TRẦN NHẬT VY
Nguyễn Háo Vĩnh, ông là ai? Đây là nội dung chính mà ông Lê Hoằng Mưu nêu lên trong loạt bài Nguyễn Háo Vĩnh nào, Hốt Tất Liệt nào đây? đăng trên LTTV từ ngày 16/10/1923 đến ngày 23/10/1923.
Dù ông Mưu quyết định “không trả lời” về bài Dâm Thơ. Nhưng trước việc Công Luận liên tục đăng những bài đả kích bằng những lời chợ búa để mạt sát ông [dù Phật ngồi trên bàn thờ cũng phải nhảy xuống] nên ông Mưu đã viết một loạt bài bảy kỳ báo về ông Nguyễn Háo Vĩnh đăng trên báo Lục Tỉnh Tân Văn bằng lời lẽ vừa phải nhưng cứng rắn.
Trong loạt bài này, ông Mưu nhấn mạnh các điều sau:
- Hốt Tất Liệt là vua nhà Nguyên, là kẻ thù của dân tộc Việt Nam. Ám chỉ ông Vĩnh lấy bút danh này là xấc láo và không yêu nước.
- Ông Vĩnh từng “xuất dương,” ám chỉ việc ông được Hội Minh Tân đưa ra nước ngoài không chánh thức, tức vượt biên!
- Ông Vĩnh từng bị nhà cầm quyền bắt ở nước ngoài, đưa về Sài Gòn xử và phán tội tử hình vào năm 1917 song được Tổng thống Pháp ân xá.
- Bài viết cũng ám chỉ rằng ông Vĩnh vẫn còn tiếp tục là thành viên của Hội Minh Tân, một Hội đã bị nhà cầm quyền dẹp tan với nhiều người liên đới bị cầm tù từ năm 1909. Đồng thời đề nghị nhà cầm quyền lưu ý!
- Ông Vĩnh đã khi quân, phạm thượng khi viết Thơ ngỏ cho chủ bút Nam Phong năm 1918.
Trong các vấn đề ông Mưu nói đến, vụ Thơ ngỏ cho chủ bút Nam Phong của ông Vĩnh rất đáng để xem xét, tìm hiểu. Nhà nghiên cứu đời sau đều cho rằng đây là một cuộc “bút chiến” giữa ông Nguyễn Háo Vĩnh và báo Nam Phong! Thiển nghĩ qua các tài liệu còn tìm được, chúng tôi nên công bố sự việc rõ ràng để người quan tâm sau này khỏi nghi ngờ hay tưởng lầm.
Lá thơ này được ông Phạm Quỳnh đăng trong Nam Phong số 16/10/1918. Trong lá thơ này, ông Vĩnh nói đến một số việc sau:
- Nam Phong viết chữ nho nhiều quá khiến bạn đọc kho hoắc không hiểu được
- Phê phán vua Khải Định nói “tiếng Tàu” khi nói chuyện với học sinh ở Hà Nội
- Đề nghị cải cách tiếng Việt và làm tự điển Việt-Việt
- Việt hóa các chữ nước ngoài bằng tiếng Việt thay vì tiếng Hán
Trong lời bạt trước khi đăng thơ của ông Vĩnh, ông Phạm Quỳnh, chủ bút tờ Nam Phong viết:
“Bản báo mới tiếp được cái thư ngỏ sau này của ông NG H V, người Nam kỳ, trong thư hết sức bài bác cái lối văn của bản báo, bài bác cả cái hán học cũ của nước ta. Tuy lời lẽ có lắm chỗ quá đáng-nôm na cha mách qué-song bản báo cũng vui lòng mà đăng, để các bạn đọc báo biết cái dư luận người Nam kỳ thế nào. Vả bản báo muốn giữ cái tôn chỉ mở rộng cho hết thảy mọi người có tư tưởng trong Nam ngoài Bắc, ai muốn nghị luận về đường nào cũng được, dù cái ý kiến có trái với bản báo cũng mặc lòng. Ý kiến người ta mỗi người một khác, có đem ra đối nhau mới mong nẩy được cái tia sáng chân lý.
Thuộc về cái vấn đề quốc văn, bản báo vẫn chỉ ước ao có nhiều kẻ bàn đi người bàn lại, cho quốc dân được tự do phán đoán, mà biết cái đường lối nên theo thế nào. Nay có một ông Nam kỳ bàn về cái vấn đề ấy một cách rất “kỳ khôi,” tuy có nhiều chỗ người nào còn có chút cựu học (không những người Bắc kỳ, Trung kỳ mà cả Nam kỳ Nam kỳ nữa) đọc đến cũng không thể nhịn cười được, song bản báo há có hẹp gì mà không đăng? Công bố một áng văn như cái thư ông Nam kỳ đó, không những không tổn gì đến danh dự của bản báo, mà thực là khiến cho bản báo lại có thể tự cao được một chút. Lọ là phải phản đối ông từng câu từng đoạn làm gì cho phiền, tưởng thế cũng là thừa vậy. Cứ in ông ra cho thiên hạ biết, tức là phản đối ông rồi.
Vậy bản báo cứ y nguyên văn của ông mà đăng, xin các bạn đọc báo “sửa soạn mũi mà ngửi mùi thơm tho” (đó là lời của ông) của cái văn ly kỳ ấy. Hoặc cái mùi ấy có nồng quá hắc quá, các ngài không quen ngửi, xin cố nhẫn nhục mà đừng trách bản báo quá khoan dung.
Duy có phần dưới cái thư của ông có bàn về sự đặt hội làm tự điển tiếng Annam, thì lời bàn ấy cũng nên chú ý xét kỹ, xin để lần sau bản báo sẽ bàn tường. Lần này hẳng để các ngài thư thả mà thưởng cái bài đại nghị luận đại văn chương sau này!
PH Q
Cũng xin nói qua về tạp chí Nam Phong. Tạp chí Nam Phong là tờ nguyệt san chuyên về các vấn đề văn học, ra đời vào tháng Bảy năm 1917 tại Hà Nội. Tạp chí ra đời là chủ trương của Toàn quyền Đông Dương, do Louis Marty, chánh sở mật thám Đông Dương làm chủ nhiệm. Tạp chí có hai phần chữ Việt và chữ Hán. Phần chữ Việt do ông Phạm Quỳnh là chủ bút, phần chữ Hán do ông Nguyễn Bá Trác làm chủ bút.
Trong thơ ông Vĩnh viết có đoạn “(…) Cái mục đích của Nam Phong muốn tỏ cho bọn quan lại và các nhà nho ở Bắc kỳ và Trung kỳ biết rằng ngoài cái văn học cũ của Tàu còn có nhiều cái văn học khác, nhiều cái khoa học khác nữa, đà gần đạt được rồi. Còn cái ước ao mở mang trí dân mà chẳng biết chữ Hán, chỉ biết chữ quốc ngữ hay là tiếng Langsa mà thôi, ở trong cõi Đông Dương thì chẳng một chút xiếu gì thành hình được!(…) các bài quốc ngữ, chủ bút Nam Phong cùng các người phụ bút dùng nhiều chữ Hán quá, nên coi khó hiểu lắm-có chỗ chẳng hiểu các ngài muốn nói chi chi! Coi mà chẳng hiểu thì có ích lợi gì đâu-lần lần người ta ngã lòng trông cậy, chẳng còn muốn coi nữa!
Các ngài làm như thế thì hình như các ngài là người Tàu qua lấy nước Annam, muốn đem tiếng của nó qua mà thế tiếng cho tiếng nước ta vậy. Tôi cảm ơn các ngài, tôi chẳng cần các ngài làm viêc ấy! Trải ngoài nghìn năm, người Tàu đà làm đều ấy rồi! Chúng nó đem chữ Hán mà thồn, mà nhét, mà ém, mà nhận vô trong tiếng của ta, đến đỗi tiếng của ta chẳng có thế tiêu hóa nó được nên phải phát ách; đau lâu trải ngàn năm cái xát phải chết, cái hồn phải tan, phải nát (…)”
Theo ông Vĩnh, việc dùng quá nhiều tiếng Hán khi viết tiếng Việt là “(…) làm tiếp cái đều đáng chê, đáng ghét, đáng trừ của người Tàu đã khởi sự mấy ngàn năm trước này? Các ngài là người chi mà dám đem chữ Tàu mà thồn, mà nhét, mà ém, mà nện vô trong tiếng Annam buộc trẻ con Annam phải chịu lấy mà làm tiếng của chúng nó vậy? Chủ bút Nam Phong và các ngài chẳng sợ một ngày kia tiếng Annam sẽ phát ách một lần nữa sao? Các ngài chẳng sợ cái hồn của tiếng mẹ đẻ ta sẽ chết mất đi ư? (…)”
Ông Vĩnh khá nặng lời với Nam Phong khi đề cập tới vua Khải Định “Hay là các ngài thấy vua Khải Định chỉ ưa chữ Hán, chỉ dùng chữ Hán mà đặt để, mà nói năn (…) cho đến đổi nói với những học trò trong các trường lớn trong lúc viếng Hanoi ngài cũng lấy chữ Hán mà nói với chúng nó, rồi có người cắt nghĩa ra tiếng Annam thì chúng nó mới hiểu; cho đến đổi hiểu dụ dân Annam, ngài cũng dùng chữ Hán mà đặt để, mà ghi chép tư tưởng của ngài, nếu muốn dân Annam hiểu rõ ngài muốn đều chi, thì phải dịch ra tiếng Annam!!………..
Nên các ngài và chủ bút Nam Phong dùng chữ Hán trong khi viết tiếng mẹ đẻ đặng cho vui lòng vua Khải Định chăng?
Hay là quan lại, từ ông hầu cho tới các hàng phủ huyện nói chữ Hán là chữ của họ (…) một ngày tới tối chỉ rung đùi rung vế ngâm ba câu thơ Hán văn, nói tinh là chuyện đâu đâu không, thấy cãi lẫy về Hoàng Hà, bàn luận về Thái Sơn, đều là sông núi Chệc ở xa nước ta biết là mấy nghìn dậm mà mấy ai trong bọn ấy thấy được sông núi ấy bao giờ! Hỏi họ sông Hoàng có mấy cái cầu, trên núi Thái có những chi chi thì họ nhắm mắt hả miệng trả lời rốt! Hỏi họ sông Cửu Long Giang ở đâu, trên núi Tản Viên có những giống gì thì họ nào có biết! (…) Cho nên chủ bút Nam Phong đem chữ Hán vô mà thế tiếng mẹ đẻ ta đặng cho các ngài ấy vui lòng chăng?”
Trong đoạn thơ này, có những dấu chấm mà Nam Phong chú thích rằng “Đoạn này vì nói những lời vô phép đối với người xưa nay cha ông mình vẫn kính trọng, đủ biết ông này tuy tự xưng rằng thương tiếng mẹ đẻ, mà thiệt lòng muốn đạp đổ cái luân lý của mẹ đẻ đi, cho nên bỏ không đăng”.
Lá thơ của ông Vĩnh khá dài, khoảng 8.000 chữ, chiếm 10 trang báo. Và dù chịu đăng nhưng ông Phạm Quỳnh, chủ bút Nam Phong tạp chí, cũng viết background phê bình!
Trong lá thơ, ông Vĩnh có nói đến việc ông Trương Vĩnh Ký có công trong việc phổ biến chữ quốc ngữ, thì bị ông Phạm Quỳnh “phang” cho một câu lạnh lùng “Chưa thấy ai nói ông Trương Vĩnh Ký là người đặt ra chữ quốc ngữ. Ông Trương chẳng qua là một nhà làm sách giáo khoa thường cho con nít học mà thôi, đã có công nghiệp gì với tổ quốc, đã từng bao giờ đem cái xác Latinh mà đựng cái hồn Nam Việt? Chẳng dám khinh gì người trước, nhưng những bậc danh sĩ nước Nam cứ như ông Trương cả thì không biết lấy gì làm vẻ vang cho nước lắm”
Việc dĩ nhiên là sau khi Thơ ngỏ… của ông Vĩnh được đăng trên Nam Phong, đã có những phản ứng “khó chịu” từ giới trí thức Bắc kỳ và một số quan lại từ Bắc tới Trung kỳ. Vua Khải Định cũng được “tấu” lên nội dung lá thơ và quần thần có đề nghị “nên nói với nhà cầm quyền Pháp xử tội khi quân” của ông Vĩnh!

Ông Nguyễn Bá Trác là người đầu tiên phản ứng lại lá thơ của ông Vĩnh hai phần. Phần một, ông Trác trách ông Vĩnh không biết lễ chế của vua Việt trong bàn tay bảo hộ của Pháp. Vua muốn nói cái gì trước số đông người thì phải viết trước và có bản dịch ra Pháp văn gởi cho Toàn quyền Đông Dương. Vì không biết nên ông Vĩnh đã nặng lời trách vua Khải Định mà “phạm thượng,” bởi “một lời nói của vua là đáng quý đáng trọng, chúng ta cũng không nên luận bàn mà mất cả lòng trung hậu. Ông Ng H V ơi!.”
Ở phần thứ hai ông Vĩnh phê bình các nhà nho và các quan ở “Bắc kỳ và Trung kỳ bây giờ từ công hầu cho đến phủ, huyện, đều ưa cái thói rung đùi ngâm thơ mà thôi”. Và ông Trác phang lại “ở đời ai cũng có một lối tiêu khiển, thích lối nào thì làm theo lối ấy, tôi thiết tưởng bọn rung đùi cũng chẳng hại gì cho đời, rung đùi mà còn hơn đánh tổ tôm, sóc dĩa, rung đùi mà còn hơn đánh cách tê, ích xì, rung đùi mà còn hơn mấy đám me ở dưới ghe chài, mấy đám thiên cẩu ở dưới chiếc tàu ‘Chệt’, sao những cái tệ trước mắt thì các ông bỏ qua đi mà các ông đua nhau mà nói cái tệ của người ta đã bỏ rồi”.
Kết luận như ông Trác nghĩa là ông Vĩnh đang “đấm vào khoảng không!”
Đến ông Phạm Xuân Nùng thì lời lẽ có nặng nề hơn. Ngay vào đề ông Nùng đã viết “Xem bài luận thuyết của ông Ng H V, viết văn chịu khó kéo, nhưng đá gàn, chữ không nỗi dốt, nhưng quá nát”. Rồi ông viết tiếp “Phàm con người ta muốn phân định một việc gì phải bỏ lòng yêu ghét, muốn tư tưởng một đích gì phải suy lẽ trước sau. Xem ông hình như có ý riêng câm đám Chệt, nói cho khoái một lúc. Song Chệt, Chệt mặc lòng, chữ nho có hại gì cho quốc ngữ?...”. Và ông Nùng nhắc ông Vĩnh “Nếu không hiểu chữ Chệt trong Nam Phong thời hãy đọc cho thuộc những tờ tự vựng ở dưới thời sẽ hiểu. Chớ lấy mình không hiểu, không gắng cho hiểu, lại vội chê người làm khó xem. Ai chẳng biết văn nào cũng vậy, cốt simplicité (nói chữ Chệt ta thường dùng là ‘bình dị’) nhưng người chưa hiểu đủ tiếng thời làm simple (bình dị) đến thế nào cho hiểu được hở ông? Nôm na là cha mách qué, ạ! Ông ơi, thuộc lấy làm lòng, nghĩ chua tự vựng Nam Phong rõ mười…”.
Ông Tr V Đ, tự xưng là người Nam Kỳ cũng phản đối lá thơ của ông Vĩnh. Ông Đ viết có đoạn “….Thày lại vu cho người ta thấy vua Khải Định ưa chữ nhu, đến đổi những bài diễn thuyết trong các trường học cũng đặt bằng chữ nhu và thấy những bọn công hầu quan lại một ngày tới tối chỉ rung đùi rung vế ngâm ba câu thơ Hán văn, cho nên đem chữ Hán vô mà thế tiếng nước mình đặng có ý bợ đỡ vua quan; thày nói câu đó thì “cực bậy” (…) những công hầu quan lại Annam, thày đã biết người ta thế nào mà thày dám nói người ta một ngày tới tối chỉ rung đùi rung vế ngâm ba câu thơ Hán văn, thày có biết bảy tám năm trước những người khởi xướng ra nói với nhà nước Bảo hộ xin cải lương phép học phép thi, lấy chữ quốc ngữ dạy phổ thông trong nước đó là ai không? Chính là những người thày nói một ngày tới tối chỉ rung đùi rung vế ngâm ba câu thơ Hán văn đấy! (…)
Còn Tổng đốc Hà Nội, ông Thân Trọng Huề cũng viết bài trả lời ông Vĩnh. Ông Huề ghi lại lời vua Khải Định nói sau khi nghe đình thần đề nghị “trị tội” ông Vĩnh. “Ta xem bài của tên Ng H V mà tức cười hoài! Sau xem mấy bài cãi lại, ai thì cho cãi lại là phải, ta tưởng không nên cãi lại làm gì. Bởi vì người nước ta hơn 15 triệu, trong số ấy nếu chỉ có một mình Ng H V vô phép, tưởng không đáng kể. Ng H V là người Nam kỳ, mà Nam kỳ là của Liệt thánh ta khai hóa mới 300 năm, đối với Bắc kỳ khai hóa đã lâu, thì Nam kỳ còn mới, mà Nam kỳ đã sinh được nhiều trung thần, liệt sĩ văn đức hiền hạnh, nếu có một tên Ng H V vô lễ, không nên trách cả Nam kỳ. Vả lại Ng H V là người nước Nam, nếu có một người dân vô lễ là bởi tại ta đức bạc tài sơ, không hóa nổi một tên dân trong nước! (…)”. Trong bài này, ông Huề cũng cho biết, trong vòng 10 năm từ 1903 đến 1913, ông Huề đã hai lần đề nghị cải lương cách thi tiến sĩ là dành cho các thí sinh từ 2 đến ba năm để chuẩn bị một bài thi có chữ nho, có tiếng Pháp, tiếng Việt và đóng thành một quyển dày độ 100 trang, nhưng đã bị một số đại thần “bác, vì khó lắm!”. Mục đích của ông Huề là trình bày thêm một số vấn đề trong hậu trường về việc cải cách trong giáo dục và thi cử nhưng không vấn đề nào dễ dàng.
Mặc dù phản đối nhưng ông Huề viết rất thận trọng và lời lẽ nhẹ nhàng, không tỏ thái độ căng thẳng của một người lớn tuổi, có chức trách trong xã hội.
Nói chung, về lá thơ của ông Vĩnh gởi chủ bút Nam Phong đã bị phản ứng mạnh từ các giới trí thức cả nước, trong đó người ta cho rằng ông phạm thượng khi và không chịu cách dùng câu chữ của ông đầy vẻ bề trên và hỗn hào.
Riêng tờ Nam Phong, sau một số bài phản ứng lại lá thơ từ số báo 17 đến số báo 20 đã làm dịu bằng cách đăng truyện Chú lái buôn thành Venise của ông Vĩnh viết lại nội dung kịch thơ của nhà thơ người Anh Shakespeare trong số 21.
Có thể nói được rằng, Thơ ngỏ cho chủ bút Nam Phong của ông Nguyễn Háo Vĩnh là một bài phê bình và đề nghị chớ không phải “bút chiến” như người đời sau nhận định. Và lá thơ này phê bình việc “vua sử dụng chữ Hán” là đã “đấm vào khoảng không” bởi khi ấy hai miền Bắc và Trung kỳ vẫn còn chương trình Hán học chớ chưa Tây học như Nam kỳ. Mặt khác, sau khi thơ được đăng rồi bị nhiều phản ứng nhưng ông Vĩnh “không có bài viết nào nói lại” thì không thể gọi là “bút chiến” được. Thiển nghĩ, ông Vĩnh khi ấy chỉ là một thanh niên “nóng nảy” và “tự kiêu” sau khi đi nhiều, thấy nhiều ở các nước nhưng lại rất “yếu” hiểu biết về tình hình chính trị và xã hội nước nhà. Việc ông viết thơ cho chủ bút Nam Phong chỉ là một cách gián tiếp “giới thiệu” bản thân cho giới học thuật trong nước biết đến tên tuổi! Song việc này đã thất bại một cách thảm hại.
(còn tiếp)
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/tran-nhat-vy/

