TRẦN NHẬT VY
Hà Hương Phong Nguyệt là cuốn tiểu thuyết ngôn tình đầu tiên của văn học quốc ngữ nước ta do ông Lê Hoằng Mưu sáng tác. Nội dung chính của tiểu thuyết là cổ động “phụ nữ được tự do hôn nhân, tự do sống theo ý thích” trong thời đại còn nhiều cổ lệ, trọng nam khinh nữ, phong tục, tập quán, hủ tục còn ràng buộc cuộc sống của phụ nữ.
Tiểu thuyết Hà Hương Phong Nguyệt được in trên báo Nông Cổ Mín Đàm từ tháng Bảy năm 1912 và in thành sách vào năm 1914, đến năm 1923 vẫn còn được người đọc yêu thích, cho thấy sự hấp dẫn rất đáng kể, mà các tiểu thuyết ngày nay có mấy cuốn được như vậy! Ngày 1/11/1914, khi tiểu thuyết được in thành sách, ông Lê Hoằng Mưu có đề tựa “Đồng bang hằng đọc truyện Tàu diễn nghĩa, thông hiểu tích xưa, chẳng phải là chẳng ích chẳng vui, nhưng mà coi bấy nhiêu đó hoài, lẽ khi cũng mỏi mắt đọc can qua, nhàm tai nghe binh cách chớ?
Xét vậy nên tôi đặt bộ Hà Hương Phong Nguyệt này ra, thật là truyện đặt theo việc tình người đời, chẳng mượn tích ngoại phang gio diễn, để cho đồng bang cơn rảnh mua vui, lúc buồn xem tiêu khiển.
Cho hay Hà Hương là truyện tình, song truyện tình mà đủ nhơn, nghĩa, lễ, trí, tín, tình mà có báo oán nhãn tiền, tình dường ấy cũng nên đọc lấy làm gương, toan giữ mình trọn đạo.
Sự hay dở, khen chê, đều phú mặc lượng đồng bang, tôi mô dám vô lễ mà khoe trước, nhưng mà xin đồng bang hãy nhớ rằng truyện này trong Lục châu, chư vị khán quan Nông Cổ Mín Đàm từng đọc, vì đã có ấn hành trót hai năm nay; đọc lâu chẳng nhàm, đợi lâu chẳng mỏi; nay nhiều vị lại nài xin in ra nguyên bổn; bởi vậy cho nên tôi chẳng dám bỏ qua, phải vâng làm như ý.”
Trận bút chiến hay nói cho đúng là “chửi mắng” hoặc “đấu tố” đã khiến người yêu sách, yêu tiểu thuyết đời sau không hề biết đến cuốn tiểu thuyết đầu tiên này. Và ngay trong văn học sử cũng không hề chánh thức đề cập đến nó, một sự thiệt hại vô cùng lớn.
Gần 100 năm sau, năm 2018, Hà Hương Phong Nguyệt được giáo sư Võ Văn Nhơn tìm được trong kho lưu trữ ở thư viện Pháp và cho xuất bản lại.
Phản đối loạt bài Điếc hay là cục đất? trên Công Luận Báo, báo Lục Tỉnh Tân Văn đã đăng bài Xuất ngôn vô độ của ông xã trưởng làng Long Thạnh, Vĩnh Long là ông Lê Kim Sang. Bài Xuất ngôn vô độ ông Sang từng gởi cho báo Công Luận nhưng báo này không đăng, sau đó ông Sang lại gởi cho Lục Tỉnh Tân Văn. Cho rằng đồng nghiệp “chơi” mình, “không nghĩ tình đồng nghiệp” nên ngày 18/9/1923 Công Luận Báo đăng một bài đả kích LTTV bằng bài báo tựa đề là Dâm Thơ ký tên Nguyễn Háo Đàng. Bài viết có đoạn:
“Đến cái tệ của phần nhiều các tiểu thuyết mới ngày nay; thì lại thâm hơn nữa, vì cách đặt để đủ làm cho bại hoại phong tục, điên đảo luân thường vậy. Tôi có biết có bộ tiểu thuyết cực là dâm bôn mà lại rất là thịnh hành trong bọn phụ nữ. Coi thì biết là cái hại sâu là dường nào! Gia đình tan cũng vì đó, xã hội nát cũng vì đó, cái tương lai của nước nhà nguy cũng vì đó. Các nhà làm sách có nghĩ tới không? Hay chỉ chủ bán cho chạy hàng, thâu được nhiều bạc, còn những lẽ cương thường luân lý mặc quách ai?”.
Bài viết cũng cho rằng, các loại tiểu thuyết “ngôn tình” đang lưu hành đã làm cho: “cái nền phong hóa của nước ta đã bị mấy bộ tiểu thuyết lả lơi ấy nó làm cho rúng động, chẳng rõ ngày nào lở, ngày nào sụp tiêu. Thế thì còn gì là “nhơn phẩm” Annam, còn gì là “nòi giống” Annam!”!
Bài báo đề nghị:
- xin với mấy nhà văn sĩ trên kia rồi, là xin bước khỏi nẻo mà họ đã đi lầm
- xin người làm cha mẹ phải lo sự giáo dục của con cái mình mà nhứt là lo cho con gái hơn vì con gái là vận mạng nước nhà đó! Vậy thì các ông bà nên châm nom, chớ cho phép con trẻ tự do xem sách chi cũng đặng.
- xin chánh phủ khá để lòng mà nghiêm cấm những chuyện hoặc là đã in thành quyển, hoặc đang in trên báo mà có chiều lả lơi, làm người đọc đến phải phát rỡn ốc và làm cho nền phong hóa suy vi.
- xin các báo quốc âm vì nghĩa đồng nghiệp mà cùng ta khinh bỉ cái chủ nghĩa của tay viết văn hay kiếm chuyện lả lơi mà gợi cái tục tính của người đặng bán cho chạy sách và nống chí những người viết lối văn hùng dũng và có vẻ ăn nhập đến phong hóa mà thôi.

Đây là bài báo mở đầu cuộc “chửi rủa” của nhóm Biên tập trẻ ở Công Luận Báo đánh ông Lê Hoằng Mưu chủ bút báo Lục Tỉnh Tân Văn cùng tiểu thuyết đầu tay của ông là Hà Hương Phong Nguyệt, gây ra “vụ án văn chương” nẩy lửa vào đầu thế kỷ 20 tại Sài Gòn.
Để hiểu biết về báo chí quốc ngữ đầu thế kỷ 20, xin giới thiệu sơ qua.
Từ năm 1917, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut muốn lôi kéo giới trí thức, giới báo chí và những người tai mắt trong xã hội, vận động quyên góp tiền của giúp cho nước Pháp xây dựng lại sau chiến tranh Thế giới I, đã he hé cánh cửa luật pháp cho báo chí quốc ngữ. Đó là việc cho phép “người Việt được đứng tên làm chủ báo tiếng Việt” thay vì chỉ cho người Pháp làm chủ theo luật 1898, nên làng báo quốc ngữ nở rộ với nhiều tờ báo quốc ngữ ra đời ở Sài Gòn và một số tỉnh miền Tây. Đến đầu thập niên 1920, ở Sài Gòn các tờ báo có nhiều độc giả và nổi trội hơn hết là các tờ Nông Cổ Mín Đàm, Nam Kỳ Địa Phận, Lục Tỉnh Tân Văn, Nam Trung Nhựt Báo, Nam Kỳ Kinh Tế Báo, Đông Pháp Thời Báo và Công Luận Báo. Cần lưu ý rằng, thời kỳ này, do giấy in phải nhập cảng, chữ in tiếng Việt phải đặt bên Pháp và nhà in, lẫn nghề phát hành báo chưa phát triển nhiều nên báo chỉ có thể ra hằng tuần hoặc tuần 1 đến 2 kỳ, tất cả là báo chí tư nhân như một ngành kinh tế bình thường.
Tháng Mười năm 1921, sau khi “sang lại” [tức mua lại quyền đứng tên trong giấy phép xuất bản] tờ Lục Tỉnh Tân Văn, vì chủ nhân tờ báo này là ông F.H. Schreiner qua đời, ông Huyện hàm Nguyễn Văn Của, chủ nhà in Nguyễn Văn Của đồng thời là chủ tờ tuần báo Nam Trung Nhựt Báo, đã quyết định sáp nhập hai tờ Nam Trung Nhựt Báo và tờ Lục Tỉnh Tân Văn lại thành một tờ mang tên là Lục Tỉnh Tân Văn xuất bản hàng ngày. Lúc này, ông Của là người có thế lực ở Sài Gòn. Ông không chỉ là chủ nhà in, chủ báo mà còn có nhiều thân nhân làm việc trong bộ máy cầm quyền và có con trai là ông Nguyễn Văn Xuân, vị sĩ quan người Việt đầu tiên trong quân đội Pháp, từng chiến đấu trong Thế chiến I, và sau này là Thủ tướng Nam Kỳ Tự Trị vào năm 1947.
Một thị trường báo chí đã hẹp, các tuần báo còn khốn khó, nay có một tờ nhựt báo ra đời khiến các báo khác lao đao, mất khách. Khi đó thì Nông Cổ Mín Đàm đang ở trong trạng thái sắp qua đời, năm 1924 tờ báo này đình bản vĩnh viễn, nên mặc kệ ai làm gì thì làm. Còn tờ Đông Pháp Thời Báo của ông Nguyễn Kim Đính, chủ nhà in Thạnh Mậu, ra mỗi tuần ba số, thì mới ra đời từ giữa năm 1923, đang lo củng cố nội dung. Tờ Nam Kỳ Địa Phận có “lãnh địa” riêng là giới công giáo trong các giáo phận ở cả Nam kỳ và Nam Vang [Kampuchia] nên cũng không hề hấn gì.
Riêng tờ Công Luận Báo ra mỗi tuần hai số của ông Héloury, vốn là bản tiếng Việt của tờ báo tiếng Pháp l’Opinion, vì cạnh tranh khó khăn phải sang lại cả hai tờ báo cho ông Tham biện Harrison, nguyên Quản lý Sở mật thám và tuần cảnh Nam kỳ. Sau khi làm chủ hai tờ báo, vào tháng 5-1923, ông Herisson đưa ông Huỳnh Văn Chính bút danh Tự Do, đang là chủ bút tờ l’Opinion, sang làm Tổng lý kiêm chủ bút Công Luận Báo. Vốn là bạn học cũ với ông Nguyễn Háo Vĩnh, ông Chính mời ông Vĩnh ra viết cho tờ Công Luận Báo với mong muốn có sự thay đổi về nội dung để lôi cuốn độc giả! Bởi không chỉ phải cạnh tranh một cách khó khăn, mà tờ báo này còn bị nhiều độc giả “ruột” bắt đầu từ chối mua báo, trả báo lại dù đã đọc rồi nhưng không trả tiền…
Chính vì vậy, Công Luận Báo dưới bút quyền của hai ông Huỳnh Văn Chính và Nguyễn Háo Vĩnh bút danh Hốt Tất Liệt, đã nóng mũi và lên tiếng “chưởi” độc giả của mình, đồng thời “mắng nhiếc” luôn cả dân Nam kỳ bằng một loạt bài tựa đề “Điếc hay là cục đất?” trong suốt bốn kỳ báo kể từ ngày 28-8-1923 đến ngày 4-9-1923.
Nào là:
(…) phần nhiều bực thượng lưu và bực trung lưu Nam kỳ ta có cái óc nhỏ như “óc chim se sẻ” nên chẳng khôn, chẳng lanh, chẳng sao cho bằng bực hạ lưu của các nước văn minh.
Bực thượng lưu và bực trung lưu ở Nam kỳ ta khôn vặt, xảo vặt và lanh vặt lắm chớ! Đến đều cầu cạnh kẻ bề trên mà lấy thế, lấy thần, lấy danh giá, đâm thọc đầu này đầu nọ mà tấn thân, thì phần nhiều bực thượng lưu và bực trung lưu của Nam kỳ ta khôn lắm, lanh lắm, xảo lắm-khôn lanh xảo chẳng có thứ dân nào trên mặt đất này sánh cho kịp! Đã khôn, đã lanh, đã xảo như thế ấy, vì cớ nào lại “đành thua sút hẳn” dân hạ lưu của các nước văn minh?
Ấy vì dân hạ lưu của các nước văn minh tuy là nghèo, là cực, là khổ mặc lòng, chớ chúng nó hởi còn cái “tư cách làm người,” còn phần nhiều bực thượng lưu và bực trung lưu Nam kỳ ta, tuy là lên xe xuống ngựa, quần áo xuê xang, bộ tịch chích buốc mặc dầu, chớ chúng nó đã bán cái “hồn tự cường,” cái “hồn tự do” của chúng nó mà mua cuộc phú quý, vinh hoa giả, chúng nó đã mất hết cái tư cách “làm con người đứng trong trời đất” này. Thật là:
Rặt một lũ thiên ma bách chiến,
Hình thời còn bụng thát đời nao?!
Sao gọi là “có tư cách làm con người đứng trong trời đất này”? Sao gọi là không? Biết cái “danh dự” của mình là có “tư cách làm người”. Mấy kỳ trước tôi đã tỏ cho các chư vị rõ cái danh dự là gì rồi, nên không cần lập lại. Nếu một giống người hiểu rõ cái “danh dự” là gì, hễ ai đụng đến “danh dự” mình, dầu bề nào, thế nào, dầu chết, dầu sống cũng chẳng kể, quyết liều một sự giữ “danh dự” mình cho hoàn toàn mà thôi. Biết danh dự mình là “có tư cách làm người.” Song bởi con người đều ở trong xã hội nên phải “biết giữ danh dự của xã hội, của nòi giống mình” thì mới có tư cách làm con người đứng trong xã hội, đứng trong trời đất này.
Phần nhiều bực thương lưu và bực trung lưu trong Nam kỳ ta chẳng biết cái “danh dự” là gì mà! (…)
Đề cập về việc mua báo, bài viết tỏ vẻ rất tức giận:
(…) Các hàng phủ huyện thì biên “không nhận trả lại cho người gởi”. Còn các hàng cai phó tổng và Hội đồng địa hạt thì đề “không mua, trả lại”. Những hạng này làm như vậy tuy chẳng biết đến lợi ích cho xã hội là gì cho đúng phép, song phần nhiều trong hàng cai, phó tổng và Hội đồng địa hạt lại thêm một câu này “Tôi không rảnh mà coi” hay là “Tôi không có ngày giờ dư mà coi”. Chúng tôi thấy vậy bèn hỏi lấy chúng tôi rằng “Chẳng biết mấy người đó làm công việc chi nhiều lắm cho đến đổi không có giờ ngày mà giồi mài bề kiến thức của họ vậy?”(…) Sức lực ông Toàn quyền và ông Phó soái Nam kỳ kia công việc là bá bang mà mấy ổng còn có ngày giờ mà xem nhựt báo thay, huống hồ gì mấy thầy cai, mấy thầy phó và mấy thầy Hội đồng địa hạt mà công việc chi cho đến nỗi không có giờ ngày mà xem nhựt báo cho biết động tịnh trong nước, cho biết đều tấn hóa của thế giới và cho biết ý kiến mới của kẻ viết báo!? (…) Còn tên Phó tổng Trần Văn Lượng, tổng Bảo An cũng ở hạt Bentre, nhận CLB của chúng tôi mà xem cho tới số 28 mới chịu trả lại mà nói “không mua!” Còn tên Cai tổng Phạm Ngọc Túy ở Mytho nhận CLB tới số 13 rồi mới trả lại nói “không mua”(…)
Chính sự tức giận này mà Công Luận Báo viết bài chưởi, nhiếc cả thiên hạ Nam kỳ, khiến nhiều người tức giận. Và khi Lục Tỉnh Tân Văn đăng một trong số người tức giận ấy, Công Luận Báo lấy cớ “đấu tố” luôn ông Lê Hoằng Mưu và tác phẩm đầu tay của ông, tiểu thuyết ngôn tình đầu tiên của Việt Nam, là Hà Hương Phong Nguyệt! Khi báo bạn đăng thì nổi nóng, cho là thiếu tình đồng nghiệp, để rồi…quánh nhau bằng chữ nghĩa! Mà không phải chữ nghĩa bình thường, mà chữ nghĩa của mấy bà bán cá, bán tôm ngoài chợ!
Vậy “dâm thơ” Hà Hương Phong Nguyệt có nội dung thế nào?
Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh ở Canada nhận xét về Hà Hương Phong Nguyệt như sau:
Hà-Hương Phong-Nguyệt “roman fantastique” là tiểu thuyết đầu tay, ký Le Fantaisiste Hoằng Mưu, đăng Nông Cổ Min Đàm (từ số 19 ra ngày 20/7/1912 đến số 53 ngày 29/5/1915), với nhan đề “Truyện Nàng Hà Hương” đến tháng 11-1914 được Impr Saigonnaise L. Royer bắt đầu xuất bản trong khi chưa xong đăng báo, thành 6 quyển với tựa là Hà-Hương Phong-Nguyệt – 2 tập đầu ghi tên đồng tác giả là “L.H. Mưu & Nguyễn Kim Đính” và tập 6 phát hành tháng 6-1916. Có thể đây cũng là lý do trong hai tập đầu ngôn ngữ sử dụng Việt “ròng” hơn văn biền ngẫu trong các tập sau!
Nội dung chính của cuốn tiểu thuyết này là: Nghĩa Hữu là một thanh niên hiền lành ở Bến Tre, cưới vợ là Hà Hương, một cô gái con nhà giàu, có nhan sắc, gọi là “gái tân thời” [“nhan sắc đẹp đẽ, đành cho nguyệt thẹn hoa nhường, hoa đâu kém tuyết Lam-Kiều, tóc chẳng nhường mây Vị-Thủy”], “quen tánh hỗn ẩu với chồng” và không thuận thảo với gia đình chồng, lại sống theo thói buông thả, vì thế dù Nghĩa Hữu “đắm sắc” mà chẳng bao lâu hai người đường ai nấy đi. Nghĩa Hữu lấy vợ sau là Nguyệt Ba – nhà nghèo nhưng cũng nhan sắc mà lại đẹp “tánh ăn nết ở” và theo nàng Nguyệt Ba ra Vũng Tàu rồi Bình Thuận. Trở về quê nhà thì Hà Hương sau một thời gian ăn chơi chán chê, lại dụ dỗ Nghĩa Hữu trở lại với mình, theo xuống Trà Vinh, về Sài-Gòn rồi lưu lạc nhiều nơi khác (….)
Hà-Hương Phong-Nguyệt được viết theo lối văn xuôi có vần có đối và có khi có cả vần, do ảnh hưởng lối văn biền ngẫu truyện Tàu, và thường lại xen các bài thơ [đường] luật vào, rất thích hợp với người đọc đại chúng thời bấy giờ. Mỗi chương truyện được tác giả giới thiệu tóm trong một hay hai câu dẫn, thí dụ Quyển 1: Tráo con những tưởng con hưởng phước, Đổi trẻ nào hay trẻ bất lương – Quyển 2: Tam thập lục thao dĩ đào vi thượng – Tránh nợ gặp duyên lòng chưa phỉ, Tìm nghĩa vương tình dạ chẳng nguôi; Quyển 6: Lời chưa cạn Ái Nhơn trao thơ cá, Kể sự tình Anh Cô gởi tình nhân, v.v(….)
Toàn truyện là hình ảnh thu tóm của xã hội Nam-Kỳ lục tỉnh thời trước Thế Chiến thứ nhất, với nhân vật Nghĩa-Hữu chìm đắm trong sắc dục và chỉ sống cho bản thân, bên cạnh một Ái-Nghĩa chung tình, nàng Hà Hương xinh đẹp nhưng sống vội và buông thả bên cạnh một Nguyệt Ba đẹp người, đẹp nết. Xã hội ấy còn có cả người nước ngoài như khách trú người Hoa, anh Bảy Chà Và gốc Ấn, những trạng sư người Pháp. Rõ là các nhân vật truyện ra khỏi truyền thống truyện của văn học Việt Nam, mê say sắc dục, trọng vật chất hơn lễ nghĩa, đạo lý(…) (http://www.hocxa.com/VanHoc/TacGia/LeHoangMuu-NhaTieuThuyetTienPhong_NguyenVyKhanh.php)

Còn tiến sĩ Võ Văn Nhơn, giáo sư chuyên nghành văn học của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TPHCM, người tìm lại được tác phẩm này và in lại năm 2018, viết:
Cuốn tiểu thuyết đầu tay và cũng là cuốn gây nhiều tai tiếng nhất cho Lê Hoằng Mưu là tác phẩm Hà Hương phong nguyệt. Độc giả khen ngợi, bênh vực ông cũng nhiều và người đả kích, phê phán cũng không ít. Truyện bắt đầu được đăng trên báo Nông Cổ Mín Đàm từ ngày 20 tháng Bảy năm 1912 với nhan đề Truyện nàng Hà Hương, đến năm 1915 tác phẩm này được nhà in J. Viết xuất bản với tên là Hà Hương phong nguyệt. Truyện kể chuyện của Nghĩa Hữu, một thanh niên con nhà giàu có ăn chơi lêu lỏng. Nghĩa Hữu cưới Hà Hương, một cô gái con nhà giàu, có nhan sắc nhưng tính nết xấu xa, vì thế chẳng bao lâu hai người đường ai nấy đi. Nghĩa Hữu lấy vợ sau là Nguyệt Ba, một cô gái nhà nghèo nhưng đẹp người đẹp nết. Hà Hương sau một thời gian ăn chơi chán chê lại dụ dỗ Nghĩa Hữu trở lại với mình.
Do ngòi bút có phần táo bạo khi miêu tả những cảnh ăn chơi trác táng, ông đã bị kết án là xúc phạm thuần phong mỹ tục. Công Luận báo thời đó đã gọi ông là “đứa tội nhơn lớn nhứt của An Nam.” Đã có những cuộc bút chiến xảy ra quanh tác phẩm này và cuối cùng chính quyền thuộc địa đã ra lệnh tịch thu và tiêu huỷ tác phẩm (….)
Hơn mười năm sau khi Hà Hương phong nguyệt ra đời, Lê Hoằng Mưu có nói về lý do viết Hà Hương phong nguyệt và nguyên nhân của những cuộc bút chiến này: “Dòm thấy trong xứ cứ ôm truyện Tàu mà dịch mãi, chưa thấy ai viết bộ tiểu thuyết nào cả. Tưởng rằng dầu hay dầu dở cũng của mình. Tôi khởi đầu viết bộ Hà Hương phong nguyệt. Hay dở tự người xem, tôi mô dám biết. Viết ra từ mười năm không ai nói chi. Sau này trong phe viết báo lắm kẻ người ưa đọc sanh lòng ganh gổ, kích bác; mà không nói hay dở gì, chỉ thích điều lả lơi phong nguyệt. Tôi mỉm cười! Cười mấy ông này mắt mang kiếng đen, chưa hề có xem phong nguyệt của người các nước, còn lả lơi quá mười của tôi. Tôi thầm nghĩ nếu phong hóa vì tiểu thuyết tình tự lả lơi mà ra thì phong hóa các nước suy đồi biết mấy. Thoảng lại phong hóa nhà Nam suy đồi từ chưa có bộ Hà Hương phong nguyệt.”
(https://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=348:le-hong-mu-nha-vn-ca-nhng-th-nghim-tao-bo-u-th-k-xx&Itemid=106)
Trong lời giới thiệu khi tái bản cuốn tiểu thuyết này vào năm 2018, tiến sĩ Võ Văn Nhơn nhận xét:
Hà Hương phong nguyệt là tiểu thuyết đầu tay của Lê Hoằng Mưu, một tác giả có sách “bán chạy như tôm tươi giữa chợ buổi sớm” như Lãng Tử viết trên báo Mai sau này. Việc sáng tác Hà Hương phong nguyệt là một phản ứng, là lòng tự trọng của một nhà văn Việt Nam trước cơn sốt dịch “truyện Tàu” lúc đó: “Dòm thấy trong xứ cứ ôm truyện Tàu mà dịch mãi, chưa thấy ai viết bộ tiểu thuyết nào cả. Tưởng rằng dầu hay dầu dở cũng của mình. Tôi khởi đầu viết bộ Hà Hương phong nguyệt”…. Hiện thực được phản ánh trong Hà Hương phong nguyệt cũng khá rộng lớn, có thể xem đây là một xã hội Nam Bộ ở đầu thế kỷ XX được thu nhỏ. Trong tác phẩm có các gia đình giàu lẫn những gia cảnh nghèo hèn; có cảnh Sài Gòn đô hội phồn hoa bên cạnh cảnh nghèo hèn thôn dã; có cảnh tòa xử án, trạng sư biện hộ,… Số lượng nhân vật trong Hà Hương phong nguyệt cũng rất đông đảo, da dạng, từ thường dân cho đến quan chức. Có nàng Hà Hương xinh đẹp, buông thả bên cạnh một Nguyệt Ba đẹp người, đẹp nết. Có Nghĩa Hữu đam mê sắc dục, ích kỷ bên cạnh một Ái Nghĩa chung tình. Có cả người nước ngoài như khách trú người Hoa, có anh Bảy Chà Và (người gốc Ấn) và những trạng sư người Pháp như Portrait,…
Tác phẩm đầu tay này của Lê Hoằng Mưu so với những tác phẩm văn xuôi trước đó đã nổi bật ở khả năng phân tích tâm lý sắc sảo. Đây là một thế mạnh của Lê Hoằng Mưu so với các nhà văn Nam Bộ khác cùng thời vốn ít chú ý đến vấn đề này. Việc Hà Hương phong nguyệt bị dư luận lên án mạnh mẽ, đó là bởi diễn ngôn tính dục mới mẻ của tác phẩm này. Việc chuyển tải một quan niệm không truyền thống về tình yêu, luân lý trong thời điểm nhân dân Nam Bộ cần cổ súy cho đạo đức truyền thống, cho tình yêu nước để có sức mạnh chiến đấu với giặc ngoại xâm hơn là những tình cảm cá nhân ngang trái, buông thả là không hợp thời. Tiểu thuyết này quá mới mẻ trong thời điểm ảnh hưởng của văn minh phương Tây vẫn chưa thật sự lấn át được những quan niệm khắt khe của Nho giáo về tình yêu nam nữ. Tình yêu cá nhân mang tính nhục thể và dục vọng thầm kín của con người vẫn là những điều khá xa lạ đối với những quan niệm truyền thống đương thời mặc dù ngòi bút của nhà văn đã khá uyển chuyển và giàu tính nhân văn (….)
Nhận xét của tiến sĩ Võ Văn Nhơn đã đủ cho chúng ta ngày nay hiểu rằng thế nào là “dâm thơ” của tiểu thuyết Hà Hương Phong Nguyệt và đầu thế kỷ 20.
(còn tiếp)
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/tran-nhat-vy/

