PHƯƠNG ANH
… xếp tàn y lại để dành hương
Đó là hai câu thơ tôi rất thích, ngay khi được cô giáo dạy Văn nhắc đến hồi trước năm 1975. Lúc ấy tôi đang học lớp Tám trường Gia Long, hình như hôm ấy cô đang nói về phong trào thơ Nôm.
Tôi vẫn nhớ những lời cô giảng, rằng thơ nôm ra đời như một cách để người Việt chứng minh rằng chúng ta không nhất thiết phải dùng tiếng Hán để sáng tác văn học như thói quen đã bị áp đặt từ thời ngàn năm Bắc thuộc. Rằng tiếng Việt của chúng ta đã có đủ từ vựng phong phú để không chỉ nói về những chuyện thường ngày, “nôm na mách qué,” mà hoàn toàn có thể diễn đạt một cách trang nhã mọi cung bậc cảm xúc của con người.
Cô đọc hai câu thơ đó lên, kèm vài lời giải thích.
Thực ra, bài giảng của cô hôm ấy tôi chỉ nghe lơ mơ, nên cũng chẳng biết tác giả của hai câu thơ ấy là ai, nằm trong bài thơ nào. Mãi sau này tôi mới biết đó là hai câu trong bài thơ “Khóc Bằng Phi” mà người ta thường gán cho vua Tự Đức, kèm giai thoại thi vị rằng bài thơ này được nhà vua làm để tưởng nhớ một cung phi được vua yêu quý nhưng vắn số và qua đời khi còn rất trẻ. Một bài thơ khá nổi tiếng, nhưng cũng có nghi vấn về việc liệu bài thơ đó có đúng là của vua Tự Đức hay không.
Nhưng ai là tác giả thì đối với tôi hoàn toàn không quan trọng. Điều quan trọng là hai câu thơ ấy tôi nghe một lần, và nhớ mãi. Chỉ một lần thoáng nghe mà đã in trong ký ức của tôi đến tận bây giờ – trải qua hơn nửa thế kỷ với biết bao biến động của thời cuộc…
Ký ức của con người thật lạ. Có những điều người ta rất cần, chẳng hạn như đối với tôi là cặp mắt kiếng, cứ gỡ xuống khỏi mắt là không thể nhớ đã để ở chỗ nào, cả ngày cứ đi quanh đi quẩn để tìm mắt kiếng. Nhưng hai câu thơ nghe lơ mơ trong một buổi học cách đây đến vài chục năm, chẳng bao giờ nghĩ rằng mình cần dùng đến, đã chìm sâu trong ký ức, vậy mà chỉ cần có dịp là nó ngay lập tức tỉnh dậy, thật sẵn sàng và tươi tắn.
Dịp ấy, hôm nay đã đến. Chẳng là tôi đang soạn bài giảng về phương pháp giảng dạy ngoại ngữ dành cho người lớn — adult learners trong tiếng Anh ấy mà.
Ai có đi dạy, hoặc đã từng trở lại trường lớp sau khi đã đi làm nhiều năm, chắc chắn hiểu rõ sự khác biệt trong cách học của họ so với những thanh thiếu niên còn trong độ tuổi đi học (khoảng từ 5-6 tuổi đến cỡ ngoài 20 gì đó). Sự khác biệt này khiến các nhà giáo dục phải tìm hiểu và thay đổi cách dạy cho hiệu quả, chứ không thể dùng theo cùng một cách cho mọi đối tượng được.
Và thế là người ta đã tạo ra một từ tiếng Anh mới là androgogy để phân biệt với từ phổ biến hơn rất nhiều là pedagogy mà ta vẫn dịch là sư phạm học. Ai thích “chiết tự” tiếng Anh sẽ thấy hai từ này đều có chứa -gogy, là gốc từ Hy Lạp có nghĩa là “dẫn dắt.” Còn ped- trong pedagogy có nghĩa là trẻ em, như trong từ pediatrics (nhi khoa). Và andr- trong andragogy thì có nghĩa là người trưởng thành. Thật ra ta vẫn gặp gốc từ này đâu đó trong đời sống hằng ngày mà không để ý. Chẳng hạn như Android, chính là con robot có hình người đấy.
Nói ngắn gọn, dù ngày nay người ta đã mở rộng nghĩa của từ pedagogy để chỉ toàn bộ ngành sư phạm, nhưng ban đầu nó có nghĩa chính xác là phương pháp dạy học dành cho người trẻ, Vấn đề là tôi cần có một từ tương đương bằng tiếng Việt để dịch từ androgogy như một thuật ngữ, chứ không muốn dùng nguyên thuật ngữ tiếng Anh rồi thêm phần giải thích dài dòng như tôi đang viết nãy giờ. Là người yêu tiếng Việt, tôi không muốn bài giảng của mình thỉnh thoảng lại chen vào những từ tiếng Anh lởm chởm như thế.
Khổ nỗi, trong tiếng Việt hình như chưa có ai dịch từ androgogy này ra gọn gàng như một thuật ngữ cả.
Tất nhiên việc dịch ra tiếng Việt thì đã có nhiều rồi. Tôi lên google để tìm và thấy vô số cách dịch, đa số sử dụng từ “giáo dục” hoặc “sư phạm” kèm thêm cái đuôi “dành cho người lớn” hoặc “(dành) cho người trưởng thành.” Ví dụ, “phương pháp giáo dục cho người trưởng thành” hay “lý thuyết học tập dành cho người lớn.”
Thậm chí có một nơi gọi nó là “lý thuyết học tập người lớn” (!) – người dịch bỏ hai từ “dành cho” hẳn là để cho gọn, nhưng “học tập người lớn” thì nghe không ổn lắm. Còn những cách dịch khác thì không sai, nhưng dài quá, giống một lời giải thích hơn là một thuật ngữ.
Tôi cứ ngồi nghĩ mãi, nghĩ mãi. Rồi chẳng hiểu sao trong đầu tôi bỗng bật ra một cụm từ tôi nghe hoặc đọc đâu đó trước năm 1975.
“Giáo dục tráng niên.”
Tôi gần như bật dậy ngay lập tức. Nó đây rồi, “tráng niên”. Đó chính là từ có thể dùng để dịch androgogy. Hóa ra trước đây người ta đã từng tạo ra một thuật ngữ gọn gàng và đẹp đẽ như thế.
Nhưng để chắc ăn (thói quen nghề nghiệp của một bà giáo hơn 40 năm dạy học), tôi vẫn cứ phải lên google tìm lại xem trí nhớ của tôi có phản bội tôi không. Và, eureka, tôi đã tìm thấy!
Vâng, trên google book có hẳn một cuốn sách có tựa là “Giáo dục tráng niên” do Bộ Quốc gia Giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa xuất bản từ năm 1959. Sách dài 182 trang, và nằm trong bộ sưu tập các sách dịch của UNESCO, nguyên bản có thể tìm thấy ở Đại học Wisconsin – Madison, và đã được số hóa vào năm 2017.

“Giáo-dục tráng- niên. Bộ Quốc-gia Giáo-dục.” Bạn đã nhìn kỹ chưa?
Nếu bạn vẫn chưa nhận ra, thì xin được gợi ý: Hãy nhìn những dấu gạch nối giữa các từ kép giáo-dục, tráng-niên, quốc-gia, giáo-dục.
Vâng, đó là cách viết đúng chính tả mà tôi đã rất quen một thời. Lúc ấy, tên tôi là Vũ Thị Phương Anh sẽ được viết đúng chính tả là Vũ thị Phương-Anh. Chữ “thị” không viết hoa vì nó không có nghĩa gì ngoài việc biểu thị tôi là phụ nữ. Phương-Anh là một tên kép cho nên giữa hai từ phải có gạch nối hẳn hoi.
Ôi…. cả một trời thương nhớ!
“Ơ nhưng tất cả những thứ linh tinh vụn vặt này, liệu có liên quan gì đến hai câu thơ mở đầu bài viết này chứ?” Tôi nghe như có độc giả đang hỏi vặn tôi như thế.
À, thế mà có liên quan đấy. Bạn không thấy tôi đang làm đúng cái việc mà câu thơ đã tả đó sao?
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng…
Đã có một thời giới học thuật Việt Nam sử dụng thành thạo từ Hán Việt để tạo thuật ngữ. Cũng như trong tiếng Anh người ta dùng từ gốc Latin hoặc Hy Lạp để tạo thuật ngữ đó thôi. Thì pedagogy, andragogy chẳng phải từ gốc Hy Lạp là gì?
Và trong tiếng Việt, chẳng phải từ sư phạm (viết theo chính tả ngày xưa thì phải là sư-phạm) chính là từ Hán Việt đó sao? Âm Việt nhưng gốc Hán.
Vậy thì dễ quá rồi. Pedagogy dịch là sư phạm, hoặc nếu muốn thật chính xác thì là “sư phạm thanh thiếu niên.” Còn Andragogy thì đương nhiên sẽ dịch là “sư phạm tráng niên.” Thật gọn gàng, sáng rõ.
Mà đẹp nữa. Từ “tráng niên” không chỉ có nghĩa là người lớn. Chữ “tráng” trong Hán Việt mang nghĩa cường tráng, sung sức, đang ở độ chín của đời người. Như trong từ “tráng sĩ”. Khi nghe “giáo dục tráng niên,” tự nhiên người ta thấy việc học không còn là chuyện của trẻ con nữa mà là chuyện của những con người đang sống giữa đời, đang làm việc, đang gánh vác, đang yêu thương, đang thất vọng, đang đi qua đủ thứ vui buồn của kiếp người mà vẫn tiếp tục học.
Nhưng kỳ lạ là suốt hơn bốn mươi năm đi dạy của mình, từ năm 1983 đến nay, tôi hầu như chưa từng nghe ai dùng từ “tráng niên” ấy cả. Có thể nó vẫn tồn tại đâu đó trong vài tài liệu cũ. Nhưng trong đời sống học thuật hôm nay, nó đã gần như biến mất.
Và tôi bỗng thấy tiếc vô cùng.
Tất nhiên, phải khẳng định rằng không phải cái gì cũ cũng hay. Nhiều từ Hán Việt ngày xưa đúng là nghe cầu kỳ và đôi khi xa lạ, thậm chí bí hiểm, vì chúng xa rời đời sống thật. Vả lại, mỗi thời mỗi khác. Ngôn ngữ nào rồi cũng phải thay đổi. Sẽ có những từ mới, cách nói mới được thêm vào và những từ cũ, cách nói cũ sẽ biến mất.
Nhưng trong quá trình thay đổi ấy, một số vẻ đẹp của ngôn ngữ bị mất đi.
Từ ngữ không chỉ gọi tên sự vật. Chúng còn mang theo một cách nghĩ.
“Giáo dục [dành cho] người trưởng thành” nghe thì đúng và rõ. Nhưng “giáo dục tráng niên” đối với tôi nghe vẫn có hồn hơn. Nó làm ta hình dung con người đang ở độ sung sức nhất của đời sống vẫn tiếp tục học hỏi. Nó mang khẩu khí của một thời người ta nhìn chuyện học như một hành trình suốt đời chứ không phải chỉ là chuyện đi thi lấy bằng.
Rồi tôi nhận ra vì sao những cách nói như thế lại biến mất. Tôi nhớ tới một thời người ta ra sức bình dân hóa tiếng Việt, cố gắng loại bỏ lớp từ Hán Việt để ngôn ngữ trở nên dễ hiểu với những người bình dân. Và cũng sợ mất gốc dân tộc Việt nữa.
Tôi cũng nhớ thời cuối thập niên 1970 và đầu những năm 1980, lúc ấy tôi đang là sinh viên trường Văn Khoa cũ (được đổi tên thành Đại học Tổng hợp từ năm 1976), đã có nhiều cuộc tranh luận về tiếng Việt như thế.
Dù thời ấy người ta rất nhấn mạnh chủ trương dùng từ thuần Việt để ngôn ngữ được trong sáng, vẫn có những nhà ngôn ngữ học lên tiếng bênh vực sự cần thiết của lớp từ Hán Việt. Chúng không phải là vật ngoại lai, mà đã được cha ông chúng ta dùng suốt hàng trăm năm, đã trở thành một phần hữu cơ trong tư duy và cảm xúc Việt Nam rồi.
Và chúng không dư thừa ngay cả khi đã có từ thuần Việt với nghĩa tương đương. Chúng có công dụng khác mà từ thuần Việt không thay thế nổi. Như trong ví dụ nổi tiếng sau:
“Xạ thủ thấp bắn cao; xạ thủ cao bắn thấp”.
Xạ thủ là từ Hán Việt, hoàn toàn có thể thay bằng “người bắn,” Nếu bỏ từ “xạ thủ” để dùng người bắn, thì câu ở trên sẽ trở thành: “người bắn cao bắn thấp, người bắn thấp bắn cao!!!”
Chỉ nghe thôi đã thấy không ổn rồi. Câu văn gì mà rối rắm. Người bắn cao, là anh ta bắn lên cao, hay là chính anh ta cao?
Nếu ta dùng cụm từ “xạ thủ cao,” mọi người sẽ hiểu ngay cao ở đây là tính từ để mô tả người bắn, chứ cao không phải là trạng từ để bổ nghĩa cho động từ bắn.
Thế mới thấy từ Hán Việt có cái hay của nó, và rõ ràng nó có vai trò riêng biệt không thể thay thế trong tiếng Việt chứ không phải cứ muốn dùng từ thuần Việt là dùng đâu.
Rồi tôi lại nhớ tới một thời người ta phiên âm tên nước ngoài qua Hán tự và đọc theo âm Hán Việt. San Francisco thành Cựu Kim Sơn. Washington thành Hoa Thịnh Đốn. New York thành Hoa Lệ Ước.
Dĩ nhiên bây giờ chẳng ai muốn quay lại cách gọi ấy nữa. Mỗi thời có một cách nói của thời mình. Nếu hôm nay tôi cứ khăng khăng gọi Washington là Hoa Thịnh Đốn hẳn mọi người sẽ nghĩ là tôi học nhiều quá, đến mất trí rồi.
Mà suy cho cùng thì sự thay đổi hiện nay là hợp lý. Giữ nguyên âm gốc hoặc sử dụng tên tiếng Anh – một ngôn ngữ quốc tế thực sự — giúp giao tiếp thuận tiện hơn, chính xác hơn. Không thể cứ ôm mãi những tên gọi cũ rồi bắt cả thế giới phải chậm lại để hoài cổ cùng mình được.
Nhưng thử nghĩ mà xem, những cái tên Hán Việt ấy đẹp vô cùng. “Cựu Kim Sơn” đọc lên nghe có núi non hùng vĩ, lại như có cả cơn sốt vàng và những chuyến tàu vượt biển. “Hoa Thịnh Đốn” chỉ đọc lên thôi là có thể mường tượng ra một nơi vừa đẹp đẽ vừa phồn thịnh.
Nói gì thì nói, chúng ta vẫn sống trong một vùng chịu ảnh hưởng rất sâu của văn hóa Hán. Mà chữ Hán thì trước hết là một loại văn tự biểu ý (ideographic). Vì vậy trong cảm thức ngôn ngữ của người Việt ngày xưa, tên gọi không chỉ là âm thanh dùng để chỉ một người hay một địa danh. Nó còn mang theo một ý nghĩa nào đó. Cho nên khi phiên âm tên nước ngoài qua Hán tự, người ta không chỉ cố bắt chước âm đọc mà còn cố chọn những chữ có nghĩa đẹp.
Nghe vừa lạ vừa có hồn.
Tất nhiên, điều đó có lẽ cũng chỉ đúng đối với tôi thôi. Còn người trẻ của thời nay thì phải nói theo cách của ngày nay. Và nói gì thì nói, những cải cách trong ngôn ngữ Việt đã giúp chúng ta có được một ngôn ngữ chính xác hơn, đơn giản hơn, và hiệu quả hơn.
Nhưng cùng với những đổi thay, người ta bao giờ cũng đánh mất đi một chút gì đó của quá khứ.
Để rồi đến một lúc nào đó, tình cờ gặp lại một chữ như “tráng niên,” hay nghe ai đó nhắc đến việc Cao Bá Quát đã từng đi sứ ở “Tân Gia Ba,” ta bỗng nghe phảng phất chút hương xưa từ trong ký ức thoảng về.
Để nhớ thương những chữ nghĩa đã từng sống rất đẹp trong tiếng Việt mà giờ đây đang lặng lẽ phai đi như chút hương trên một mảnh tàn y cũ.
Mà có lẽ bây giờ cũng chẳng còn mấy ai quan tâm đến những chữ nghĩa cũ ấy nữa.
Chỉ những người có chút hoài cổ như tôi mới lâu lâu lại ngồi phủi đi những lớp bụi thời gian, nhặt nhạnh vài kỷ vật rồi sắp xếp chúng lại trong ký ức, mong còn giữ được chút dư hương của một thời.
Thời đã mãi xa… /-
Phương Anh
24/5/2026
Nguồn
https://books.google.com.vn/books/about/Gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c_tr%C3%A1ng_ni%C3%AAn.html?id=Id65sqf0yykC&redir_esc=y

