Phạm Duy và con đường Cái Quan

by Tim Bui
Phạm Duy và con đường Cái Quan

DOÃN CẨM LIÊN

Đúng rồi, tôi đã chọn được đề tựa cho bài viết này rồi… “Phạm Duy và con đường Cái Quan.” Tất cả những sự kiện của vui buồn, gian nan huy hoàng, nguy khốn và phủ phê mà Phạm Duy được thưởng thức đều xảy ra trên đất nước Việt Nam, trên con đường Quốc Lộ số 1 xuyên Việt này. Con đường từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau, nơi nào cũng đều in dấu chân của ông. 

Hương linh của ông ở đâu đó hẳn là vui khi thấy tên mình luôn được đi cặp với tên “Việt Nam.”

Đọc hồi ký Phạm Duy là học sự lạc quan và yêu đời của ông. Học cách ông ứng phó với cuộc đời. Khi Cách Mạng Mùa Thu thành công, Trần Dần thốt lên “Không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ” thì ngược lại Phạm Duy tưng bừng với màu đỏ. Ông lại thấy nó giống như màu câu đối ngày Tết và cho đây là cơ hội để Hà Nội thay đổi sắc diện với sự kiện mới. Thế là Phạm Duy cho ra đời những bài “hoan ca” nói lên dùm tâm tình người dân thời bấy giờ. Ông còn là gương sáng cho những ai thường hay có tâm u sầu, hay rên rỉ khóc lóc bi ai thì hãy học ngay lấy cách suy nghĩ lạc quan này.

Cầm trên tay quyển “Hồi ký – Thời cách mạng kháng chiến,” tôi nghĩ Phạm Duy phải có nhiều hồi ký lắm, chứ đâu có một. 

Quả đúng vậy, tra trong PhamDuy.com có tất cả bốn tập hồi ký: 1) Thời thơ ấu – Vào đời, 2) Thời cách mạng kháng chiến, 3) Thời phân chia quốc cộng, 4) Thời hải ngoại.

Ông hoạt bát và sôi nổi trên sân khấu như thế nào thì trong văn chương “hồi ký” của ông cũng hấp dẫn như thế đó. Đọc ông là thấy một sự thành thực hay trung thực. Ông yêu ai là nói yêu, ghét ai là thấy liền sự “không ưa.” Ông nói thật ra cái sự thật hiển nhiên có trong cõi đời, như chuyện đau răng trong thời gian tiêu thổ kháng chiến.

Các nhà thơ nhà văn chỉ viết văn chương làm thơ nào có ai đá động gì đến chuyện răng cỏ rất đời thường này. Thời ấy làm gì có nha sĩ chữa răng đau! Đó là chuyện không tưởng và là một xa xỉ phẩm. Nhổ bỏ răng đau là liệu pháp duy nhất. Bằng dụng cụ gì? Bằng kềm chữa xe ạ. Kinh khủng chưa?

Một đời sáng tác

Đọc Phạm Duy để còn thấy, Phạm Duy một thời tung hoành dọc ngang chiến khu Việt Bắc, Thanh Hóa, miền Trung, vào đến Sài Gòn, miền Tây Nam Bộ rồi lại đi ngược ra Bắc. Thời gian này ông sáng tác nhiều ca khúc lắm. Có nhạc phẩm ông viết để đánh dấu cuộc tình vụt đến vụt đi với vài cô vũ nữ. Cô gái ở Cốc Lếu, biên giới Việt – Trung đã được ông viết tặng bài Bên Cầu Biên Giới. Để cổ xúy lòng yêu nước của toàn dân toàn quân thì ông sáng tác bài Chiến Sĩ Vô Danh. Bài Xuất Quân với tiết điệu rất hào hùng dùng để bơm khí thế cho quân lính xông pha ngoài chiến trường.

Thành công nhất của Phạm Duy là mang âm hưởng dân ca vào tân nhạc được gọi là “dân ca cải cách.” Ông cho là phải như thế thì mới mang được âm nhạc và lời nhạc đi vào lòng người dân quê được.
Bà Mẹ Gio Linh…”
Quả đúng vậy, những bài “Nhớ người thương binh,” “Bà mẹ quê,” “đã đi thẳng vào tâm khảm của nông dân, công nhân và mọi người ở mọi tầng lớp. Càng đi nhiều ông sáng tác càng hăng và càng phong phú. Ở bất cứ nơi đâu, núi đồi hay sông biển, đồng bằng với lúa xanh hay lúa chín vàng, trăng, hoa, mưa, gió, tất cả đều trở thành nguồn hứng cho ông tuôn trào thành lời ca và nốt nhạc.

Tài phổ thơ của Phạm Duy thì không ai sánh bằng. Ông cảm nhận rất chính xác ý thơ, âm vận bài thơ để rồi lùa nốt nhạc vào nó, cho thơ và nhạc hòa quyện với nhau. Thơ vốn có âm vận và làn điệu, thế nhưng khi thơ phối hợp với nhạc thì nó được chấp cánh, nó bay xa hơn và giúp người nghe dễ thuộc hơn. Chúng ta đếm không xuể những bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc. Đọc quyển hồi ký số hai này, chúng ta thấy Hoàng Cầm, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Quang Dũng, Lưu Trọng Lư, Hữu Loan, Đoàn Phú Tứ… đã giao phó thơ của mình cho Phạm Duy phổ.

Tinh thần lạc quan của Phạm Duy quả là không ai bằng.

Câu chuyện kể: Đoàn người vai ba lô túi dzếch, sau bao nhiêu ngày đường lội suối vượt đèo ở khu Việt Bắc đèo heo hút gió, ráng chiều đổ nhanh xuống vùng núi cao, cộng thêm mệt mỏi và bụng lép kẹp, thì may thay gặp được một người đi ngược chiều và bảo chỉ còn một dốc núi nữa là đến phiên chợ quê. Chợ chiều hiu quạnh! Thế mà mọi người vui hơn Tết, hơn cả cách mạng thành công, vì đang mơ tưởng đến lúc được bỏ bụng một bữa ăn trả thù. Thì… đến nơi, chợ chỉ có ba gian: một gian bán thịt ôi, một gian bán nào là kẹo vừng, kẹo lam, kẹo lạc, cà phê, sữa đặc… và một hàng quán, có bà chủ trẻ cùng với một con thơ. Mọi người đặt thức ăn và thời gian chờ bà chủ nổi lửa, thế là bốn chàng nghệ sĩ Văn Chung, Phạm Duy, Trúc Lâm, Hoàng Cầm đã tức khí sinh thơ:

“Mệt mỏi mà mơ mộng mỹ miều           Văn Chung
Ấy ai âu yếm ỡm ờ yêu               Phạm Duy
Chung chăn chung chiếu chung chè chén Trúc Lâm
Cháu trẻ chờ cha chốn chợ chiều…”           Hoàng cầm

“Bài thơ được phổ nhạc ngay tức thì và hát trước sự chứng kiến bà chủ quán.” 

Không biết bà chủ quán đủ tinh ý để hiểu hết lời mấy “ông thần” này không nhỉ? Và bà có nhận ra tính lạc quan yêu đời của đoàn quân chống thực dân này chăng?

-Câu hỏi “Có bao giờ vì gian lao khổ cực mà Phạm Duy sinh nản chí không?”

… Thì Phạm Duy tâm sự rằng: Núi rừng Việt Bắc đường đi khó vậy mà không khốn khổ bằng đường Trường Sơn. Từ Hà Tĩnh đi vào bộ tư lệnh phân khu đóng ở mật khu Ba Lòng, đoàn quân đi có khi lấn qua địa phận Ai Lao, vượt qua những khu rừng rậm rạp và ẩm ướt, thiếu ánh nắng mặt trời, cho đến khi ra đến bìa rừng, bừng sáng và chợt thấy “biển Đông xanh xanh bao la vời vợi” ở phía dưới xa xa.

Đứng từ đỉnh núi cao nhất dãy Trường Sơn nhìn ra đại dương Thái Bình thì Phạm Duy thốt ra “đất liền Âu Á cũng không xa gì.” Vì trong mắt Ông có đủ cả chiều cao của núi, chiều rộng của biển nối liền Á châu và Mỹ châu. Máu “Viễn du,” đã có sẵn trong huyết mạch của ông, lại rạt rào cuộn sóng khiến ông quên hẳn đoạn đường vất vả vừa qua!

Linh khứu của một nghệ sĩ thứ thiệt cần phải nhạy bén để thu nhận và nắm bắt mọi hiện tượng xung quanh làm chất liệu cho sáng tác. Phạm Duy là một người có phẩm chất đó. Ông cảm nhận rất nhanh với tất cả mọi thứ trên trần đời, cái đẹp, cái xấu, cái tốt, cái gian dối để sáng tác. Thế là ông nhận ra ngay sự lợi dụng của lũ người làm chính trị dưới tên gọi là Việt Minh. Người dân bình thường có thể chưa cảm thấy được thì Phạm Duy đã nhận ra ngay ý đồ đen tối của chính quyền kháng chiến, của những tên cố vấn Trung Hoa cộng sản. Chúng lợi dụng tinh thần “ra đường” và “ra đi” của người dân Việt để mang chủ nghĩa cộng sản tràn vào Việt Nam. Dân chúng chưa nhận thấy, thế nhưng Phạm Duy nhận ra được ngay và có một quyết định “rinh tê.”

Còn thêm nữa, các tác phẩm của Phạm Duy bị chính quyền cách mạng dòm ngó và phê bình vì “ít” mang tính chiến đấu. Những bài “dân ca mới” với làn hơi ngũ cung phát triển của Ông bị đưa lên bàn mổ. Bài “Nhớ người thương binh,” “Mùa Đông binh sĩ,” “Ru con,” “Nhớ người ra đi” bị cán bộ tuyên huấn tẩy chay. Và cao trào nhất là bắt chính ông phải khai tử bài “Bên cầu biên giới” thì mới được vào đảng. Tức nước vỡ bờ, Ông bèn quyết định “rinh tê.” Ông cùng gia đình bên vợ về thành, không màng gì đến chức đảng viên mà các cán bộ rêu rao nhấm thèm.

Bọn cán bộ cộng sản quả thật không hiểu Phạm Duy là ai!

Tâm không ràng buộc

Phạm Duy là đồng nghĩa với sự phóng khoáng và tự tin trong mọi quyết định. Ông quyết định thoát ly gia đình để giang hồ đây đó với gánh hát Đức Huy – Charlot Miều, năm 1943. Cuốn theo con đường Cái Quan lần thứ nhất. Ông thỏa chí tính “tang bồng hồ thỉ,” duy chỉ một điều “nỗi nhớ mẹ già” thỉnh thoảng lại nổi lên ray rứt ông. Thế là ông quyết định bỏ lại tất cả để về thăm mẹ một ngày cho thỏa lòng. 

Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, Phạm Duy chịu nhiều ảnh hưởng từ nhà văn Nguyễn Tuân. Ông yêu quý Nguyễn Tuân và giữ nó ở ngăn thứ nhất của trái tim. Cả hai cùng thích những cuộc tình chóng vánh, thích phiêu lưu, hòa lẫn cuộc đời vào văn chương. Do vậy ông sống hết mình và rất chân thật với tình cảm sôi nổi của mình. Kết quả, con số người tình của cả cuộc đời ông nhiều hơn cả số ngón tay ngón chân cộng lại. Ông không ngại ngùng gì mà không viết lại cho độc giả đọc “cái tôi” là thế đó trong bốn quyển hồi ký.

Hoàng Cầm, Quang Dũng và Nguyễn Đức Quỳnh chia nhau hai ngăn khác trong tim Phạm Duy, do vì tác phẩm và nhân cách sống của bốn ông khá giống nhau. “Lá diêu bông,” “Qua vườn ổi,” “Cỗ bài tam cúc,” “Đạp lùi tinh tú” của Hoàng Cầm đã được Phạm Duy chọn và phổ nhạc. Phạm Duy có biệt tài nương thơ mà cho ra câu nhạc. Do vậy các bài thơ được ông phổ phần lớn giữ được tính toàn vẹn, nếu chỉnh sửa thì chỉ đôi chút mà thôi. Phải chăng đã nhờ vào tính phóng khoáng trời phú cho ông?

Phần còn lại của ngăn tim thứ bốn, Ông dành cho người vợ yêu quý duy nhất đời của mình, Thái Hằng.

Để bước vào được trái tim của nàng, ông đã phải ròng rã nhiều tháng trời mới đẩy lùi được hình bóng vị hôn phu đã chết ra khỏi tâm khảm của nàng. Phải mất đến sáu tháng Phạm Duy mới thành công, đẩy lùi được bóng ma ám khí thì bài nhạc “Đêm Xuân” được ra đời. “Đêm qua say tiếng đàn. Đôi chim uyên tới giường, chim báo tin Xuân đã về trong giấc mộng…”, rồi đến bài “Chú Cuội”:  ta yêu cô Hằng. Đêm xưa xuống trần… đều được sáng tác ở Chợ Neo. Kết quả là một đám hỏi diễn ra rất đơn, chỉ có bố mẹ bên cô dâu chứng kiến cho đôi trẻ.

Đám cưới không được tổ chức ngay vì Phạm Duy muốn tự thử thách tình yêu của chính mình và cả nơi “đằng ấy” là Thái Hằng. Ông phục vụ chiến trường Bình – Trị – Thiên sáu tháng sau mới về và mới làm lễ cưới. Hình ảnh ngày cưới của đôi vợ chồng trong bài thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan là hình ảnh Phạm Duy và Thái Hằng lúc bấy giờ.

Cặp đôi Phạm Duy – Thái Hằng từ khi có nhau cho đến khi thành đôi uyên ương thì họ sống bằng triết lý “Không bị làm nô lệ cho cái đồng hồ” và “Cuộc chiến cũng không trói tay” được họ. Một giai thoại không mấy thi vị lắm khi một tên cách mạng nửa mùa muốn dạy dỗ Phạm Duy, liền bị “Ê mày, nghe đây! Tao không phải là ‘duy tâm’ và cũng chẳng bao giờ là ‘duy vật’ cả! Tao là ‘Duy Cẩn’, Phạm Duy Cẩn. Hiểu không?”

Phạm Duy là thế đấy. Đố ai giữ được làn mây trong nắm tay? 

Phù thủy âm nhạc

Những người miền Nam Việt Nam chúng tôi trước 1975, hãnh diện vì được sống cùng thời với Phạm Duy. Chúng tôi cùng hít thở chung bầu không khí tự do để cùng đón chào sự ra đời ngàn tác phẩm (1000) của Ông. Phạm Duy là một hiện tượng mà trời đất hun đúc cho dân tộc Việt Nam. Ông xuất hiện để làm cho nền âm nhạc Việt Nam có sắc thái thuần Việt. Ông dùng làn điệu dân ca, chèo, ca trù, hát nói… làm chất liệu và cải biên chúng thành tân nhạc. 

Người dân Việt ngày nay, từ trong nước ra hải ngoại, ca hát nhạc Phạm Duy đến nay đã gần một thế kỷ, nay vẫn còn say sưa hát. Bởi vì 1000 bản nhạc ông sáng tác là bao trùm cả Xuân Hạ Thu Đông, cho toàn thể già trẻ lớn bé, trai gái, dân quê thành thị, lính tráng, thương bệnh binh, mẹ già, người lính tử trận, vợ góa con thơ. Hoàn cảnh nào, tình cảnh nào cũng đều được ông ghi nhận vào tâm và để tuôn trào thành nhạc phẩm. 

Câu hỏi “Chừng nào Việt Nam mới có một hiện tượng Phạm Duy” lần thứ hai?

Câu trả lời “Không biết!”

Nhưng điều rõ ràng và cần thiết để cho ra một nhân tài như Phạm Duy là hai chữ “tự do.” Nếu thiếu yếu tố “tự do” là Việt Nam không thể có Phạm Duy!

Doãn Cẩm Liên

Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/doan-cam-lien/
________________

Chị Bảy xóm tui

Ở chợ xóm tui, ai cũng biết chị Bảy. Chị bán rau, nhưng món chính của sạp không phải rau muống, rau răm, hay cải ngọt. Món chính là… chuyện, không thật ra là những lời tự khen của chị.

Sáng nào vừa bày hàng, chị cũng kể:

“Hồi trẻ, tui đi tới đâu mấy ông cũng quay lại nhìn, có ông quay mạnh quá suýt té xe đạp.”

Cô Sáu bán cá nghe riết quen tai, chỉ cười:

“Vậy sao chị không làm hoa hậu?”

Chị Bảy phẩy tay:

“Ồ! Có được mời chớ! Nhưng tui từ chối. Tui sợ đăng quang rồi mấy cô khác buồn, mất hòa khí hết trơn.”

Một hôm, trong xóm có đám giỗ. Chị Bảy bưng tới một nồi canh chua, vừa đặt xuống đã nói:

“Canh chua này là món tủ của tui đó nghe. Hồi trước nhà có khách, ai ăn cũng khen.”

Mấy bà trong bếp nhìn nhau. Ai cũng biết chị Bảy siêng thì có siêng, nhưng nêm nếm thì lúc mặn lúc lạt, khi chua quá, khi ngọt như chè.

Tới bữa ăn, ông Tư múc một chén, húp thử rồi khựng lại. Chị Bảy hỏi liền:

“Sao? Ngon quá phải không?”

Ông Tư đặt chén xuống, cười hiền:

“Ngon hay không thì chưa biết, nhưng món này đặc biệt lắm.”

Chị Bảy hớn hở:

“Đặc biệt chỗ nào?”

Ông Tư nói:

“Ăn vô là tỉnh ngủ liền. Còn tỉnh hơn uống cà phê đen.”

Vậy mà chị Bảy hổng hiểu gì, vẫn cười tít mắt…

Cho đến khi có người thì thào với nhau ” ổng tỉnh vì nghĩ hoài mà hông ra cách nói sao cho bả khỏi buồn đây.”

You may also like

Verified by MonsterInsights