Việt Film Fest 2026 — trao lại ngọn đuốc 

by Tim Bui
Việt Film Fest 2026 — trao lại ngọn đuốc

TRÙNG DƯƠNG

Chúng tôi đến rạp Frida Cinema ở Santa Ana vào một buổi trưa thứ Bảy, đúng ngày cộng đồng người đồng tính tại đây tổ chức Pride Day với âm nhạc, vũ điệu và sắc màu cầu vồng rực rỡ dọc theo 4th Street ở trung tâm thành phố.

Frida không phải là rạp AMC 30 ở Orange, với những hành lang rộng rãi và nhiều phòng chiếu cùng lúc rộn ràng năng lượng của đám đông biết mình thuộc về một điều gì đó lớn lao — như tôi vẫn còn nhớ ở những kỳ Việt Film Fest trước. Frida khiêm tốn hơn, gần như thân mật — một rạp nghệ thuật hai phòng chiếu thoang thoảng mùi bắp rang và lớp nệm ghế cũ, và còn một mùi khác khó gọi tên hơn, gần giống như sự thân quen.

Khi bước vào rạp trong buổi chiều tháng Mười đó để dự kỳ hội phim VFF lần thứ 17, tôi cảm nhận cùng lúc sự nhỏ bé của không gian và sự lớn lao của những gì nó chứa đựng: 23 năm quyết tâm của một cộng đồng muốn nhìn thấy mình trên màn ảnh, muốn kể những câu chuyện của mình, theo cách của mình.

Tôi cũng cảm nhận, như tôi đã cảm nhận mỗi tháng Mười kể từ tháng Bảy năm 2021, sự vắng mặt của chị bạn Bùi Bích Hà. Lễ hội Pride ồn ào sinh động bên ngoài rạp cũng gợi nhớ đến bài viết đầy lòng trắc ẩn của Chị Hà về bộ phim tài liệu dài “Finding Phong” mà cả hai chúng tôi cùng thưởng thức tại hội phim VFF 2016 cách nay đã mười năm.

Nhiều năm trước đại dịch, Chị Hà và tôi có một cuộc hẹn mà chúng tôi giữ như một nghi lễ. Mỗi tháng Mười tôi lại lái xe từ Bắc Cali xuống Quận Cam để gặp chị, rồi cùng nhau tìm chỗ ngồi tại bất kỳ rạp nào mà VAALA — Hội Văn Học Nghệ Thuật Người Mỹ gốc Việt — đã sắp xếp, rồi xem càng nhiều phim càng tốt trong khả năng của hai thân xác đã luống tuổi và những tâm trí vẫn còn nhiều bồn chồn của chúng tôi.

Phần hay hơn đến sau đó: những cuộc tranh luận dài bên tô phở hay bún bò Huế hay bún chả Hà Nội, mổ xẻ từng bộ phim rồi lại ráp chúng lại, cãi nhau về ý đồ của đạo diễn, về việc hình ảnh có phục vụ hay lấn át câu chuyện, về ý nghĩa của việc là người Việt Nam và sống, như cả hai chúng tôi đã sống, xa quê hương suốt đời. Sau đó chúng tôi thay nhau viết về những bộ phim ấy — chị bằng tiếng Việt, thanh nhã và sắc sảo, cho các tờ báo và tạp chí Việt ngữ; tôi đôi khi bằng tiếng Anh cho những thế hệ trẻ hơn của cộng đồng hải ngoại.

Chị Hà rời chúng tôi ngày 14/7/2021, ở tuổi 84, sau một cơn bạo bệnh. Trong lời giới thiệu tôi viết cho bài cuối cùng chị cho đăng, tôi đã gọi cuộc hẹn tháng Mười hàng năm của chúng tôi là “một cuộc hẹn sẽ không còn bao giờ thực hiện được nữa” — một cuộc hẹn không bao giờ còn có thể giữ được nữa. Vậy mà hôm nay đây tôi lại ngồi ở Frida Cinema, nghĩ đến chị và ước gì chị còn ở đây bên cạnh.

Một thế hệ đang thưa dần


Tôi đã đến Viet Film Fest từ những năm đầu tiên, và một trong những điều tôi đã chứng kiến thay đổi theo thời gian — bên cạnh sự tiến bộ kỹ thuật ngày càng cao của những bộ phim cũng như sự trưởng thành của ban tổ chức — là thành phần khán giả.

Tôi đã ghi nhận điều này trong bài tường thuật năm 2018 về kỳ liên hoan lần thứ 10 tại AMC 30: buổi sáng dành cho học sinh trung học chật kín người, ồn ào tiếng cười và năng lực căng tràn của những người trẻ có lẽ là lần đầu tiên nhìn thấy văn hóa của mình phản chiếu lại qua tấm gương họ yêu thích nhất—điện ảnh. Buổi chiều dành cho người lớn tuổi, ngược lại, thưa thớt hơn. Thưa hơn so với những năm trước. Thế hệ đầu tiên của người Việt Nam tại Mỹ — những người như chúng tôi đã rời Việt Nam trước hoặc ngay sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, đã gầy dựng lại cuộc đời từ hai bàn tay trắng trên đất khách, đã mang trong lòng những âm thanh và mùi hương và mất mát của một đất nước không còn tồn tại theo hình dạng chúng tôi đã biết — thế hệ ấy đang thưa dần. 

Tại kỳ VFF17 này, tôi hiểu sự thưa-dần ấy một cách thấm thía hơn, riêng tư hơn. Chị Hà đã ra đi. Bạn bè, đồng nghiệp, những nhà văn và ký giả và nghệ sĩ đã tạo nên thế giới văn hóa mà tôi đã sống trong đó suốt nhiều thập niên — đã ra đi hoặc sắp ra đi. Sự ra đi của một thế hệ không phải là một biến cố. Đó là một quá trình, âm thầm và không ngừng nghỉ, như thủy triều đang rút. Một ngày nào đó bạn nhìn lên và thấy bờ biển đã khác đi.

Việt Film Fest 2026 diễn ra bốn ngày, với 21 phim dài (so với 12 phim năm ngoái). Phim gửi tới từ 13 quốc gia, trong đó bốn nước lần đầu có phim tham dự là Italy, Netherlands, Portugal, và Taiwan. Trái, số phim được gửi tới từ các nước: Canada 6 phim, Hoa Kỳ 24, Netherlands 1, Belgium 2, Pháp 7, Portugal 1, Germany 4, Poland 1, Czech Republic 1, Việt Nam 26, South Korea 1, Taiwan 1, và Australia 1. Ảnh Trùng Dương

Nhưng đây là điều tôi cũng nhìn thấy tại rạp Frida chiều hôm đó: những khuôn mặt trẻ, khuôn mặt người Mỹ gốc Việt ở độ tuổi hai mươi ba mươi, một số vẫn còn nói được tiếng Việt dù với giọng Mỹ, ngồi bên cạnh những người lớn tuổi hơn. Có người dẫn theo con nhỏ.

Bản thân hội phim — do VAALA tổ chức, cái hội đồng xây dựng văn hóa đáng kể của thế hệ 1.5 đã khởi xướng VFF từ những năm đầu của thập niên 1990 — tuy năm nay diễn ra tại một rạp hát nhỏ hơn nhưng không kém phần tận tụy. Quy mô có thay đổi. Mục đích thì không.

Chính nhận định ấy — sự tiếp nối của mục đích qua một cuộc chuyển giao thế hệ — là điều tôi muốn viết ở đây.

Những âm thanh đã mất, nay tìm lại được


Trong hai bộ phim dài chúng tôi được xem tại VFF 2026, bộ phim tài liệu Y Vân: The Lost Sounds of Saigon, do Khoa Hà và Victor Velle đồng đạo diễn, đã gây nơi tôi một cảm giác sâu sắc và trực tiếp nhất — nhất là khi bà ngoại cũng đã quá cố của Khoa Hà (được đề cập thoáng qua trong phim) đồng thời cũng là người bạn thân của Chị Hà và của tôi.

Đây là câu chuyện về hành trình của một người cháu gái tìm lại âm nhạc và ký ức của Y Vân, ông ngoại cô — một nhạc sĩ danh tiếng của Sài Gòn trước năm 1975, người được cho là đã sáng tác hơn 500 bài hát, từ nhạc tình, nhạc lính tới nhạc trẻ, dẫn dắt và thành lập nhiều ban nhạc, viết nhạc phim, và theo một nhận xét, là Quincy Jones của tân nhạc Việt Nam.

Khoa Hà sinh ra ở Việt Nam nhưng lớn lên ở Little Saigon, California, và cô đến với ông ngoại không phải qua ký ức trực tiếp mà qua những giấc mơ tái diễn — một tiếng gọi, cô mô tả, không chịu buông tha cho đến khi cô đáp lại.

Bộ phim mở ra theo bốn chương: Tiếng gọi, Cuộc tìm kiếm, Âm nhạc, và Di sản. Nó được cấu trúc như chính nỗi đau — cảm giác ban đầu về sự thiếu vắng, sự kiên nhẫn khai quật những gì còn sót lại, sự nhận ra dần dần về những gì đã tìm thấy, và cuối cùng là niềm vui, sự phục hồi một điều gì đó về đúng vị trí của nó dưới ánh sáng cuộc đời.

Khoa và mẹ cô — người có khuôn mặt rất giống người bạn quá cố chị Hường của chúng tôi — đi dọc những con hẻm Sài Gòn và những tiệm nhạc, truy tìm bản nhạc và những cuốn băng cũ, gặp gỡ những người sưu tập đĩa nhựa và băng reel-to-reel thời trước chiến tranh, tìm đến những nhạc sĩ đã từng chơi trong ban nhạc của Y Vân và vẫn còn giữ âm nhạc của ông trong vòng tay và giọng hát.

Cuối cùng đội mẹ-con này đã phục hồi được hơn 100 bài hát đủ phẩm chất thu âm nguyên thủy. Bộ phim kết thúc bằng một buổi triển lãm và tiếp tân ở Sài Gòn, nơi âm nhạc của Y Vân được giới thiệu lại với gia đình và bằng hữu — và, qua chính bộ phim tài liệu này, với giới thưởng ngoạn cả thế giới.

Điều gây ấn tượng nơi tôi, khi ngồi ở Frida với ý nghĩ phải chi có chị Hà gần bên, là sự giản dị và sức mạnh của những gì Khoa Hà đã thực hiện. Cô thuộc về một thế hệ chưa từng sống qua thời “hoàng kim” của Sài Gòn — cô chỉ biết đến nó qua những câu chuyện trong gia đình và những giấc mơ. Vậy mà cô cảm nhận sức kéo của nó đủ mạnh để vượt đại dương và năm tháng tìm lại những gì đã mất. Cô đang, theo nghĩa đen nhất, nhận lấy một cây gậy tiếp sức — một di sản âm nhạc, văn hóa, bản sắc — mà thế hệ trước đã gìn giữ, mà thời gian, chiến tranh và ly tán đã tưởng như dập tắt.

Bài hát được yêu thích nhất của Y Vân là Lòng Mẹ. Đó là bài hát tình yêu của một người con dành cho mẹ, và nó nói lên điều gì đó cốt lõi về người đã viết ra nó: rằng ở trung tâm của một gia tài âm nhạc đồ sộ là một tâm hồn dịu dàng, một khả năng biết ơn và khắc khoải, mà nghệ thuật đích thực bao giờ cũng phải có. Ban giám khảo đã trao giải Phim Tài Liệu Xuất Sắc Nhất cho bộ phim, mô tả nó là bộ phim về “ký ức như một sức mạnh, bản sắc như một sự kháng cự, và nghệ thuật như chiếc cầu nối giữa các thế hệ.” Tôi không thể diễn đạt hay hơn thế.

Tôi nghĩ đến Chị Hà, người mà những trang viết của chị, ở tận cùng, bao giờ cũng là về những điều tương tự.

Trái, nhóm thực hiện Y Vân: The Lost Sounds of Saigon trong cuộc Hỏi & Đáp sau khi phim trình chiếu. Phải, nhóm thực hiện phim Quán Kỳ Nam giãi bày tâm tư về cuốn phim. Ảnh Trùng Dương

Trầm hương và vết thương

Bộ phim dài thứ hai tôi xem là Kỳ Nam Inn (Quán Kỳ Nam), do Leon Lê đạo diễn — bộ phim thứ hai được chờ đợi từ lâu của anh, sau Song Lang được quốc tế hoan nghênh (2018).

Lấy bối cảnh Sài Gòn năm 1985, trong thập niên khó khăn sau ngày thống nhất, phim kể về Khang, một dịch giả trẻ được giao nhiệm vụ chuyển ngữ Hoàng Tử Bé sang tiếng Việt cho chế độ mới, dọn vào một khu chung cư chật chội và tình cờ gặp Kỳ Nam — một người đàn bà góa bụa, lớn tuổi hơn, ít nói, điều hành một quán ăn nhỏ tại gia và buổi tối một mình đánh bài solitaire trong tiếng nhạc cũ thời Cộng hòa. Mối quan hệ của họ diễn ra với sự chậm rãi và kiềm chế phi thường: một cái cổ tay gãy, một lời mời phụ nhặt rau, sự mòn dần của những bức tường phòng thủ, những tờ giấy nhắn trong lề của cuốn sách dịch. Tình yêu, trong một thời và một nơi mà ngay cả tình yêu cũng có thể cảm thấy như một món hàng cấm.

Bộ phim mở đầu bằng một suy tư về trầm hương — kỳ nam trong tiếng Việt. Người kể chuyện giải thích rằng nhựa quý của cây trầm hương chỉ hình thành khi cây bị thương.

Ẩn dụ không tinh tế, nhưng là sự thật. Leon Lê, người đã trải qua tuổi thơ ở Sài Gòn trong những năm tháng khó khăn của thập niên 1980 và những năm định hình tại California khi theo học điện ảnh, mang đến cho bộ phim một cảm quan được tạo thành chính xác tại giao điểm của hai nền văn hóa — anh biết ngôn ngữ điện ảnh phương Tây đủ thuần thục để sử dụng mà không bị nó chi phối, và anh hiểu thế giới nội tâm Việt Nam đủ sâu sắc để diễn đạt những khoảng lặng của nó mà không cần giải thích.

Kết quả là một bộ phim về sự hòa giải theo nghĩa sâu nhất: không phải hòa giải chính trị giữa Nam và Bắc, dù điều đó cũng hiện diện, len lỏi vào từng cuộc tương tác đầy e dè giữa Khang và những người hàng xóm, mà là sự hòa giải của con người — sự sẵn lòng, sau khi đã bị thương, để cho phép một điều gì đó mới mẻ và quý giá được hình thành.

Tôi nghĩ đến chính thế hệ 1.5, những người sáng lập VAALA và những người tổ chức hội phim, khi xem. Họ cũng đã được hình thành từ vết thương của sự tha hương — giữa hai nền văn hóa, không được bên nào nhận hoàn toàn, nhưng lại tìm thấy trong khoảng không gian ở giữa đó một sự phong phú độc đáo, một khả năng bắc cầu mà thế hệ thứ nhất lẫn thế hệ thứ hai đều không hoàn toàn có được.

Chị Hà và tôi, thế hệ thứ nhất, mang theo ký ức trực tiếp về những gì đã mất. Thế hệ 1.5 mang ký ức ấy ở một khoảng cách xa hơn, nhưng dịch chuyển nó — như Khang dịch Hoàng Tử Bé — thành những hình thức mà thế hệ kế tiếp có thể tiếp nhận.

Cây gậy và bàn tay đón nhận


Điều tôi cảm nhận mạnh nhất khi nhìn lại VFF 2026 không phải là một bộ phim nào cụ thể mà là thực tế của sự tiếp nối.

Thế hệ thứ nhất đang thưa dần, đúng vậy. Chị Hà đã ra đi. Chị Hường cũng vậy — người bạn thân yêu của chúng tôi, bà ngoại của đạo diễn Khoa Hà, người vợ của nhạc sĩ Y Vân. Nhiều người khác thuộc thế hệ hải ngoại đầu tiên đã ra đi hoặc sắp ra đi. Nhưng hội phim thì không ra đi. Nó đang chuyển tay — và những bàn tay đón nhận nó thì tài năng và tận tụy.

Khoa Hà, người làm phim đã tìm lại âm nhạc đã mất của ông ngoại, là một phần của thế hệ đó. Leon Lê cũng vậy — người lớn lên giữa Sài Gòn và California và trở về làm những bộ phim mà không nền văn hóa nào có thể tạo ra một mình. Cũng vậy là những người trẻ nam nữ tôi nhìn thấy trong khán phòng ở Frida, xem một bộ phim lấy bối cảnh Sài Gòn năm 1985 với sự chú tâm đặc biệt của những người nhận ra điều gì đó — không phải từ ký ức, mà từ những câu chuyện đã được kể cho họ nghe, từ những bản nhạc đã được mở trong những ngôi nhà thời thơ ấu của họ, từ những khoảng lặng mà cha mẹ họ đã giữ và họ chỉ bây giờ mới bắt đầu hiểu ra.

Chị Hà, trong bài cuối cùng chị đăng trên Dạ Màu và vài nơi khác, đã trích dẫn Boileau: Ce qui se conçoit bien s’énonce clairement — điều gì được hiểu thấu đáo thì sẽ được diễn đạt rõ ràng. Chị tin tưởng, một cách tha thiết, rằng người ta viết hay nhất về những gì mình thực sự đã sống, những gì mình thực sự đã cảm — hơi thở, nhịp tim. Chị lo ngại, như đôi khi tôi cũng lo, rằng khoảng cách của thế hệ trẻ với thế giới nội tâm Việt Nam — với trải nghiệm sống của chiến tranh, của mất mát, của đổi mới và những mơ hồ của nó — có thể dẫn đến một nền điện ảnh chỉ có bề mặt, kỹ thuật điêu luyện nhưng cảm xúc mỏng manh.

Nhưng khi xem Khoa Hà khóc, trên màn ảnh, khi lần đầu tiên nghe giọng ông ngoại trên một cuốn băng cũ; khi xem máy quay của Leon Lê nán lại trên những nghi thức nhỏ của hai người chưa thể nói lên cảm xúc với nhau — cách Kỳ Nam sắp những quân bài solitaire như một hình thức đối mặt với cô đơn và chịu đựng, cách những tờ giấy nhắn của Khang trong lề cuốn Hoàng Tử Bé trở thành ngôn ngữ bí mật của nỗi khắc khoải — tôi nghĩ Chị Hà hẳn đã xét lại mối lo của mình. Hay ít nhất là làm dịu nó đi.

Những người làm phim này đã tìm thấy hơi thở riêng của họ, nhịp tim riêng của họ. Nó có thể không giống hệt hơi thở và nhịp tim của chúng tôi. Nó chưa bao giờ có thể như vậy. Nhưng nó có thật, nó là của họ, và nó là Việt Nam.

Tôi bước ra khỏi rạp Frida Cinema dưới ánh chiều tà tháng Mười, trong cơn mưa Thu nhẹ của Santa Ana, đi ngang những bức tranh tường bao quanh mặt ngoài các tòa nhà với những màu sắc sống động bắt rễ từ cộng đồng.

Tôi nghĩ đến cuộc hẹn tháng Mười của Chị Hà và tôi, và về việc năm nay tôi đã giữ được hẹn, dù không trọn vẹn. Tôi nghĩ đến những gì chị có thể sẽ nói về phim Y Vân — tôi nghĩ chị đã yêu thích bộ phim ấy, đã viết về lòng dũng cảm của Khoa Hà và về bài Lòng Mẹ của Y Vân với sự dịu dàng đặc biệt mà chị dành cho bất cứ điều gì chạm đến tình nghĩa giữa các thế hệ.

Tôi nghĩ đến những gì chị có thể nói về Kỳ Nam Inn — chị hẳn sẽ trân trọng sự kiềm chế của bộ phim, sự từ chối tự giải thích của nó, nhưng chị cũng, đúng cung cách của Chị Hà, hẳn đã có vài nhận xét thẳng thắn về nhịp độ của phim.

Và tôi nghĩ: đây cũng là cách chúng ta truyền lại mọi thứ. Không chỉ qua những bộ phim chúng ta làm hay những hội phim chúng ta tổ chức, mà qua những cuộc trò chuyện chúng ta có và sau đó một mình tiếp tục gánh mang khi giọng nói kia đã im lặng.

Những điều Chị Hà đã nói với tôi về điện ảnh và văn hóa và cuộc đời vẫn còn sống trong tôi, định hình cách tôi nhìn và những gì tôi chú ý đến. Theo nghĩa đó, tôi vẫn đang trò chuyện với chị. Tôi đã đưa chị đến Frida, dù tôi có chủ ý hay không. 

Thế hệ thứ nhất đang thưa dần. Nhưng những gì chúng tôi đã mang theo — ký ức, ngôn ngữ, sự khăng khăng ngoan cố muốn kể những câu chuyện của chính mình — không thưa dần. Nó đang biến đổi. Nó đang được truyền đi, như âm nhạc của Y Vân đã được truyền đến người cháu gái, như Hoàng Tử Bé đã đi qua bản dịch tỉ mỉ của Khang sang một ngôn ngữ mới, như mọi thứ xứng đáng được gìn giữ đều được truyền đi: qua tình yêu, qua nghệ thuật, qua sự sẵn lòng của thế hệ kế tiếp chìa tay ra đón nhận những gì được trao lại.

Viet Film Fest đang ở trong những bàn tay tốt. Điện ảnh Việt Nam đang ở trong những bàn tay tốt. Tôi biết điều này vì tôi đã ngồi trong một rạp chiếu phim khiêm tốn ở Santa Ana vào một buổi chiều tháng Mười và thấy bằng chứng nhấp nháy trên màn ảnh trước mặt, cảm nhận nó trong sự chú tâm lặng lẽ của khán giả xung quanh.

Chị Hà, mình tiếc là chị không còn ở đây. Nhưng cuộc hẹn thì vẫn còn đó.

Cuộc hẹn vẫn còn đó.

[TD2026-10]

Đọc thêm:

Bùi Bích Hà, “Phim ảnh và Đời sống”
https://damau.org/69228/phim-anh-doi-song

Trùng Dương, “Viet Film Fest 2018 Showcases Diversity in the Diaspora”
https://diacritics.org/2018/10/viet-film-fest-2018-showcases-diversity-in-the-diaspora/

Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/trung-duong/

You may also like

Verified by MonsterInsights