tục lụy.”
Đó là một kỹ thuật viết rất ư là Mai Thảo, khó có ai có thể bắt chước được văn phong như thế!
Mai Thảo và Nguyễn Mạnh Côn đứng ở hai mặt trận văn nghệ khác nhau: Văn chương đô thị và Văn chương chiến trường. Và cả hai Nguyễn Mạnh Côn và Mai Thảo có hai bút pháp khác nhau rất xa.
Thiết nghĩ rằng cả hai mặt trận Văn chương đô thị lẫn chiến trường đều cần thiết cho cuộc sống con người. Nhất là những con người sống trong một đất nước phải chịu đựng chiến tranh quá lâu. Cuộc chiến tàn phá tâm thức, đời sống người dân ở cả hai chiến tuyến đến tận cùng. Văn chương chiến trường cần có để nhắc nhở người sống nơi đô thị đừng quên nơi chiến trường xa xôi kia đang có những mảnh đời khốn khổ, gian lao, sống chết cận kề. Văn chương đô thị lại lãnh nhiệm vụ làm đẹp tâm hồn, hướng độc giả về chân thiện mỹ bằng chữ nghĩa.
Cả hai loại văn chương khởi sự từ hai điểm khác nhau, một là khốc liệt, cay đắng; một kia là hoa lá màu sắc tươi tắn đẹp đẽ, để cuối cùng vẫn làm cho nhân sinh quan của con người đi đến Chân Thiện Mỹ. Tất cả tốt hay xấu đều cần có trong cuộc sống để con người nương theo đó mà đi. Nhận ra được cái xấu là giúp người ta chỉnh sửa sao cho ít xấu đi, ít đi một, rồi ít đến mười và đến rốt ráo. Cái tốt nó có vai trò của nó là giúp người ta thấy thế nào là xấu, nhận ra khi nào là xấu và hậu quả cái xấu là gì. Và làm sao giữ được cái tốt và không xa Chân Thiện Mỹ.
Vài suy nghĩ thẩn thơ sau khi đọc Nguyễn Mạnh Côn!
Doãn Cẩm Liên
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/doan-cam-lien/
http://www.hocxa.com/Truyen/NguyenManhCon_LoiNguyenTrongKhong.php
https://nguoikemon.blogspot.com/2020/12/639-hai-ua-tre-mot-cay-cau.html

