Nhớ anh tôi

by Tim Bui
Nhớ anh tôi

YẾN TUYẾT

Nhân ngày giỗ đầu tiên của ông anh thứ hai rơi vào dịp lễ Trung thu, tôi thương nhớ và muốn viết về anh H. của tôi khi bước ra vườn và nhìn thấy ánh trăng rằm dịu dàng soi xuống bãi cỏ xanh vừa mới cắt.

Trong cái không gian quạnh hiu của buổi tối chớm Thu, tôi hình dung nụ cười nhẫn nại và bao dung của anh H. sau nhiều năm dài chống trả với hai căn bệnh ung thư diễn ra cách nhau bốn năm.

Năm ngoái, anh H. ra đi nhẹ nhàng với vợ con vây quanh giường bệnh, ở ngay tại căn nhà mà anh đã từng chăm sóc với mảnh vườn thơ mộng đầy những cây bonsai, hòn non bộ mỹ thuật.

Tên anh, Ngô Văn Đinh Hợi, là một cái tên đặc biệt mà ba tôi đặt cho anh vì anh sinh năm Đinh Hợi. Và dĩ nhiên anh H. của tôi không bao giờ thích cái tên của mình cho lắm vì hay bị trêu chọc ở trường từ khi con nhỏ.

Thế nhưng, vì cái tên hiếm có này mà bất cứ khi nào bạn bè nhớ đến anh, họ đều nhắc tên anh với sự trìu mến và thương yêu. Bởi vì anh là một người dễ thương đầy tình cảm và là một hoạ sĩ tài hoa.

Dưới mắt tôi, anh H. khá đẹp trai vì cao 1m80, người mảnh khảnh, tóc bồng bềnh, nói năng chậm rãi và từ tốn.

Anh H.  bắt đầu vẽ tranh từ hồi mới 17 tuổi và đã có rất nhiều cuộc triển lãm hoặc một mình, hay chung với người anh rể ở Saigon trước tháng Tư 1975.

Năm 1966, sau khi tốt nghiệp xong trung học , anh H. ghi danh học kiến trúc được một năm thì bị gọi động viên đi Thủ Đức.

Anh có thể xin hoãn dịch vì lý do gia cảnh khi một gia đình có hai con trai, nếu ông anh kia của tôi đã đi lính, thì anh H. được miễn dịch nhưng anh đã không làm điều đó.

Ra trường, anh H. tôi chọn ngành Chiến tranh Chính trị, đóng quân ở Pleiku vài năm rồi đổi về Bình Dương với chức vụ cuối cùng là Trung úy Chiến tranh Chính trị trong quân đội VNCH.

Bạn bè của anh gồm những ông văn nghệ sĩ nhà binh rất có tài như Cao Xuân Huy, Hoàng Khởi Phong…v.v…

Sau khi chiến tranh chấm dứt vào tháng Tư năm 1975, cũng như bao nhiêu sĩ quan VNCH khác, anh H. bị đi tù cộng sản và được thả ra vào năm 1982, sau khi tôi đã đến định cư ở Mỹ.

Anh H. gan cùng mình vì dẫn ba đứa cháu gái, con của ba bà chị tôi, toàn ở  tuổi vị thành niên 14, 15 và 19 tuổi đi vượt biên bằng đường bộ.

May sao, bốn cậu cháu cuối cùng đã đến được Thái Lan, ở trại tị nạn Panatnikhom. (Trại tị nạn này vào khoảng tháng Chín năm 1981, cũng là nơi ghi lại nhiều kỷ niệm với tôi trong thời gian 45 ngày ở đó).

Khi anh em tôi đoàn tụ trên đất Mỹ, thời gian xa cách nhau kể từ mốc 30/4/75 , cũng đã qua đi được 12 năm.

Anh H. tôi được ông Q. là người anh lớn hơn bảo lãnh qua Mỹ từ trại tị nạn. 

Năm 1988, sau khi qua Mỹ, anh H. cố gắng làm việc bằng cách vẽ tranh và mở nhà in với hy vọng đem người yêu từ Úc qua Mỹ nhưng công việc làm ăn thất bại nên cuối cùng, anh đành đi theo tiếng gọi của tình yêu, chọn Úc làm quê hương thứ hai.

(Anh H. gặp “người mẫu trong tranh” của anh ở trại tị nạn Thái lan nhưng phải chia tay vi nàng được gia đình bảo lãnh sang Úc).

Mới đầu, khi nghe tin ông H. quyết định đi Úc, tôi và cả nhà rất buồn vì mẹ và các anh chị em đều ở Mỹ hết, vậy mà ổng đành bỏ qua Úc sống.

Nhưng rồi cả nhà đều nghĩ lại và thông cảm vì từ khi còn trẻ, anh H. tôi phải đi lính cực khổ, khi hết chiến tranh thì lại bị đày đọa trong nhà tù Cộng sản 7, 8 năm, mất hết cả tuổi thanh xuân.

Khi anh H. gặp được chị L. thương anh và họ lập gia đình thì anh cũng đã 40 tuổi rồi.

Thế là cả nhà, nhất là tôi,  thay đổi suy nghĩ ích kỷ của mình để mừng cho anh tôi tìm được hạnh phúc, dù muộn màng.

Lúc đó, tôi buồn vì lại phải sống xa anh H. lúc qua Mỹ,  sau khi đã phải xa anh hơn 12 năm trước khi đoàn tụ.

Từ khi còn ở tuổi vị thành niên cho đến khi tôi bước vào tuổi trưởng thành, tôi dành nhiều thì giờ đi chơi và tâm sự với anh H. hơn ai hết trong gia đình. Chúng tôi rất thân nhau và có quá nhiều kỷ niệm sâu đậm, dễ thương với nhau.

Trước và cả sau khi anh đi lính, hai đứa đều chưa có bồ nên anh với tôi hay đi nghe nhạc phòng trà hay đi dự mấy buổi khiêu vũ ở nhà bạn bè (thường được gọi là “bal famille”).

Buổi tối trên đường về nhà, anh H. chở tôi trên chiếc Lambretta cũ của anh, hai anh em hát hết bài hát này của Phạm Duy, đến bài hát nọ của Trịnh Công Sơn. 

Vì có tính nghệ sĩ nên khi đi lính, anh H. có nhiều bạn bè trong giới văn nghệ. Ba tôi vốn tính nghiêm khắc vậy mà cũng chấp nhận để anh kéo bạn bè đến nhà, nhậu nhẹt, hút thuốc tùm lum trong cái phòng tranh được xây thêm ngoài hiên nhà làm tôi phải dọn dẹp và nhăn nhó, còn anh thì cười cười nói “chịu khó một chút đi em cưng!”

Anh H. lại là họa sĩ nên có tâm hồn mẫn cảm và chịu khó lắng nghe cô em gái kể lể đủ thứ chuyện vì tôi hay nói nhiều. Phần anh thì hay chia sẻ với tôi suy nghĩ của người đàn ông nói chung về phụ nữ. Dù còn rất trẻ, chúng tôi thường trao đổi nhận xét về đời sống và tôi luôn ngưỡng mộ anh về nỗi đam mê nghệ thuật của anh qua hội họa, âm nhạc.

Tôi từng là chứng nhân mối tình dễ thương nhưng rất buồn của anh H. với KN là cô bạn thân thời tôi học trung học Nguyễn Bá Tòng.

KN người Bắc rất xinh đẹp và con gái của một ông Trung Tá. Anh H. và KN yêu nhau sau khi anh đi lính và đóng quân ở Pleiku, nhưng rồi vì tự ái khi gia đình KN tỏ vẻ chê anh H. nghèo nên anh chấm dứt liên lạc.

Cả hai sau đó đều có người yêu khác, vậy mà khi KN chết trẻ ở tuổi 22 vì bị bắn chết, anh H đến thăm KN ở nhà xác với tôi và đã khóc nức nở. Anh nói bao giờ anh cũng yêu KN mà thôi.

Anh H. tôi có khá nhiều người yêu ngay cả khi là “lính nguỵ” trở về từ trại tù Cộng sản. Nhưng anh không dám gắn bó với ai vì muốn vượt biên.

Nói về cái duyên đến với hội hoạ của anh H. có lẽ từ lý do chi BL. của tôi lấy chồng là một người thuộc dòng dõi hoạ sĩ nổi tiếng ở Huế.

Anh rể vẽ nên ông em vợ cũng làm quen với màu và cọ.

Tranh của anh H. vẽ thuộc loại siêu thực (surrealism) và trừu tượng (abstract).

Nhiều khi nhìn tranh tôi chẳng hiểu anh vẽ gì ráo nhưng lại được những người ngoại quốc, phần lớn là người Mỹ mua với giá khá cao.

Hầu như tối nào, anh H. tôi cũng thức khuya, miệt mài vẽ tranh đến sáng mới chịu đi ngủ.

Tôi nhớ lúc 18 tuổi, anh bán được bức tranh đầu tiên của mình trưng bày ở phòng tranh của Phòng Thông tin nằm ở góc đường Tự Do và Lê Lợi, rồi sau đó kéo tôi qua nhà hàng Thanh Vị bên cạnh Tòa Đô chính, đãi tôi một bữa cơm Tây thịnh soạn.

Tôi hãnh diện có ông anh tài hoa đem khoe với mấy đứa bạn gái trong trường làm tụi nó mê ông anh tôi thêm.

Mỗi ngày sau giờ học, tôi đều ghé phòng tranh của anh H. Có tiền bạc rủng rỉnh nhờ bán tranh dài dài cho Mỹ, anh dẫn tôi đi uống cà phê sữa và ăn bánh ngọt, hay ăn cơm ở mấy cái nhà hàng Tây nằm trên đường Tự do như Brodard, Givral hay La Pagode.

Lâu lâu, hai anh em dẫn nhau đi dọc xuống đường Lê Lợi, ghé ăn quà vặt ở ông Tàu bán đu đủ bò khô gần chùa Ấn Độ, hoặc vô hẻm Casino ăn bún thang, bún mộc… Anh H. nói có anh T đừng sợ mấy tên con trai khác, vô quán cà phê Kim Sơn ngồi với anh, ngắm “nam thanh, nữ tú”  dập dìu qua lại.

Anh uống cà phê còn tôi uống nước chanh. Lúc đó anh mới 18 tuổi và tôi mới có 15 tuổi.

Hồi đó có thời trang mặc áo dài vẽ nên tôi và cô em út tha hồ được diện những cái áo dài vẽ bằng tay độc đáo từ hai hoạ sĩ “cây nhà lá vườn.”

Tôi sẽ mãi ân hận vì trong gần 30 năm anh H sống ở Úc, tôi chưa bao giờ qua Úc thăm anh ấy được một lần, bởi vì cứ hay ngại đường xa quá đỗi.

Bây giờ thì tôi chẳng còn lý do gì để đi Úc nữa!

Phần anh H. thì chỉ đem gia đình gồm vợ và hai con qua thăm mẹ tôi và các anh chị em ở Mỹ được hai lần.

Lần thứ nhất nguyên cả gia đình gồm vợ và hai con.

Lần thứ hai cách đây đã hơn 20 năm, sau khi mẹ tôi mất. Anh H. qua Mỹ một mình dự đám tang mẹ, rồi hẹn sẽ trở lại Hoa Kỳ nhưng đã không giữ được lời hứa ấy vì bận bịu việc học hành của con cái.

Đi đâu, ông anh tôi cũng muốn đi cả gia đình nên anh không thực hiện được việc này dễ dàng như nhiều người Việt khác.

Tuy nhiên, anh luôn gọi điện thoại thăm hỏi mấy anh chị em ở Mỹ một cách thường xuyên.

Cách đây vài năm, nghe anh báo tin bị ung thư lần thứ hai, tôi nóng ruột muốn cùng cô em út đi Úc thăm anh nhưng Covid xảy ra và anh H. cũng không muốn gặp chúng tôi vì anh cho biết rất yếu, sẽ không trò chuyện, tâm sự gì được khi chúng tôi phải vượt bao nhiêu không gian để đến thăm.

Với tình trạng cái lưng của mình hay đau nhức vì bệnh phong thấp kinh niên, tôi đoán nếu bay từ Los Angeles đến Sydney, hay Melbourne, hai thành phố lớn của  Úc, chừng 15 ,16 giờ  đồng hồ, nhưng rồi  còn phải bay tiếp đến Perth, mất thêm năm đến sáu tiếng nữa, chắc tôi không chịu nổi nên tôi lại có lý do để không đi. 

Dĩ nhiên, lòng tôi thì thương nhớ anh vô cùng và đã từng lo sợ biết đâu mình không còn bao nhiêu thời gian nữa.

Thế nhưng, anh cũng kéo dài đời sống của anh được gần năm năm sau đó với chứng ung thư bao tử sau khi cắt bỏ nó. Có lẽ một phần nhờ sự chăm sóc tận tình của vợ và quan niệm chấp nhận tiến trình sinh lão bệnh tử một cách an nhiên và bình thản của chính anh.

Anh H. Từng kể cho tôi nghe về thành phố Perth nhỏ và hiền hòa nơi anh chọn ở, dĩ nhiên có phần quê mùa so với Sydney hoặc Melbourne. Nhưng hiện nay thành phố này đã phát triển rất nhiều so với thời gian anh H. mới đến Mỹ gần ba  thập niên trước đây.

Theo thống kê của Australian Bureau of Statistics vào năm 2021 thì có 21,699 người Việt sinh sống ở Perth, và dân số người Việt Nam định cư ở Úc khoảng 318,760 người.

Vì mùa Hè và mùa Đông ở Úc trái ngược với Mỹ nên khi chúng ta đang sống trong những ngày nắng ở Hoa Kỳ thì ở Úc dân chúng đón mùa Đông.

Do đó, anh H. hay tả cho tôi nghe về những buổi họp mặt quay quần với người thân phía bên vợ và bạn bè vào mùa Đông, thưởng thức món bún bò ngon tuyệt do vợ anh nấu vì bà ấy người Huế chính gốc.

Còn trong khi tôi đang sống trong những ngày mùa Đông lạnh lẽo ở Cali thì ở Perth, gia đình anh đi bắt tôm, cua vì đó là mùa Hè bên Úc.

Trong trí tưởng tượng của tôi, đời sống của anh sao êm đềm quá!

Bây giờ nghĩ đến anh,  tôi nhớ vô cùng cái giọng Huế chậm rãi của anh khi nhắc nhở tôi: “Dù có bận rộn tới đâu đi nữa, T. cũng nên dành thì giờ để nhìn ngắm vẻ đẹp của thiên nhiên nghe.”

Và “nhớ để ra vài phút để hít lấy hương thơm của hoa hồng, thưởng thức cảnh lá vàng rơi. Những giây phút ấy sẽ không phí phạm đâu vì đó là lúc tâm hồn T. được nghỉ ngơi và em sẽ thấy quên bớt đi những muộn phiền và lo âu của đời sống.”

Anh H. khuyên tôi như thế lâu rồi nhưng cho đến khi về hưu cách đây năm năm, tôi mới bắt đầu áp dụng những lời anh khuyên được đôi chút để thấy đời mình được nhàn hạ hơn trong lúc “tuổi già, bóng xế.”

Ghi lại chuyện kỷ niệm vui buồn của hai anh em tôi và nước mắt tôi cứ tuôn rơi vì nhớ anh. Thế nhưng, tôi cảm thấy hạnh phúc vì có được một người anh rất dễ thương như anh H. trong đời mình.

Năm ngoái, khi nghe tin anh mất, tôi có làm bài thơ cho anh như sau:

Nước mắt nhỏ xuống
Tiễn anh đi xa
Về nơi yên nghỉ 
Thiên thần hát ca.
Hình như anh mang 
Dĩ vãng êm ấm 
Nhắc cho em nhớ
Những tháng ngày xanh…

Saigon mưa rơi
Hát trên đường vắng
Vẽ cô thiếu nữ
Ngồi khóc bên đàn.
Bao kỷ niệm đời
Đi qua rất chậm
Trong mùa thu buồn
Vĩnh biệt anh tôi” 


Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/q-to-z/yen-tuyet/

You may also like

Verified by MonsterInsights