HÀ GIANG
Trong một khu chung cư nhiều tầng, tiếng rao mua đồ cũ của người đàn ông gầy gò từ dưới sân vọng lên, len vào tiếng người gọi nhau ơi ới qua những ô cửa sổ mở rộng. Từ các căn phòng vọng ra tiếng máy may, tiếng trò chuyện, hòa cùng tiếng bước chân qua lại ngoài hành lang. Trong một gian nhà nhỏ, nắng xiên qua cửa sổ, soi rõ những hạt bụi lơ lửng giữa không trung. Dưới bếp, những chiếc nồi nhôm ám bồ hóng đặt cạnh những chiếc cà mên xếp chồng lên nhau. Buổi tối, người lớn lẫn trẻ con tụ tập trong căn phòng chật của ông tổ trưởng, ngồi san sát trước chiếc tivi đen trắng nhỏ xíu, vừa xem vừa bàn tán.
Sài Gòn năm 1985 hiện ra trong Quán Kỳ Nam của đạo diễn Leon Lê qua những sinh hoạt đời thường. Ngay từ những cảnh phim và câu đối thoại đầu tiên, tôi đã bị cuốn vào thế giới ấy, với cảm giác kỳ lạ rằng hình như mình từng biết nơi này, từng sống giữa những con người này.
Nhưng làm sao có thể như vậy được? Tôi đã rời Việt Nam từ cuối tháng Tư năm 1975, mười năm trước thời điểm câu chuyện trong phim diễn ra.
Trước khi xem Quán Kỳ Nam, bộ phim được chọn chiếu để kết thúc Viet Film Fest 2026 tại Nam California, tôi không có kỳ vọng cụ thể nào. Tôi đã rất thích Song Lang, bộ phim đầu tay của Leon Lê, nên bước vào rạp với ít nhiều háo hức, dù cũng hơi ngại thời gian chiếu 140 phút. Không ngờ, khi phim bắt đầu, tôi bị cuốn hút đến mức như dán chặt xuống ghế.
Ra khỏi rạp, tôi nói với nhà văn Trùng Dương, chị bạn đi cùng, rằng tôi thích phim này nhất trong những cuốn phim đã xem tại Viet Film Fest năm nay. Chị chỉ gật đầu, ầm ừ, đủ để tôi hiểu chị không có cùng cảm nhận.
Những hình ảnh trong phim vẫn trở đi trở lại trong đầu tôi suốt nhiều ngày sau đó: ánh sáng trong những căn phòng, tiếng người trò chuyện, những gương mặt thấp thoáng qua sân chung cư, những khung cảnh tôi chưa từng chứng kiến mà sao thấy thân quen đến lạ. Hiếm khi một bộ phim khiến tôi nghĩ về nó lâu đến vậy.
Một khung cảnh, nhiều mảnh đời
Leon Lê mở ra thế giới ấy qua nhân vật Khang (Liên Bỉnh Phát), một thanh niên từ Đà Lạt xuống Sài Gòn. Người chú của Khang từng tập kết ra Bắc, nay là cán bộ có thế lực trong chính quyền cộng sản, cho anh ở nhờ trong một căn hộ chung cư và giúp anh có việc làm tại nhà xuất bản. Tại đây, Khang được giao dịch lại sang tiếng Việt tác phẩm Hoàng tử bé (Le Petit Prince) của nhà văn Pháp Antoine de Saint-Exupéry. Qua những cuộc tiếp xúc của Khang với hàng xóm, câu chuyện dần mở rộng sang cuộc sống của những cư dân thuộc nhiều thành phần xã hội, mỗi người mang theo một hoàn cảnh và quá khứ riêng.
Trong số những người hàng xóm, Kỳ Nam (Đỗ Thị Hải Yến) là người gây ấn tượng sâu sắc nhất với Khang. Bà là góa phụ của một vị tướng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từng bị đưa đi học tập cải tạo sau năm 1975. Từng học trường Pháp và có địa vị trong xã hội miền Nam trước năm 1975, nay Kỳ Nam sống bằng nghề nấu cơm tháng cho cư dân khu chung cư, trong khi vẫn mòn mỏi chờ tin người con trai tên Dương đã vượt biển rồi bặt vô âm tín.
Ngày ngày, Kỳ Nam vẫn mở thùng thư, mong nhận được tin người con trai bặt tin trên đường vượt biển. Người cháu lai Mỹ tên Su của bà cũng đang chuẩn bị rời Việt Nam. Chung quanh họ, những gia đình từ miền Bắc vào sống cạnh những người Sài Gòn ở lại sau năm 1975, mỗi người mang theo một quá khứ và phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới, khi thành phần gia đình và lý lịch chính trị có thể quyết định tương lai của mình.
Leon Lê để những câu chuyện của cư dân khu chung cư dần hiện ra qua những bữa ăn, những lần hàng xóm ghé thăm, thầm thì bàn tán, đôi khi qua cả những lời nói nửa chừng rồi im bặt. Trong khu chung cư có một ông cụ thường mở những băng nhạc Sài Gòn trước năm 1975 cho mọi người cùng nghe, và những bản nhạc ấy được tất cả yêu thích, bất kể họ từng đứng ở phía nào trong cuộc chiến.
Những khó khăn kinh tế, sự hiện diện của công an, những quy định hành chính và cuộc đổi tiền năm 1985 đều tác động đến cuộc sống của cư dân khu chung cư. Giữa những lo toan ấy, người ta vẫn trêu đùa, tìm cách xoay xở, giúp đỡ nhau, đôi khi cũng nói xấu, gây phiền hà cho nhau. Có những khoảnh khắc rất buồn, nhưng ngay sau đó, một câu nói bất ngờ lại khiến cả rạp bật cười.
Trong xã hội nhỏ bé ấy, tình cảm giữa Khang và Kỳ Nam dần nảy nở một cách kín đáo, dù cả hai đều hiểu rằng “trong hạnh ngộ đã nảy mầm ly biệt.” Khang còn trẻ, có tương lai rộng mở nhờ xuất thân và những quan hệ gia đình với chính quyền mới, trong khi Kỳ Nam là góa phụ của một vị tướng Việt Nam Cộng Hòa, mang theo những mất mát và nỗi chờ đợi chưa biết bao giờ kết thúc. Khoảng cách giữa họ không chỉ là tuổi tác mà còn là quá khứ và hoàn cảnh chính trị của mỗi người.
Nếu chỉ chăm chú theo dõi chuyện tình giữa Khang và Kỳ Nam, có lẽ người xem sẽ bỏ qua phần lớn những gì Leon Lê muốn kể. Mối quan hệ của họ là một đường dây quan trọng, nhưng cuộc sống của những cư dân khu chung cư, với những hoàn cảnh và số phận khác nhau, mới làm nên thế giới của bộ phim.
Tôi đặc biệt thích cách Leon Lê dành thời gian cho những nhân vật tưởng như đứng bên lề chuyện tình giữa Khang và Kỳ Nam, để mỗi người hiện ra với những lo âu, hy vọng, thói quen và cách xoay xở riêng trước hoàn cảnh của mình. Chính những nhân vật ấy đã giúp bộ phim tái hiện đầy đủ hơn cuộc sống của những người ở lại Sài Gòn sau năm 1975.

Một nhịp kể không vội
Quán Kỳ Nam đã nhận được những đánh giá khác nhau từ giới phê bình quốc tế.
Trên The Asian Cut, nhà phê bình Rose Ho dành nhiều lời khen cho Quán Kỳ Nam, đặc biệt là cách Leon Lê tái hiện Sài Gòn thập niên 1980 qua đời sống cư dân khu chung cư. Bà so sánh bộ phim với In the Mood for Love của Vương Gia Vệ, nhưng nhận xét rằng Leon Lê đã mở rộng câu chuyện tình đôi lứa thành bức tranh về một cộng đồng, nơi những khác biệt Bắc – Nam, nỗi lo sợ trước chính quyền và những gia đình bị chiến tranh chia cắt cùng hiện diện. Rose Ho cũng đặc biệt tán thưởng những cảnh quay bằng phim nhựa 35mm của Bob Nguyễn. Theo bà, nếu In the Mood for Love mang không khí ban đêm, thì Quán Kỳ Nam giống như một phiên bản ban ngày, tươi sáng và nhiều hy vọng hơn.
Nirris Nagendrarajah, viết trên Cha: An Asian Literary Journal, cũng đánh giá cao hình ảnh, âm nhạc của Tôn Thất An và cách bộ phim thể hiện những căng thẳng chính trị, xã hội. Tuy nhiên, ông cho rằng phim quá dài, dần mất sức đẩy, trong khi câu chuyện vẫn bị giới hạn bởi góc nhìn của Khang. Theo ông, những mất mát và tổn thương trong quá khứ của Kỳ Nam chưa được khai thác đủ sâu, khiến bộ phim chưa đạt được sức lay động mà đề tài của nó hứa hẹn.
Stephen Aspeling, trên trang Spling, khen ngợi diễn xuất tiết chế của Liên Bỉnh Phát và Đỗ Thị Hải Yến, cùng cách bộ phim bộc lộ tình cảm qua ánh mắt và cử chỉ. Nhưng ông cũng cho rằng nhịp kể quá tĩnh, không gian khu chung cư tạo cảm giác tù túng, và tác phẩm đôi lúc giống phim truyền hình hơn điện ảnh. Theo Aspeling, một bản dựng chặt chẽ hơn, với sự chú ý nhiều hơn đến bối cảnh chính trị, xã hội, có thể giúp bộ phim thêm sức nặng.
Riêng về nhịp kể, trải nghiệm của tôi lại khác.
Tôi không hề sốt ruột trước những câu chuyện hàng xóm hay những cảnh sinh hoạt kéo dài. Trái lại, chính nhịp kể chậm rãi ấy khiến tôi có cảm giác mình đang sống trong khu chung cư, quan sát những gì diễn ra quanh mình. Mỗi lần máy quay đưa tôi sang một căn phòng khác, đến với một cuộc trò chuyện khác, tôi lại hiểu thêm một chút về cuộc sống của những cư dân nơi đây.

Câu chuyện vẫn tiến triển, chỉ có điều những thay đổi không phải lúc nào cũng dễ nhận ra. Có lúc Kỳ Nam bảo Khang rằng bà đã khỏe, không cần anh tiếp tục giúp đỡ mà nên dành thời gian cho công việc dịch sách. Nhưng Khang vẫn nhất quyết ở lại. Qua cuộc đối thoại tưởng như chỉ xoay quanh chuyện chăm sóc và công việc, người xem nhận ra Khang đã gắn bó với Kỳ Nam đến mức không còn muốn rời xa bà.
Tôi cũng hiểu vì sao có người muốn biết nhiều hơn về nội tâm Kỳ Nam, nhưng tôi không cảm thấy nhân vật này thiếu chiều sâu. Khi Khang mới dọn đến, anh ngỏ ý muốn đặt cơm tháng, bà lập tức từ chối, nói rằng đã quá bận. Thế nhưng sau đó, khi Su mang về những đơn đặt cơm mới, bà vẫn nhận. Điều khiến bà dè dặt dường như không phải là công việc, mà là chính Khang, một thanh niên có quan hệ gia đình với chính quyền mới. Với quá khứ và những mất mát của Kỳ Nam, sự đề phòng ấy không khó hiểu. Leon Lê để người xem dần nhận ra điều đó qua cách bà ứng xử, thay vì phải nói rõ bà đang nghĩ gì.
Dựng lại Sài Gòn xưa
Một phần sức hấp dẫn của Quán Kỳ Nam đến từ cách Leon Lê cùng các cộng sự tái hiện Sài Gòn năm 1985 trên màn ảnh.
Được quay trên phim nhựa 35mm, với Bob Nguyễn phụ trách hình ảnh, Quán Kỳ Nam có những cảnh nội thất đặc biệt đẹp. Ánh sáng dịu xuyên qua khung cửa, rọi lên những bức tường cũ, bàn ghế và các vật dụng trong phòng, khiến người xem có cảm giác đang nhìn vào một không gian đã tồn tại từ lâu, chứ không phải một bối cảnh vừa được dựng lên cho máy quay.
Có những khuôn hình đẹp đến mức tôi muốn dừng lại để nhìn lâu hơn. Nhưng vẻ đẹp ấy không khiến tôi có cảm giác đang ngắm một bộ sưu tập đồ cổ. Những chiếc nồi, chiếc bàn, tấm màn hay chiếc tivi đều có người sử dụng, gắn với sinh hoạt thường ngày của các nhân vật. Chúng không chỉ được đặt vào khung hình để chứng minh rằng câu chuyện diễn ra vào năm 1985.
Một người bạn cùng xem phim với tôi đặt câu hỏi về độ chính xác của một vài chi tiết, chẳng hạn màu đồng phục công an hay màu gạch của một số công trình. Những thắc mắc ấy đáng được lưu ý, nhất là đối với một bộ phim chú trọng đến việc tái hiện Sài Gòn vào năm 1985.
Tôi đã rời Sài Gòn từ năm 1975 nên không thể xác nhận những chi tiết ấy đúng hay sai. Tuy nhiên, cảm giác chân thực mà một bộ phim tạo ra không nhất thiết đồng nghĩa với sự chính xác tuyệt đối của mọi vật dụng, màu sắc hay trang phục. Khi tái hiện một thời kỳ đã qua, điện ảnh cần tôn trọng sự thật lịch sử, đồng thời làm cho cuộc sống của thời kỳ ấy hiện lên một cách sinh động.
Với tôi, thành công nổi bật của Quán Kỳ Nam là khả năng làm sống lại một thời đã qua. Leon Lê không chỉ dựng lại hình dáng một khu chung cư cũ mà còn khiến tôi tin rằng những con người ấy thực sự đã sống ở đó, với những niềm vui và nỗi lo không thể gói gọn trong vài dòng lịch sử.
Trong phần giao lưu sau buổi chiếu phim, Leon Lê nói về hành trình trở lại Sài Gòn thời thơ ấu qua điện ảnh. Với Song Lang, ông bắt đầu tìm về một thế giới đã qua; đến Quán Kỳ Nam, sau khi tái hiện Sài Gòn trong thập niên 1980, ông cảm thấy mình đã có thể khép lại chặng đường ấy để bước sang những đề tài khác.

Một chuyến trở về
Trong số những hình ảnh của Quán Kỳ Nam còn ở lại với tôi sau buổi chiếu, có cảnh Kỳ Nam hết lần này đến lần khác mở thùng thư, nhưng lần nào cũng chỉ thấy trống rỗng. Mấy ngày sau, tôi vẫn không hiểu vì sao hình ảnh ấy cứ trở đi trở lại trong đầu, cho đến khi chợt nhớ đến lá thư đầu tiên mình gửi về cho gia đình sau khi rời Việt Nam năm 1975.
Gần một năm sau khi rời Việt Nam, tôi vẫn không dám viết thư về nhà. Tôi không biết gia đình đã ra đi hay còn ở lại, lại sợ rằng một lá thư từ nước ngoài có thể khiến người thân gặp rắc rối.
Một hôm, khi đọc mục “Tìm người” trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, do ông Nguyễn Thanh Hoàng làm chủ nhiệm và được tái bản tại Mỹ, tôi bắt gặp một mẩu tin của người có địa chỉ gần nhà cũ của gia đình tôi, ở khu Hồ Tắm Cộng Hòa. Tôi gọi điện cho người ấy, kể hoàn cảnh của mình và hỏi liệu một lá thư gửi từ nước ngoài về Việt Nam có thể gây nguy hiểm cho người thân hay không.
“Cô cứ mạnh dạn viết đi. Tôi vẫn liên lạc với gia đình, không sao hết,” người ấy, một cụ lớn tuổi, ân cần nói với tôi.
Tôi nghe lời, nhưng vẫn không hết lo. Trên phong bì, tôi ghi tên một người bạn thân ở phần người gửi, còn phần người nhận lại ghi chính tên mình, với hy vọng như thế sẽ tránh được những rắc rối có thể xảy đến cho gia đình.
Mãi đến năm 1990, khi lần đầu trở về Việt Nam, tôi mới biết chuyện xảy ra vào ngày lá thư ấy đến nhà.
Mẹ tôi kể rằng hôm ấy bà đang ở dưới bếp thì nghe tiếng bố hét lên, vội chạy lên xem có chuyện gì. Bố tôi đứng đó, tay giơ cao, vẫy vẫy phong thư như khoe một chiến thắng. Vừa thấy mẹ, ông reo lên:
“Thư của cái Hà! Thư của cái Hà!”
Bố xúc động đến mức phải một lúc mới bình tĩnh lại để mở thư đọc. Chỉ nhìn nét chữ trên phong bì, bố đã nhận ra thư của con gái, dù phần người gửi mang tên một người bạn thân của tôi, hồi đó hay đến nhà tôi chơi.
Trong phim, Kỳ Nam mòn mỏi chờ tin đứa con đã ra đi. Còn ở Sài Gòn năm ấy, bố tôi cũng đã trải qua gần một năm không biết tin tức con gái.
Có lẽ Quán Kỳ Nam ở lại trong tôi lâu đến vậy không chỉ vì những khung cảnh Sài Gòn năm 1985 gợi cảm giác thân quen, mà còn vì một ước muốn chưa từng được gọi thành lời: giá như tôi đã có mặt bên gia đình, cùng họ trải qua những năm tháng ấy, thay vì chỉ biết về cuộc sống của họ qua thư từ và tin tức từ bên kia bờ đại dương.
Với Leon Lê, bộ phim là một chuyến trở về Sài Gòn của tuổi thơ. Còn với tôi, đó là chuyến trở về với những năm tháng gia đình đã sống qua mà tôi từng mong được cùng chia sẻ.
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/ha-giang/

