ĐINH VĂN TUẤN
Trong tiếng Việt, từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa là sự kết hợp của hai từ có nguồn gốc khác nhau, một là từ gốc Hán (đọc theo âm Hán Việt) và một là từ (gốc) Việt, nhưng về nghĩa chúng lại giống hoặc gần giống nhau, như: trụ cột, hương thơm, vụ việc, di dời…
Các nhà nghiên cứu tiếng Việt vẫn chưa thống nhất tên gọi loại từ này nên đã gọi tên khác nhau tùy từng quan điểm: là từ ghép đẳng lập, từ đôi Hán – Việt & Nôm, từ ghép láy nghĩa, hay là từ ghép song tiết đẳng lập…
Loại từ này đã gây ngạc nhiên, lúng túng cho các nhà nghiên cứu tiếng Việt (có khi còn bị chế giễu là chữ đôi“ba rọi,” từ ghép“ nói lắp”).
Cho đến nay, các nhà ngữ học Việt Nam mới chỉ phân loại, mô tả mà chưa tìm hiểu tường tận và giải thích thỏa đáng về nguồn gốc phát sinh của chúng.
Qua tìm hiểu, khảo sát loại từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa trong tiếng Việt qua các văn bản chữ Nôm và Quốc ngữ, tự điển, tự vị xưa nay rồi so sánh, sắp xếp và phân loại theo từng thời kỳ lịch sử, chúng tôi đã khám phá ra những sự trùng hợp không ngờ giữa những từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa này với những dạng song ngữ Hán – Nôm có trong các sách học chữ Hán bằng văn vần như Tam thiên tự giải âm, Ngũ thiên tự, Thiên tự văn giải âm (Nhất thiên tự)…
Có rất nhiều chứng cứ cho thấy những từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa chỉ xuất hiện sau khi các sách trên ra đời chứ trước đó chúng chưa xuất hiện, điều này chứng tỏ có một mối liên quan mật thiết với việc học chữ Hán từ xưa đến nay, trong quá trình học thuộc lòng chữ Hán thông qua âm Hán Việt và tiếng Việt, người Việt khi nói hay viết đã tự động dùng nguyên dạng song ngữ có sẵn để diễn đạt ý niệm mới nào đó. Đây chính là nguyên nhân quan trọng làm phát sinh, phát triển số lượng từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa trong tiếng Việt ngày càng nhiều hơn qua thời gian.
Khi gọi là từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa chúng tôi muốn nhấn mạnh ý nghĩa “kép” để nêu bật kiểu cặp đôi của hai từ đồng nghĩa Hán Việt và Việt đã hiện diện sẵn trong các bài học từ vựng song ngữ Hán – Việt hay các sách học chữ Hán giải âm được dân chúng khai thác và sử dụng chứ không dùng ý nghĩa “ghép” như một chủ ý kết hợp hai từ đồng nghĩa không thông qua các dạng song ngữ sẵn có như trên.
Lưu ý, nên phân biệt một số trường hợp tưởng như là những từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa nhưng thật ra lại là những từ ghép Hán Việt – Hán Việt đồng nghĩa (kết hợp này vẫn thường thấy trong tiếng Hán như hận thù, tranh đấu, hoan hỉ), thí dụ như : gia thêm = gia thiêm, thẩm xét = thẩm sát, tích chứa = tích trữ…
Những trường hợp trên (thiêm = thêm, sát = xét, trữ = chứa) theo quan điểm ngữ âm lịch sử là do sự biến đổi ngữ âm từ âm Hán Việt sang âm Hán Việt được Việt hóa về âm đọc (đọc trại (chệch) âm, có khi đổi âm vì kỵ húy) hay kể cả những âm tiền (cổ) Hán Việt (có trước khi hình thành âm Hán Việt – trước thời Đường) nên dễ nhận lầm là từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa.
Đôi khi xảy ra một số trường hợp thú vị như: di dời, mùi vị, hóa ra sau khi nhận diện, các từ dời, mùi lại chính là âm cổ Hán Việt của chính di, vị, như thế các từ kép này lại trở thành từ láy Hán Việt: di di, vị vị!
Tuy nhiên chúng tôi vẫn thu thập, ghi nhận những từ kép thuộc loại này để vừa làm tiêu chuẩn khảo sát vì xét thấy người Việt xưa chưa có quan niệm gì về ngữ âm lịch sử nên khi dùng một từ để giải âm, giải thích chữ Hán thì có lẽ tiền nhân chỉ biết đó là tiếng Việt, quốc âm (không phải là âm Hán Việt) mà thôi và vừa để chứng minh cho ngay cả những từ ghép Hán Việt – Hán Việt đồng nghĩa cũng phần nào xuất phát từ việc học chữ Hán.
Còn một điểm nữa cũng cần lưu ý, đó là hiện tượng từ kép bị đảo lộn qua lại về trật tự các thành tố của từ. Trường hợp này vẫn thường xảy ra trong tiếng Việt với nhiều kiểu loại từ khác nhau, có thể là vì nhu cầu tâm lý muốn “Việt hóa về mặt ngữ pháp” các từ ghép gốc Hán như cáo tố > tố cáo, nhiệt náo > náo nhiệt, lợi quyền > quyền lợi...hay có khi chỉ vì thuận tai, thuận miệng khi nói năng hoặc vì nghệ thuật dùng từ khi viết văn, làm thơ, phú như: trụ cột = cột trụ, hương quê = quê hương, hiến dâng = dâng hiến... nhưng về mặt ngữ pháp chúng vẫn có ý nghĩa, chức năng như nhau.
Do vậy những từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa mà chúng tôi đang khảo sát dù ở trật tự nào đi nữa, căn bản vẫn là những hình thức song ngữ Hán – Nôm, từ kép Hán Việt – Việt cho nên chúng tôi sẽ chọn lựa những từ kép có trật tự đảo lộn này để làm bằng chứng có giá trị tương đồng với từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa.
I. Thời kỳ từ thế kỷ XIII – XVI
Qua sự khảo sát chưa đầy đủ (chúng tôi chưa có đủ điều kiện để có thể thu thập toàn bộ chứng từ liên quan) các văn bản chữ Nôm và Quốc ngữ, ở giai đoạn thế kỷ XIII – XVI (cho đến nay, chỉ còn lưu truyền lại những tác phẩm viết bằng chữ Nôm ở thế kỷ XIII, trước đó chưa tìm thấy một văn bản chữ Nôm nào) trong tiếng Việt đã xuất hiện hai từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa như trong hai bài phú [1] của Trần Nhân Tông, Cư trần lạc đạo có một từ kép: thân mình (H6, c.25) và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca có 1 từ kép: thờ phụng (c.21); sang thế kỷ XV, trong Quốc âm thi tập [2] của Nguyễn Trãi thấy có ba từ kép: tỏ tường (B79, c.3), nguyện xin (B107, c.7), khiêm nhường (B113, c.7); trong Hồng Đức quốc âm thi tập [3] có 2 từ kép: hương quê (Động đình thu nguyệt), sâm(1) họp (Hè ốc); tới thế kỷ XVI, trong Bạch Vân am thi tập [4] của Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy dùng sáu từ kép: đồng tiền (B5), ngu dại (B22), gửi thác (B152), hiền lành và ngây si (B94), dối trá (B160); trong Tân biên truyền kỳ mạn lục [5] của Nguyễn Thế Nghi có 3 từ kép: Dấu tích (Nam xương nữ tử truyện), xâm lấn (Lệ nương truyện), quái gở (Tản viên từ phán sự lục).
II. Thời kỳ thế kỷ XVII qua tự điển Việt-Bồ-La [6] năm 1651 của Alexandre de Rhodes
Cốt xương = xương cốt Sinh đẻ
Giảm bớt Tích vết = vết tích
Hương thơm Thôn làng
Kỳ hẹn (kỳ hạn) Trí khôn
Màu sắc Trụ cột
Tưởng nhớ Nhược bằng
Riêng hai từ kép can gián, kiện cáo tuy không thấy có trong Việt-Bồ-La nhưng đã có trong tập “Lịch sử nước Annam” [7] viết tay năm 1659 của Bento Thiện.
Nhận xét chung
Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII, số lượng từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa bắt đầu xuất hiện lẻ tẻ nhưng ngày càng tăng lên theo thời gian. Ở giai đoạn này không thấy trong thư tịch Việt Nam nói gì đến các sách học chữ Hán song ngữ Hán – Nôm giải âm (cũng có thể có nhưng đã bị thất truyền? sách Chỉ Nam ngọc âm viết theo thể lục bát có thể ra đời ở thời điểm này nhưng vì nó chú trọng vào sự giải thích dài lời nên không thấy giống với hình thức “giải âm” dễ ghi nhớ như Tam thiên tự: “Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn…” nên không dùng để tham khảo được) nhưng qua bài hát đồng dao xưa liên quan đến việc học chữ Hán như:
“Cục ta cục tác,
Chữ kê là gà.
Giữ cửa giữ nhà,
Chữ khuyển là chó.
Bắt chuột bắt bọ,
Chữ miêu là mèo.
Ăn cám ăn bèo,
Chữ hợi là lợn.
Vừa cao vừa lớn,
Chữ tượng là voi.
Ăn trầu đỏ môi,
Chữ Phật là Bụt.
Ngồi cao tột bậc,
Chữ vương là vua…[8]”
Ta có thể phần nào xác định được nguyên nhân chính của sự xuất hiện từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa ở thời sơ kỳ (trước khi xuất hiện cách sách giải âm như Tam thiên tự) đó là: vai trò quan trọng của việc học chữ Hán với âm Hán Việt thông qua tiếng Việt bằng cách học thuộc lòng các bài soạn từ vựng Hán – Việt căn bản do các thầy đồ làm ra, hay có thể từ các bài hát đồng dao dạy chữ Hán chủ yếu bằng truyền miệng đã làm phát sinh, phát triển những loại từ đặc biệt này trong tiếng Việt.
III. Thời kỳ sau Việt-Bồ-La và trước tự điển Anamitico-Latinum của Pigneau de Béhaine [9] năm 1772-1773
Có một số từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa đã xuất hiện trong ca dao Việt Nam như: tống đưa, phân chia, tính toán, sợ hãi, sum vầy mà tự điển Việt-Bồ-La không ghi nhận, nhưng tự vị Anamitico-Latinum của P.Béhaine lại có. Do ca dao được truyền miệng từ đời này sang đời kia nên rất khó xác định về thời điểm, cho nên chúng tôi tạm cho vào thời kỳ cuối thế kỷ XVII, nửa đầu thế kỷ XVIII. Cũng còn có một số từ kép như: Tụ họp (tụ hiệp), luận bàn = bàn luận, cảm (cám) mến, yến Tiệc = Tiệc yến chỉ có trong tự vị của P. Béhaine nhưng trước đó chưa tìm thấy trong các chứng từ hay truyền khẩu và chúng tôi cũng để vào thời kỳ này, dĩ nhiên những từ kép trên đây, chúng phải có trước rồi P. Béhaine mới có thể ghi nhận trong tự vị .
Đặc biệt là trong Chinh phụ ngâm khúc [10] tương truyền là của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748) diễn âm có 2 từ kép tiễn đưa (c.14), cách ngăn (c.55) và trong truyện Nôm Hoa tiên [11] của Nguyễn Huy Tự (1743 – 1790) có 2 từ kép bụi trần (C.99) phô bày (C.995), theo Sài Phi Thư Trang: “Nguyễn Huy Tự đã viết tập truyện khoảng giữa thế kỷ XVIII, từ năm 1759 (năm ông tới Thăng Long) đến năm 1768 (năm ông được bổ nhiệm làm quan ở Sơn Tây” [12] những từ kép trên không thấy có trong tự vị của P. Béhaine và theo chúng tôi chúng cũng thuộc vào thời kỳ nửa đầu thế kỷ XVIII và trước tự vị của P. Béhaine 1772-1773.
(Còn tiếp)
Chú thích
- Hoàng Xuân Hãn, La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập III, Nxb Giáo Dục, 1998.
- Viện Sử học (dịch và phiên âm), Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học Xã hội, 1976.
- Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên, Hồng Đức quốc âm thi tập, (in lần thứ hai có sửa chữa) Nxb Văn học, Hà Nội. 1982.
- Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Như Sơn, Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Văn học, 1983.
- Hoàng Thị Hồng Gấm (phiêm âm và chú thích), Nguyễn Thế Nghi – Tân biên truyền kỳ mạn lục – Tác phẩm Nôm thế kỷ XVI, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2000.
- Alexandro de Rhodes (1651), Dictionarivm Annnamiticvm Lvsitanvm et Latinvm, bản dịch tiếng Việt của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính, Nxb Khoa học Xã hội, 1991.
- Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, Tủ Sách Ra Khơi xuất bản, Sài Gòn 1972.
- Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang, Nguyễn Huy Hồng, Trần Hoàng, Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, 1997.
- P.J. Pigneaux, Dictionarium Anamitico – Latinum, (bản thảo viết tay) (1772-1773).
- Nguyễn Thế, Phan Anh Dũng, Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợp tuyển, Nxb Thuận Hóa, 2000.
- Nguyễn Văn Tố, Le Hoa tiên de Nguyễn Huy Tự trong Bulletin De La Société D’seignement Mutuel Du Tonkin- Tom XVI, N. 3-4 1936, Tân Dân 1937
- Bốn vấn đề văn bản học của Hoa tiên, Sài Phi Thư Trang, T/c Hán Nôm số 1(10) năm 1991
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/dinh-van-tuan/

