CHU TẤT TIẾN
Lịch sử khởi thủy của Bắc Triều Tiên bắt đầu từ sự kết thúc của thế chiến thứ Hai. Từ năm 1910, Nhật Bản xâm lăng và chiếm đóng Triều Tiên, buộc Hoàng Đế Triều Tiên thoái vị. Từ đó, Triều Tiên trở thành lệ thuộc Nhật.
Sau khi thế chiến thứ Hai chấm dứt, Nhật Bản rút lui thì Triều Tiên bị chia làm hai miền, cắt đôi bởi đường vĩ tuyến 38 (38th parallel), với Liên Xô chiếm miền Bắc, và Hoa Kỳ chiếm miền Nam. Cả hai cường quốc đều không muốn nối lại hai miền. Đến năm 1948, hai cường quốc Nga và Mỹ chính thức thiết lập hai chính phủ độc lập: Miền Bắc Triều Tiên dưới sự bảo trợ của Liên Xô thành lập Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên ( Democratic People’s Republic of Korea). Miền Nam được bảo trợ bởi Hoa Kỳ, thành lập Cộng Hòa Triều Tiên (Republic of Korea). Cả hai miền đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của Triều Tiên. (1)
Năm 1950, Bắc Hàn (tên gọi cũ là Bắc Triều Tiên), được trang bị và cố vấn bởi Liên Xô, bất thần tấn công Nam Hàn (tên gọi cũ là Nam Triều Tiên) mong chiếm luôn miền Nam Triều Tiên để thống nhất hai miền.
Ngay lập tức, Liên Hiệp Quốc, với Hoa Kỳ đảm nhận lực lượng chính yếu, hỗ trợ Nam Hàn trong trận chiến này chống lại Bắc Hàn với vũ khí và trang bị của Liên Xô, tưởng rằng sẽ áp đảo quân đội Bắc Hàn trong thời gian ngắn, nhưng một yếu tố bất ngờ khiến quân Nam Hàn với sự tham dự trực tiếp của Hoa Kỳ và đồng minh đã khựng lại, suýt nữa thì mất luôn cả bán đảo Triều Tiên. Đó là sự hiện diện và chiến đấu hung hãn của quân đội Trung Cộng.
Nguyên nhân khiến Trung Cộng đột nhiên tham gia cuộc chiến: Cho dù Liên Xô là bảo trợ chính của Bắc Hàn ngay từ ngày đầu thành lập, nhưng khi quân Mỹ và Liên Hiệp Quốc đẩy lùi Bắc Hàn đến sát biên giới Trung Cộng, thì vì lý do an ninh biên giới, Trung Cộng không thể khoanh tay đứng nhìn. Lý do thứ hai là Trung Cộng nhận thấy Bắc Hàn theo chủ nghĩa Cộng Sản là vùng đệm lý tưởng chống lại chế độ Tự Do của phương Tây, nên phải bằng mọi cách giúp đỡ Bắc Hàn đứng vững. Thời kỳ đó, quan hệ giữa Liên Xô và Trung Cộng chưa rạn nứt, nên Liên Xô, ở xa không thể trực tiếp tham gia trận chiến, đã yêu cầu Trung Cộng tiếp tay, và hứa sẽ yểm trợ vũ khí, súng đạn và không quân cho Trung Cộng. Vì thế, Trung Cộng gửi hàng chục ngàn quân dưới danh nghĩa là Chí Nguyện Quân Trung Hoa đến bảo vệ Bắc Hàn. Từ đó, cuộc chiến xoay chiều với một bên là Hoa Kỳ và Liên hiệp Quốc, một bên là Trung Cộng và Bắc Hàn với vũ khí của Liên Xô. (2)
Năm 1953, sau 3 năm chiến tranh với hàng triệu nhân mạng bị hy sinh và hàng triệu thương tật, cả hai bên đồng ý ký hiệp ước hòa bình, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới. Nguyên nhân chính mà hai bên phải đồng ý chấm dứt chiến tranh, theo các nhà quan sát, thì như sau:
1-Không bên nào có thể tạo chiến thắng mà không phải hy sinh rất lớn về nhân mạng.
2-Thay đổi chính trị về phía Liên Xô: Joseph Stalin chết vào tháng 3, năm 1953, và lãnh đạo mới muốn giảm căng thẳng quốc tế và chấm dứt chiến tranh. (Sau khi Stalin chết, không có ai ngay lập tức có thể thay thế.)
3-Thay đổi chính trị về phía Hoa Kỳ: Tổng Thống Dwight D. Eisenhower được bầu vào tháng 1, 1953. Ông muốn thực hiện lời hứa là tìm cách chấm dứt chiến tranh.
4-Trung Cộng và Bắc Hàn thiệt hại lớn lao, kinh tế trì trệ, và thiệt hại nhân mạng vì những cuộc dội bom liên tục của Hoa Kỳ.
5-Cuối cùng là vấn đề Tù Binh chiến tranh: Cả hai phe đồng ý cho các tù binh chiến tranh được chọn lựa nơi trở về của họ mà không bị trả thù.
Khi cuộc chiến chấm dứt, Kim Il Sung tức Kim Nhật Thành, một người Cộng Sản độc tài, tiếp tục lãnh đạo Bắc Hàn cho đến khi ông ta chết vào năm 1994. Con trai của ông là Kim Jong Il tức Kim Chính Nhật, tiếp quản ngôi của Cha. Sau khi Kim Chính Nhật chết vào năm 2011, quyền lực vào tay Kim Jong Un, tức Kim Chính Ân, người hiện đang điều khiển đất nước này cho đến ngày nay. Theo các nhà quan sát chính trị, hiện này, em gái của Kim Jong Un là Kim Yo-jong tức Kim Dữ Chính, là người quyền lực cao nhất của Bắc Hàn, sau Kim Jong Un. Cô này là Cố Vấn của Kim Jong Un về rất nhiều vấn đề quan trọng, và cũng là Phát Ngôn Nhân chính thức của Kim Jong Un. Vì là Cố Vấn được đặc biệt tin cậy, Kim Yo-Jong cũng là người nắm giữ nhiều dữ liệu quan trọng liên quan đến vũ khí nguyên tử.
Sau 1953, vừa được an bình, Kim Nhật Thành đã đặt nền móng và chuẩn bị cho chương trình chế tạo Vũ Khí Nguyên Tử vì đã nhận thấy kết quả kinh hoàng của hai quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Nagasaki và Hiroshima. Kim Nhật Thành đã yêu cầu Liên Xô trợ giúp kỹ thuật để chế tạo vũ khí nguyên tử.

Ngay từ năm 1952, khi cuộc chiến Nam Bắc Triều Tiên chưa chấm dứt, Kim Nhật Thành đã cho thành lập cơ sở nghiên cứu về Năng Lượng Nguyên Tử, đồng thời cho lập bản đồ để khai thác Uranium tại ngay trên đất nước mình. Năm 1956, Bắc Hàn ký thỏa thuận tham gia Viện Nghiên Cứu về Nguyên Tử Lực của Liên xô tại Dubna. Từ đó, Bắc Hàn đã được huấn luyện về phương thức chế tạo vũ khí nguyên tử. Năm 1959, Bắc Hàn đã ký hiệp định sử dụng năng lượng hat nhân, trên danh nghĩa là Nguyên Tử phục vụ hòa Bình. Đến năm 1960, Liên Xô đã giúp Bắc hàn xây dựng Lò nghiên cứu phản ứng hạt nhân đầu tiên tại trung tâm Yongbyon. Trên danh nghĩa, Liên Xô đồng ý cố vấn và cung cấp kỹ thuật cho mục đích Nguyên Tử Phục Vụ Hòa Bình, nhưng thực tế, Bắc Hàn đã âm thầm chuyển hướng sang nghiên cứu chế tạo vũ khí nguyên tử cho chiến tranh. (2)
Khi biết là Bắc Hàn chuẩn bị vũ khí nguyên tử, một số các quốc gia lập tức “cấm vận” Bắc Hàn nhằm ngăn ngừa Bắc Hàn có vũ khí nguyên tử. Tuy nhiên, bất chấp cấm vận, bất chấp Liên hiệp Quốc cấm cản, cuộc thử nghiệm nguyên tử đầu tiên được thực hiện vào năm 2006. Từ đó, danh sách các quốc gia cấm vận Bắc Hàn tăng lên: Hoa Kỳ, Liên Âu, Liên Hiệp Quốc, Canada, Australia, Switzerland, Norway, India, Israel, Nam Hàn, Nhật Bản và một số quốc gia khác. (3)
Tuy nhiên, từ năm 1990, chính phủ Hoa Kỳ dưới chỉ đạo của Tổng Thống Clinton, đã muốn làm dịu căng thẳng với Bắc hàn, nên sau một thời gian trao đổi, liên lạc, hai nước đã ký một bản thỏa thuận (Agreed Framework) vào năm 1994 về vấn đề nguyên tử. Nhưng thỏa thuận này sớm chết yểu. Bắc Hàn rút lui khỏi “Nuclear Non-Proliferation Treaty” vào năm 2003, và liên tiếp cho thử hạt nhân vào các năm 2006, 2009, 2013, 2016, và 2017.
Bất chấp các cuộc phong tỏa, cấm vận, Bắc Hàn tiếp tục nhận được trợ giúp từ Trung Cộng về kinh tế và chính trị nên vẫn đủ khả năng tiếp tục duy trì việc nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất vũ khí nguyên tử. Theo một nguồn tin trên mạng, thì số lượng các quả bom nguyên tử mà Bắc Hàn đang sở hữu xê dịch từ 50 đến 70 quả bom nguyên tử; Bắc Hàn đã tích trữ số lượng Plutonium và Uranium làm giàu đủ để làm thêm 50 quả bom nữa. Lại có một nguồn tin khác, Bắc Hàn có khả năng chế tạo từ 70 đến 90 đầu đạn nguyên tử, cùng với các loại vũ khí hóa học, vũ khí sinh học khác. Trong những năm vừa qua, Bắc hàn đã tăng cường việc thử nghiệm các hỏa tiễn liên lục địa với tầm xa có thể phóng đến Hoa Kỳ, đồng thời tiến hành phát triển các tiềm thủy đỉnh có khả năng phóng “ballistic Missiles” (Hỏa Tiễn đạn đạo – bay theo quỹ đạo trái đất). Tổng kết các nguồn tin, Bắc Hàn có khoảng trên 353 Ballistic Missiles, 17 trong số này là Liên Lục Địa như Hwasong-17, 27 hỏa tiễn khác là tầm trung như Hwasong-12, và 319 là tầm ngắn, như Hwasong-11D. Tiềm thủy đỉnh có thể phóng Ballistic Missiles là Pukguksong-1 và Hwaong-115. (4)
Từ khi Kim Chính Ân lên cầm quyền lúc mới 27-29 tuổi, ông ta đã liên tục cho thử vũ khí nguyên tử. Bất cứ khi nào có tin Nam Hàn liên kết với Mỹ, Kim Chính Ân liền cho phóng một loạt hỏa tiễn đạn đạo ra biển Đông, về phía Nhật Bản để hù dọa Mỹ và thế giới. Không những cho thử bom nguyên tử, Kim Chính Ân còn cho thử cả bom Khinh Khí có sức công phá gấp nhiều lần hai quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima. Các hỏa tiễn Liên lục địa với nhiên liệu “rắn” có thể có khả năng phóng tới nhiều địa điểm của Hoa Kỳ.
Hiện nay, hỏa tiễn của Bắc Hàn được phóng từ một vị trí gần thủ đô Bình Nhưỡng đã đạt độ cao lên tới 7.687,5 km, bay khoảng 1.001,2 km trong thời gian 5.156 giây (gần 86 phút) trước khi rơi xuống khu vực được chỉ định (5) Hiện nay, Bắc Hàn vẫn hãnh diện tuyên bố là một Cường Quốc Nguyên Tử mặc dầu chỉ sở hữu từ 50 đến 90 đầu đạn nguyên tử (không có con số chính xác, vì Bắc Hàn là quốc gia đóng cửa chặt chẽ). Nếu so sánh với số vũ khí nguyên tử của các cường quốc nguyên tử khác, thì trên thế giới có khoảng hơn 12,000 đầu đạn hạt nhân. Nga sở hữu nhiều nhất rồi đến Mỹ và Trung Quốc, các nước Pháp, Anh, Pakistan, Ấn Độ và Israel sở hữu ít hơn.
Thực tế, con số các đầu đạn nguyên tử này cũng không nói lên được là nước nào sở hữu nhiều nhất là mạnh nhất, là tồn tại được lâu nhất, nếu một khi có trận chiến nguyên tử nổ ra. Vì chỉ cần một quả bom nguyên tử nổ ở một nước nào có sở hữu đầu đạn nguyên tử thì lập tức có sự trả đũa, và không cần đến một trăm quả, chỉ cần vài đầu đạn được phóng đi từ Phương Đông, là sẽ được đáp lễ bằng vài đầu đạn phóng từ Phương Tây, rồi Phương Nam, và Phương Bắc sẽ nổ ầm ầm, để rồi hầu như cả nhân loại đã bị tiêu diệt rồi, cần chi đến hàng ngàn quả bom nguyên tử? Còn ai sống sót mà bấm nốt hàng ngàn quả còn lại?
Chu Tất Tiến
Tháng Tám, 2026
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/chu-tat-tien/
Tham chiếu
(1) https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_North_Korea
(2)-https://www.britannica.com/event/Korean-War
(3) https://en.wikipedia.org/wiki/International_sanctions_against_North_Korea
(4) https://en.wikipedia.org/wiki/North_Korea_and_weapons_of_mass_destruction
(5)-https://www.24h.com.vn/tin-tuc-quoc-te/trieu-tien-phong-ten-lua-dan-dao-lien-luc-dia-toi-thuong-hwasong-19-co-the-vuon-toi-my-hdba-chuan-bi-hop-khan-c415a1615255.html

