DOÃN CẨM LIÊN
Buổi lễ tưởng niệm 50 năm ngày giỗ thi sĩ Vũ Hoàng Chương được tổ chức ngày 20/9/2026 tại hội trường đài SBTN, thành phố Garden Grove, California.
Đó cũng là ngày ra mắt sách “Vũ Hoàng Chương – Ta Còn Để Lại Gì Không” do giáo sư – học giả Trần Huy Bích biên khảo. Việc quyển sách có mặt và nằm trên tay độc giả là công lao làm việc của các vị Trần Mạnh Toàn, Trần Ngọc Khôi, Nguyễn Ngọc Dung, Phạm Thị Lệ Hương.
Cả hai sự kiện tưởng niệm và ra mắt sách hỗ tương cho nhau thật là ngoạn mục.
Quyển sách đưa dữ liệu cho khán giả tường tận về thân thế, sự nghiệp văn thơ, và kho tàng thơ của Thi bá Vũ Hoàng Chương. Phần trình diễn trên sân khấu là câu chuyện ôn nhớ về Vũ Hoàng Chương thuở sinh thời do các diễn giả Đỗ Quý Toàn, Trần Huy Bích, Trịnh Y Thư. Xen kẽ các câu chuyện là chương trình văn nghệ ca nhạc ngâm thơ được phổ từ những bài thơ của cụ Vũ.
Cầm quyển sách trên tay là nhìn thấy tấm lòng gìn giữ gia sản văn hóa thơ Vũ Hoàng Chương bởi những người yêu thơ. Khán giả và độc giả của ngày hôm nay là người được thụ hưởng những thành quả này.
Học giả Trần Huy Bích, học trò thế hệ đầu tiên của cụ Vũ Hoàng Chương, “mình hạc sương mai” vốn dĩ, thế mà hôm nay ông có vẻ còm cõi thêm một tí nữa vì gắng sức hoàn tất cuốn sách cho kịp ngày giỗ. Trân quý quá quyển sách. Bây giờ, lần giở từng trang để hòa nhập vào “thơ tịch” cụ Vũ …

Ngôn từ thơ của Vũ Hoàng Chương thật là tuyệt hảo, câu thơ mềm mại óng ả, cú thơ như dải lụa múa của các cô vận động viên trên sàn thi đấu.
Gọi ông là “thi bá” “thi hào” vẫn chưa đủ. Thưa phải là “phù thủy” thơ!
Đặt tên “Phù thủy thơ” cho Vũ Hoàng Chương do vì chỉ có phù thủy mới có phép hô biến hay làm hiển hiện những con chữ, ý thơ, làn thơ, hơi thơ đến độ mê hoặc độc giả khi đọc nó.
Như bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
… được Vũ Hoàng Chương dịch
Xưa hạc vàng bay vút bóng người
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc đi đi mất
Trắng một màu mây vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống đâu quê quán
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi
Nhà thơ Thôi Hiệu, ở ngôi thượng thừa trong làng thơ, ông phá cách, phá cả âm và niêm luật Thơ Đường ở câu thứ ba, bằng liền tù tì năm vần trắc “nhất khứ bất phục phản.” Một cảm giác “khúc khắc” trật đường rầy được Vũ Hoàng Chương dịch bằng “Vàng tung cánh hạc đi đi mất.” Ông vẫn giữ âm vận của thơ Đường nhưng hoán đổi tĩnh từ “vàng” cho lên đầu câu để nhấn mạnh ý. Ông chưa dám phá cách như Thôi Hiệu! “Video” ông Vũ quay cho thấy con hạc vỗ cánh bay lên, “vụt-vút” lên trời nhanh đến nỗi sắc vàng từ đôi cánh vẫn còn vương trong mắt người ngắm.
Rồi lại nữa, ở câu thứ sáu, Thôi Hiệu tả cọng cỏ Anh Vũ buồn thiu. Vũ Hoàng Chương bèn dùng “chẳng ai chơi” để thấy cái buồn thiu vắng lặng của bờ sông, khiến cọng cỏ Anh Vũ cũng rũ buồn.
Nhưng đến câu cuối cùng thì mới “thấm” cái buồn. “Đừng,” “Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi,” chữ “Đừng” đặt lên đầu câu nó làm cơn sầu khi Vũ Hoàng Chương thêm nặng. Âm thanh chữ “ơi” có vuốt lên cứu vãn, nhưng bằng thừa!
Vậy mới thấy Vũ Hoàng Chương khi dịch thơ không chỉ dịch chữ, dịch ý, mà còn phải dịch cả cái “cảm” và cái “thần” nơi bài thơ gốc. Người đọc cứ việc nổi da gà từng hồi, ở từng chữ khi thưởng thức thơ Vũ Hoàng Chương.
Tuổi trẻ và nguồn thơ
Độc giả có nhận thấy cụ Vũ làm thơ phần lớn từ nguồn cơn “tình yêu” không? Khi mà các tuyến nội tiết trong người ông đang phát triển mạnh nhất của tuổi thanh niên. Ông làm thơ vì nhớ người yêu, nhớ người trong mộng, nhớ người không yêu mình mà mình cứ yêu không? Giai đoạn cụ Vũ là thanh niên, bà Tố Uyển là người yêu đầu. Cụ Vũ xin cưới hai lần mà không được bố mẹ nàng chấp thuận. Đau khổ, cụ Vũ làm thơ…
Im Lặng
Em biết anh chờ em ngã ba
Trường Thi, Ngõ Huyện vắng người qua
Đi chung một quãng, chiều tan học
Chẳng nói “yêu” mà yêu thiết tha.
… Em biết anh chờ em góc nào
Của Hồ Gươm xanh như chiêm bao
“Lựa hoa cài tóc cho em nhé!”
Thầm dặn… không là “yêu” đó sao?
Lỡ Làng
… Ta nhổ thuyền đây, từ giã em.
Ái ân, mồ đắp phía sau rèm,
Mênh mông đâu đó ngoài vô tận,
Một cánh thuyền say lạc hướng đêm.
Đến ngày Tố Uyển lên xe hoa, ngày Mười hai tháng sáu, liền có bài thơ mang tên “Mười hai tháng sáu” là nỗi bi thương của cụ Vũ.
Trăng của nhà ai? Trăng một phương!
Nơi đây rượu đắng mưa đêm trường.
Ờ! Đêm tháng sáu mười hai nhỉ!
Tố của Hoàng ơi! Hỡi nhớ thương.
Năm 1940, cụ Vũ hiên ngang bước vào làng thơ Việt Nam bằng tập “Thơ Say”. Cụ bèn nổi tiếng với nhiều vở kịch thơ được diễn trên sân khấu. Người ngưỡng mộ hẳn là nhiều, nhưng để xứng đáng để cụ yêu lại chỉ có bà Tuyết Khanh. Cuộc tình được gọi “duyên thơ – nợ kịch.” Có duyên mà không nợ nên cụ Vũ và bà Tuyết Khanh muôn đời chỉ là tri kỷ thơ của nhau.
Có sự kiện được viết trong sách, bên cạnh Tuyết Khanh, người cụ Vũ yêu, là nhà thơ Hoàng Cầm. Có nghĩa là cuộc tình tay ba! Tuyết Khanh khắn khít với Hoàng Cầm nhiều hơn Vũ Hoàng Chương (cũng đúng thôi, vì lúc đó cụ Vũ đã có cụ bà Thục Oanh). Và cuối cùng Tuyết Khanh thành đôi với Hoàng Cầm sinh được một gái tên Kiều Loan. “Happy ending” cho mối tình tay ba này. Mối giao hảo đẹp đẽ giữa hai gia đình Hoàng Cầm và Vũ Hoàng Chương bền lâu. Sau cuộc di cư năm 1954, vào đến Sài Gòn phương Nam nắng ấm, bà Tuyết Khanh và Kiều Loan vẫn đến thăm gia đình Vũ Hoàng Chương – Thục Oanh. Nhà thơ Hoàng Cầm ở lại miền Bắc vì mất liên lạc với vợ con.
Sau chuyện tình Tuyết Khanh, cụ Vũ lại đắm say vào nhà thơ Ngân Giang. Nàng là một nàng thơ làm thơ rất giỏi. Cụ Vũ yêu tài cùng lẫn nhan sắc của nàng. Bà được tôn vinh là “Nữ hoàng thơ Đường luật.” Cảm tài lẫn nhau, Ngân Giang và Vũ Hoàng Chương đã có những bài thơ họa cùng nhau.
Bài “Khi gió heo may về” Ngân Giang làm trước:
Mây trắng lang thang mãi cuối trời
Gió chiều heo hút khắp nơi nơi
Cung đàn biết mấy dây chùng hẳn
Mái tóc bao nhiêu sợi lạnh rồi.
Chốn ấy tờ hoa đành lẻ ý
Mùa này chim nhạn có chung đôi?
Thương thay trên quãng đường chia ngả
Thì ngả nào không có lá rơi.
Vũ Hoàng Chương bèn có bài họa lại:
Lửa khóa mây then bốn vách trời,
Về đâu mộng cũng chẳng đành nơi.
Vẫn chưa ý gửi vào thơ được
Mà đã dâu toan hoác biển rồi.
Ngọn gió nghe chừng xoay mãi hướng
Vầng trăng ai nỡ xẻ làm đôi?
Tin thu lạnh lắm… rồng ao cạn,
Hà chỉ phòng thu lệ nến rơi.
Vũ Hoàng Chương và nữ hoàng thơ Đường luật Ngân Giang đã có bài liên ngâm. Cụ Vũ khởi phát:
Tình đã trần gian mấy thuở rồi.
Hồn thơ chung một hướng về ngôi
Bước chân Bắc đẩu vàng toan dạo
Khóe mắt Thiên hà bạc muốn trôi.
Ngân Giang đọc tiếp hai câu kế:
Thuyền buộc quê xưa, lòng họ Đỗ
Hoa cười năm ngoái, hận chàng Thôi.
“Họ Đỗ” ngầm hiểu Đỗ Phủ cũng được. Mà hiểu là “lòng nàng họ Đỗ” cũng chẳng sai vì Ngân Giang tên là Đỗ thị Quế.
“Hận chàng Thôi” được hiểu là Thôi Hộ. Tích xưa kể rằng Thôi Hộ làm thơ xong dán vào cửa căn nhà chàng đi ngang qua. Cô gái ở trong căn nhà đó đọc được bài thơ và cảm nó thành tương tư. Chưa đủ, cô chết vì tương tư! Vừa lúc đó chàng Thôi Hộ lại đi ngang nhà, mới hay người con gái vì đọc thơ chàng mà chết vì. Chàng bèn vào nhà, ngồi bên xác nàng còn ấm, than thở kể lể thì nàng sống lại. Thế là hai người thành vợ chồng sau đó. Ngân Giang muốn Vũ Hoàng Chương là Thôi Hộ và Ngân Giang là cô gái chết sống lại trong tích xưa.
Đó… người xưa thời Đường và người ít xưa hơn thời đầu thế kỷ 20 yêu nhau, họ phục tài nhau là thế đấy. Họ đối thoại với nhau bằng thơ. Thơ của họ thâm thúy, chứa nhiều điển tích và nhiều ẩn ý sâu bên trong, vậy mà “hai ta” vẫn hiểu thấu lòng nhau.
Viết đến đây, tôi lại rất thương cảm cho cụ bà Đinh Thục Oanh, người đã trân mình mà vui sống với cụ Vũ. Bà Thục Oanh là một người một người vợ đúng tiêu chuẩn cho những nhà văn nhà thơ, nghệ sĩ nhiều tài, nhiều tật và đa tình như cụ Vũ. Bà đã trân mình chịu đựng những cơn sóng tình của chồng mà không ta thán. Và nhờ thế chúng ta ngày nay mới có một kho tàng thơ Vũ Hoàng Chương.
Nói về sóng tình của Vũ Hoàng Chương thì phải kể thêm ngọn sóng nhỏ, nàng Ysabel Baes. Vũ Hoàng Chương choáng ngợp vì nhan sắc tươi trẻ của nàng tuổi 15. Hai người gặp nhau tại Bỉ, Hội nghị Quốc tế về Thơ năm 1959. Vũ Hoàng Chương lại một phen lặn hụp vì nàng tiên này…
Nguyệt đúng rằm, không bợn chút mây,
Đắng lòng, thần nữ cũng co tay!
Sắc ngang hoa hậu, tài thi bá,
Nước Bỉ vì đâu được báu này?
…
Sao cũng mê nàng, sao bỏ ngôi.
…
Xanh tuổi trăng tròn, xanh bát ngát
Trời xanh chết đuối mắt Ysa
Trái tim Vũ Hoàng Chương quả là nhiều ngăn!? Ngăn ông chứa người tình đầu, ngăn ông chứa người có duyên mà không nợ, ngăn cho người có nợ mà không duyên… Cứ hễ có tài và sắc là ông lại mở ngăn tim ra cất vào!
“Thơ Say, Vân Muội, Thiên Đường Lại Mở, Cô Gái Ma, Trương Chi, Hồng Diệp, Tâm Tình Người Đẹp…” là những tập thơ được Vũ Hoàng Chương sáng tác khi lòng yêu dâng trào. Thơ tuôn ra từ trái tim chàng thanh niên hay ông trung niên đều rất cuồng nhiệt.
Nhưng khi ông khóc mẹ thì bài “Tái Nhập Bào Thai” là bài thơ khóc mẹ gây nhiều xúc động cho độc giả.
Bước giật lùi đi trước áo quan
Về cho tới phút Mẹ sinh con
Mẹ vào lòng đất – nhưng lòng Mẹ
Con cũng vào đây – Mẹ chớ buồn
…
“Tiếng Gọi Mẹ”
Ngôn ngữ trần gian túi rách
Đựng sao đầy hai tiếng “Mẹ ơi!”
Văn tự chiếc xe mòn xọc xạch
Đường sang cõi Mẹ ngàn trùng xa khơi…
Thơ chính trị thời sự
Thời gian 1963, nhiều năm sau ngày di cư vào Nam” – 1954, tại Sài Gòn miền Nam Việt Nam, tình hình chính trị sôi động chính phủ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, Vũ Hoàng Chương cho in tập thơ “Trời Một Phương, Lửa Từ Bi”.
Gọi hết LỬA vào xương da bỏ ngỏ
Phật pháp chẳng rời tay…
Sáu ngã luân hồi đâu đó
Mang mang cùng nín thở
Tiếng nất lên ngừng nhịp Bánh Xe Quay.
Không khí vặn mình theo
Khóc òa lên nổi gió
Người siêu thăng…
Giông bão lắng từ đây.
Bóng người vượt chín tầng may
Nhân gian mát rợi bóng cây Bồ-Đề.
…
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc,
Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi
Chỗ Người ngồi: một thiên thu tuyệt tác,
Trong vô-hình sáng chói nét Từ-Bi.
Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?
Ngọc đá cũng thành tro,
Lụa tre dần mục nát,
Với Thời-gian lê vết máu qua đi
Còn mãi chứ! còn TRÁI TIM BỒ TÁT
Gội hào quang xuống tận ngục A-tỳ.
Khi nhà thơ cùng tâm hồn thơ phải lên tiếng thành ý thơ và lời thơ vì chính trị-xã hội, có nghĩa là thời sự lúc bấy giờ phải vô cùng nóng và bức xúc. Phật giáo bị đàn áp đến cùng cực nên cụ Vũ lên tiếng.
Và bài thơ “Vịnh tranh Gà Lợn,” có lẽ là bài thơ cuối cùng ông làm trong đời, do vì chính trị sau ngày mất nước 1975 thật tàn khốc đối với ông.
Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,
Gà lợn, om sòm rối bức tranh.
Rằng vách có tai, thơ có họa,
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,
Lòng lợn âm dương một tấc thành.
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.
Làm xong bài này, nguồn thơ cạn và ngày 7 tháng 9 năm 1976, Vũ Hoàng Chương từ giã cõi đời.
Nếu xét về số lượng thơ chính trị-thời sự với thơ tình của cụ Vũ thì nó lệch cán cân nhiều lắm. Hình như Vũ Hoàng Chương chỉ mang chính trị vào thơ khi ông bị dồn đến đường cùng. Lúc ấy cụ Vũ phải làm thơ. Thơ là lối thoát để có một “lỗ hở” để thở, bằng không cụ Vũ chỉ chọn làm thơ tình mà thôi!
Thơ trong học đường
Cụ Vũ Hoàng Chương cùng gia đình vào đến Sài Gòn, để sống còn nơi đất mới, chỉ có nghề dạy học là tương đối hợp với con người “thơ” như Cụ. Cụ nhận dạy môn Văn Chương với một số giờ ít ỏi tại hai trường Văn Lang và Chu Văn An. Học trò yêu quý cụ vì những giờ giảng bài trên lớp luôn hấp dẫn, bằng những thí dụ bằng thơ được cụ đọc lên trong lớp. Cụ đọc thơ cụ như một độc giả đọc thơ một tác giả nào khác…
Gió bỗng đổi chiều, trên táp xuống
Nặng trĩu hai vai, nàng cố gượng
Thắt vòng tay ghì riết lưng ta
Những luồng run chạy khắp thịt da ngà.
Run vì sợ hay vì ngây ngất?…
… Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi tay, ngả đôi chân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió,
Không biết nữa, màu xanh hay sắc đỏ
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta.
Kết thúc bài thơ cụ Vũ phán: “… tác giả chưa hề biết đàn bà!” “… tác giả chưa hề biết khiêu vũ!”, học trò ngỡ ngàng và bừng tình nhìn Ông thầy của mình một cách thú vị!
Do vậy trong buổi Tưởng niệm 50 năm ngày giỗ và ra mắt sách Vũ Hoàng Chương, nhà thơ Đỗ Quý Toàn đã nói “Vũ Hoàng Chương đặt mình vào nhiều hoàn cảnh, nhiều con người để làm thơ.” Thơ Vũ Hoàng Chương biến hóa thiên hình vạn trạng là nhờ vậy.
Nhà thơ Đỗ Quý Toàn còn kể rằng: Nhớ lại thuở trước 1974, nhà thơ thường nghèo. Cụ Vũ sống thanh bạch vì chỉ sống với thơ, nên nghèo! Ông Chu Tử, chủ nhiệm tờ báo Đời, hằng năm cứ vào dịp Tết đều biếu cụ Vũ một số tịnh tài kha khá để ăn Tết. Đó là những tấm lòng yêu thơ, nuôi dưỡng để những dòng thơ được trôi chảy cho đến đời sau. Ở đời, từ ngàn xưa đến ngàn sau “định mệnh nghèo” cho người Thơ, nhà Thơ… họ đều không thoát khỏi sự khắc nghiệt này. Và họ rất cần những mạnh thường quân như ông Chu Tử là vậy.
Đọc Vũ Hoàng Chương là học cái “Chân Thiện Mỹ.” Yêu Vũ Hoàng Chương là sống với cái “tâm lành thiện.” Độc giả thấm Vũ Hoàng Chương trong tâm là vô hình chung mình đã có được vốn sống ở đời để trở thành NGƯỜI, không phải là NGỢM!
Mong rằng ở đời còn nhiều người thích đọc thơ nói chung và yêu thơ cụ Vũ nói riêng.
Doãn Cẩm Liên
California, ngày 24/9/2026
Tham khảo
https://www.youtube.com/watch?v=38Y0x65Vnlc
https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2024/06/29/hoang-hac-lau-qua-doi-mat-thanh-tam-tuyen/

