ĐINH VĂN TUẤN
Thành ngữ “Của thiên trả địa” nói về việc của cải có được do may rủi, không do công sức mình làm ra, thường sẽ chóng mất và không nên quá tiếc nuối hay dùng để nói về sự được mất tự nhiên của những thứ vốn không thật sự thuộc về mình.
Tuy nhiên tại sao không nói của trời trả cho đất (từ Việt) lại nhất định là của thiên trả địa (từ Hán Việt)? Và tại sao của thiên (trời) không trả về cho thiên (trời) lại trả về cho địa (đất)? Xuất xứ thành ngữ này từ đâu?
Chúng tôi đã tìm ra giải đáp từ sách của Edmond Nordemann vào năm 1898, 廣集炎文 Quảng tập viêm văn (1), qua truyện cổ “Tích lời ví: “của thiên trả địa”
Ngày xưa có anh Thiên với anh Địa; hai người là láng giềng với nhau; cha mẹ cùng chết sớm; nhà thì nghèo cả. Anh Địa thấy anh Thiên học sáng lắm, mới bảo rằng: “Tôi đi làm thuê, để nuôi anh đi học; hễ làm nên thì nhớ tôi với”.
Đến khoa thi, anh Thiên được đỗ trạng nguyên. Anh Địa đang cày ruộng, nghe thấy tin, mừng lắm, đem trâu với cày về trả nhà chủ, lấy tiền công, đi mua đồ đến mừng; ai ngờ anh Thiên đã dặn quân canh cấm cửa không cho mình vào! Địa tủi thân, đem đồ mừng về, ngồi bên bờ sông, khóc.
Có một ông Phật hiện lên, cho chiếc đò, dặn rằng: “Mày cứ ở bên này; chở khách đi lại cũng đủ ăn; không phải đi làm đâu nữa.” Anh Địa nghe lời ông ấy, chở gần được một năm, chỉ đủ ăn, chẳng thừa đồng nào; sắp đến ngày giỗ cha, không biết lấy gì mà cúng; cố nhịn đói ba ngày ba bữa, đề dành tiền mua đồ cúng.
Chiều tối hôm thứ ba, chở khách sang bên kia rồi, trở về đến giữa sông, thấy có một người đàn bà, độ hai mươi tuổi, đứng trên bờ gọi: “Anh lái ơi! cho tôi sang với!” Anh Địa trở lại chở người ấy. Sang đến bên này, trời vừa tối, người ấy nói rằng: “Nhà tôi còn xa, anh cho tôi nghỉ nhờ đây.”Anh Địa chỉ có một cái túp (lều) với một cái chõng, nhường cho người ấy nằm, còn mình thì nằm dưới đất.
Đến nửa đêm, người ấy đánh thức anh Địa dậy, mới nói rằng: “Tôi xin kết duyên với anh làm vợ chồng” Anh Địa ngần ngừ, không biết nói thế nào. Nàng ấy lại nói rằng: “Tôi ở trên cung tiên, vì anh có nhân đức, nên Trời sai tôi xuống giúp anh.” Nói rồi, hoá phép ra, cửa nhà, của cải, nhiều lắm; lại có các nàng tiên làm cỗ để giỗ cha anh Địa. Đến sáng, anh Địa ăn mặc tử tế, đi mời anh Thiên lại nhà ăn giỗ; anh Thiên vểnh mặt lên bảo rằng: “Chú có chiếu hoa trải từ đây đến nhà chú, thì tôi mới đến.” Anh Địa về nói với vợ; nàng ấy lại hoá phép được chiếu trải như thế. Anh Thiên mới đến, uống rượu say, thấy vợ anh Địa đẹp lắm với của cải, cửa nhà linh đình, mới bảo rằng: “Chú đổi vợ chú với cơ nghiệp này cho tôi thì tôi nhường chức tôi với dinh cơ tôi cho chú.” Anh Địa nghe nói, vào bàn với vợ; nàng ấy dặn rằng: “Anh ấy muốn đổi thì cứ đổi.” Hai bên cùng làm tờ giao ngay, rồi anh Địa lên võng về dinh; còn anh Thiên, say mệt, nằm ngủ một giấc. Đến lúc trở dậy thì vợ với cơ nghiệp đã biến mất cả; từ đấy lại nghèo khổ hơn lúc trước; mà anh Địa từ đây được thông thái, làm quan, sung sướng mãi mãi.
Vì thế, phương ngôn có lời ví rằng: “Của thiên giả địa.”
Qua truyện này, xác định là có hai người, một tên là Thiên và một tên là Địa, anh Địa hy sinh làm thuê cực khổ để nuôi anh Thiên ăn học cho đến khi đỗ Trạng nguyên, vinh hoa phú quý nhưng nào ngờ khi anh Địa đến thăm nhà anh Thiên thì bị cấm cửa hắt hủi.
Sau này khi anh Địa nhân hậu được Phật giúp đỡ làm người lái đò và may phúc gặp tiên nữ phù trợ rồi nhận anh làm chồng và gây dựng cơ nghiệp giàu sang. Sau đó anh Thiên mới chịu ghé mắt đến nhưng vì lòng tham, háo sắc của anh Thiên nên mới đổi hết dinh thự chức quyền để lấy hết gia nghiệp và vợ của anh Địa nhưng cuối cùng tất cả đều tan thành mây khói, nghèo khổ còn hơn trước. Công danh sự nghiệp, dinh thự giàu sang của anh Thiên về sau đều thuộc về anh Địa.
Cuối truyện kết thúc với câu: “Vì thế phương ngôn có lời ví rằng: “Của thiên trả địa.” Vậy đúng ra thành ngữ phải viết chữ hoa tên của Thiên và Địa: “Của Thiên trả Địa.”
Ý nghĩa ban đầu của thành ngữ xuất xứ từ truyện cổ này có mục đích chính là răn dạy những hạng người vong ân bội nghĩa, tham phú phụ bần, thay lòng đổi dạ vì sớm hay muộn tất cả vinh hoa phú quý, chức quyền (không do mồ hôi công sức của mình)…rồi cũng tiêu tan, bị quả báo, trời phạt. Những điều tốt đẹp, hạnh phúc thật sự chỉ có ở những người sống chân thật, hiền lương, siêng năng, vị tha.
Sau này thành ngữ “Của Thiên trả Địa” được người đời biến đổi ý nghĩa như ngày nay: Của cải có được do may mắn, không do công sức mình làm ra, thì thường cũng chóng mất và không nên quá tiếc nuối. Của trời cho (trúng số, đánh bạc, cá cược…) chẳng giữ mãi được nên cần phải dùng nó làm chuyện có ích, từ thiện hoặc cứ xài xả láng!
Truyện xưa trên do Edmond Nordemann ghi chép sau này đã được Nguyễn Đổng Chi cho vào sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, đại ý giống nhau chỉ khác vài chi tiết.
Chú thích:
1. Edmond Nordemann, 廣集炎文 Quảng tập viêm văn, Chrestomathie annamite (Contenant 180 textes en dialecte tonkinois suivie d’un lexique encyclopédique annamite-français illustré de 62 fac-simile; et d’un index français concernant ce lexique, Hà Nội 1898), nguồn: https://archive.org/details/QuangTapViemVan
2. Chúng tôi đã sửa lại chính tả theo tiếng Việt hiện đại.
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/dinh-van-tuan/

