Tìm hiểu về từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa, phần 2

by Tim Bui
Tìm hiểu về từ kép Hán Việt - Việt đồng nghĩa, phần 2

IV. Thời kỳ xuất hiện sách Tam thiên tự giải âm, Ngũ thiên tự, Thiên văn tự giải âm từ nửa cuối thế kỷ XVIII cho đến cuối thế kỷ XIX              

Các loại sách học chữ Hán thời xưa, phổ biến cho người mới học chữ Hán và được tái bản nhiều lần bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ mãi cho đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đó là: Tam thiên tự giải âm, Ngũ thiên tự, Thiên tự văn giải âm (Nhất thiên tự), các sách khác như Nhật dụng thường đàm, Tự Ðức thánh chế tự học giải nghĩa ca, Ðại Nam quốc ngữ...không được phổ biến bằng, do đó chúng tôi chỉ dùng những sách này để khảo sát và lấy làm những chứng cứ quan trọng liên quan đến từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa. 

Về Tam thiên tự giải âm, theo Hoàng Hồng Cẩm trong “Về cuốn Tam thiên tự do Ngô Thì Nhậm soạn” đã nhận định: “Ngô Thì Nhậm đã soạn sách Tự học toản yếu (tức sách Tam thiên tự giải âm) trong thời điểm, chí ít cũng là từ lúc còn trẻ, khoảng năm 16 tuổi như thông tin trong Ngô gia văn phái; rồi lúc vào làm quan trong triều, ông lại có dịp tìm tòi, học hỏi thêm, cả thu nhặt tài liệu lẫn trao đổi trực tiếp với các đồng liêu tiền bối, sau đó mới phiên âm giải nghĩa để soạn thành sách. Số lượng chữ được Ngô Thì Nhậm biên soạn là ba nghìn chữ…Theo Hoàng Lê nhất thống chí, thì khoảng năm Canh Tý, niên hiệu Cảnh Hưng 41 (1780), Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm được chúa Trịnh Sâm giao cho làm Tùy giảng cho Thế tử Trịnh Tông ở trong phủ Chúa. Như vậy, thì rất có thể, trong khoảng thời gian này, do phải soạn sách để giảng dạy cho Thế tử Tông, Ngô Thì Nhậm đã kết hợp biên soạn và hoàn thành việc đưa in sách Tự học toản yếu (tức Tam thiên tự giải âm) như đã nói trong bài tựa. Và nếu đúng, thì đây cũng chính là thời điểm cuối thế kỷ XVIII như cụ Trần Văn Giáp đã ghi theo truyền văn.”[1]. Như vậy theo nghiên cứu trên, Tam thiên tự đã được Ngô Thời Nhiệm soạn thảo lần đầu tiên vào năm 1762. Như vậy sách này có thể ra đời trước tự vị Anamitico-Latinum (1772-1773) của P. Béhaine khoảng 10 năm, một khoảng thời gian khá dài cho việc du nhập các kiểu song ngữ Hán Nôm giải âm từ Tam thiên tự vào tiếng Việt (Tam thiên tự được chép tay, truyền khẩu trong giới học trò và phổ biến trong dân gian), điều này phù hợp với phát hiện của chúng tôi: Trong tự vị của P.Béhaine đã thấy ghi nhận khoảng 17 từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa giống nguyên mẫu trong Tam thiên tự (xin xem phần sau) nhưng lại không hề thấy ở giai đoạn trước đó (thế kỷ XIII-XVII)         

Về sách Ngũ thiên tự, từ trước tới nay các nhà nghiên cứu Hán Nôm vẫn chưa xác định được tác giả và niên đại. Nói chung chỉ cho sách này ra đời sau Tam thiên tự, khoảng thế kỷ XIX. Nhưng theo Trần Doãn Cương quê tại xã Kim Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà tĩnh là hậu duệ đời thứ 10 cụ Trần Doãn Tư đã cho biết: “Theo gia phả họ Trần Doãn tại làng Yên Tràng xã Kim Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh thì cụ Trần Doãn Tư là tác giả cuốn Ngũ Thiên Tự. Hiện phần mộ của cụ vẫn an táng tại xã Kim Lộc trên bia mộ vẫn ghi rõ. Ở sách “Lịch sử Hà Tĩnh” tập I, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia cũng ghi: Cụ Trần Doãn Tư là tác giả cuốn Ngũ Thiên Tự… Ông Trần Doãn Tư chiêu mộ quan chống Tây Sơn, sau khi thất bại ông bị bắt giam 6 tháng, trong thời gian ở tù ông đã viết cuốn Ngũ Thiên Tự trình lên nhà vua rồi được tha bổng.” [2]. Vậy có thể tạm tin Ngũ thiên tự đã được Trần Doãn Tư biên soạn (hoặc biên tập lại) vào  khoảng sau khi nhà Tây Sơn (1788) xuất hiện và sau sách Tam thiên tự (1780).  

Còn về sách Thiên tự văn giải âm thì vẫn chưa xác định được ai là tác giả và niên đại ra đời. Theo Kiều Thu Hoạch giới thiệu trong Lý Văn Phức, Ngọc – Kiều Lê Tân truyện [3] đã cho biết Lý Văn Phức (1785 – 1849) từng biên soạn Thiên tự văn diễn âm theo thể lục bát vào đời Nguyễn, Viện nghiên cứu Hán Nôm có lưu trữ, liệt kê sách Thiên tự văn giải âm ký hiệu AB.227, AB.91: in năm Thành Thái Canh Dần (1890) cũng theo thể lục bát, có lẽ đây là bản chữ Nôm sớm nhất còn lại, nhưng không biết có phải là cùng một sách hay không, dù sao thì Thiên tự văn giải âm chỉ xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX , sau sách Ngũ Thiên Tự.

1. Những từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa có trong Tam thiên tự và Anamitico-Latinum của Pigneau de Béhaine 

Ca hát                                    Lý lẽ

Danh tiếng                            Mưu chước                         

Đoạn đứt = đứt đoạn            Nghi ngờ

Gia thêm  (gia thiêm)            Phức thơm = thơm phức     

Giái (giới) răn                      Tà vạy

Hoàn trả                               Thoát khỏi                          

Kính nể                                 Tư riêng   = riêng tư

Kỵ kiêng = kiêng kỵ             Xướng hát = hát xướng

Mê say = say mê             

2. Những từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa có trong Tam thiên tự  và Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của [4]

Bạch trắng = trắng bạch                Hiếu thảo = thảo hiếu                      

Bao bọc                                            Hung dữ      

Dụ dỗ                                               Kỳ lạ = lạ kỳ                    

Dư thừa                                            Nhẫn  nhịn                        

Giả dối                                             Lao nhọc                                          

Giáng  xuống                                    Lão già  = già lão                           

Lực sức = sức lực                            Tùy theo                                

Phát ra                                             Tụng kiện = kiện tụng     

Quy về                                              Ước mong = mong ước

Thẩm xét (thẩm sát)                         Xác thật (xác thực)

Thiêu đốt                                  

3. Những từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa có trong Tam thiên tự  và Annamite – Français của Génibrel [5] 

Chính ngay = ngay chính 

Luyện rèn = rèn luyện

Phụ giúp

Tích chứa  (tích trữ)

Tinh ròng

Thì giờ       (thời giờ)

4. Những từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa có trong Ngũ thiên tự  và  Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của  

Binh lính

Đảng bè = bè đảng

Tiến dâng = dâng tiến

Thù hằn (thù hận) = hằn thù (hận thù)

5. Những từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa có trong Ngũ thiên tự  và Annamite – Français của Génibrel

Giái (giới) ranh = ranh Giái (giới)

Tạo dựng

Tiếp nối = nối tiếp

6. Những từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa có trong Thiên tự văn giải âm (Nhất thiên tự) và  Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của 

Ấu thơ = thơ ấu 

Thối (thoái) lui

7. Những từ kép Hán Việt – Việt đồng nghĩa có trong thiên tự văn giải âm (Nhất thiên tự) và Annamite – Français của Génibrel 

Huyền nhiệm

(còn tiếp)

Chú thích

1. Về cuốn Tam thiên tự do Ngô Thì Nhậm soạn, Hoàng Hồng Cẩm, T/c Hán Nôm, Số 1 (80) 2007

2. Hỏi về giá trị của cuốn Ngũ Thiên Tự, Hán Việt – Diễn đàn Viện Việt học

     3. Kiều Thu Hoạch, Lý Văn Phức, Ngọc – Kiều Lê Tân truyện, Nxb Khoa Học Xã Hội, 1976.

     4. Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc âm tự vị, Tom I-II Sài Gòn 1895-1896, Nxb Trẻ, tái bản 1998.

     5. J.F.M Génibrel, Dictionnaire Annamite – Français, Deuxième édition, Tân Định, Saigon 1898

Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/dinh-van-tuan/

You may also like

Verified by MonsterInsights