VŨ THỊ PHƯƠNG ANH
‘Nhà nghiên cứu tiếng Việt’ ít được biết đến tại Việt Nam
Tên của ông là Joseph Marie de Morrone. Và ông là một trong những nhà truyền giáo đến Việt Nam vào thế kỷ 19.
Đó là một cái tên khá xa lạ bên cạnh những cái tên như Alexandre de Rhodes, Pigneau de Béhaine hay Jean-Louis Taberd. Morrone không để lại một công trình đồ sộ như Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum của Alexandre de Rhodes hay Dictionarium Anamitico-Latinum của Taberd.
Trang chính thức của Tổng Giáo phận Sài Gòn, khi kể lịch sử Giáo xứ Chợ Quán, chỉ nhắc đến “Cha Joseph Marie de Morrone” như vị mục tử thừa sai Phanxicô cuối cùng coi sóc họ đạo, khép lại 115 năm hoạt động của dòng Phanxicô tại Đàng Trong, mà không nhắc đến những ghi chép về tiếng Việt của ông.[1] Trong những nghiên cứu về lịch sử chữ Quốc ngữ tại Việt Nam, ông cũng là một nhân vật mờ nhạt. Tuy nhiên, hai bản thảo danh mục từ vựng tiếng Việt của con người không mấy nổi tiếng ấy, qua một con đường bất ngờ, đã vượt biển đến Hoa Kỳ và lọt vào tầm mắt của giới học thuật Mỹ.[2]
Morrone đến Đàng Trong trước hết với tư cách một nhà truyền giáo. Công việc của ông là sống giữa những con người mình phục vụ và nói với họ về điều mình tin. Muốn vậy, một tu sĩ từ nước Ý xa xôi đến sinh sống ở Đàng Trong đầu thế kỷ XIX phải học tiếng của những người chung quanh để có thể tồn tại và hòa nhập vào văn hóa của đất nước xa lạ này.
Phần lớn những gì ông đã làm trong cuộc đời mục vụ không còn lại trong sách vở; di sản ấy như thế nào có lẽ chỉ có Chúa biết. Nhưng một cơ duyên đặc biệt đã giữ lại cho chúng ta một phần câu chuyện về ông: cuộc gặp gỡ với thuyền trưởng người Mỹ John White.
Những trang giấy vượt Thái Bình Dương
Trong A Voyage to Cochin China, John White phác họa Morrone khoảng năm mươi tuổi, “mild and unassuming” (hiền hòa, khiêm nhường), “dignified yet conciliating” (đĩnh đạc, hòa nhã), có học thức và khả năng quan sát tốt.[3]
John White thừa nhận đã học được rất nhiều về Đàng Trong từ vị giáo sĩ ấy: “to him am I indebted for much of the information in this volume which relates to Cochin China.”[4] Nhờ cuộc gặp ấy, hơn hai trăm năm sau, lịch sử vẫn còn nhìn thấy thấp thoáng một con người mà nếu chỉ dựa vào những công trình lớn, có lẽ rất dễ bị bỏ qua.
Từ cuộc gặp gỡ giữa hai người, những ghi chép về tiếng Việt của Morrone đã được trao cho White. Vị thuyền trưởng người Mỹ này sau đó đã đem hai bản danh mục từ vựng do Morrone làm tác giả về Hoa Kỳ trao cho East India Marine Society tại Salem. Đến năm 1841, The North American Review đăng một bài review nhắc lại rằng chính hai bản thảo ấy đã dẫn đến công trình nghiên cứu của Peter Stephen Du Ponceau. Một điểm đáng chú ý là chính The North American Review nhận xét rằng trước khi hai tập từ vựng này được công bố, tiếng Đàng Trong vẫn nhận được rất ít sự chú ý của giới học giả.[5]
Một ngôn ngữ đầy nhạc tính
Điều đáng chú ý hơn cả là những ghi chép ấy cho thấy khả năng quan sát nhạy bén cũng như Morrone đã sống gần gũi với người Việt như thế nào: ông đã nghe ra thanh điệu. Ông viết rằng khi người Đàng Trong nói, họ giống như đang hát, và ngôn ngữ này có sáu thanh: năm thanh có dấu riêng, còn thanh thứ nhất không có dấu, được ông hình dung như một “fundamental tone” hay “keynote”.[6] Ông còn thử dùng nốt nhạc để biểu diễn các thanh tiếng Việt — một thử nghiệm tò mò được The North American Review phục hồi và in lại.[7] Để ghi lại điều đó hơn hai trăm năm trước, một người nước ngoài phải nghe đủ lâu để nhận ra sự thay đổi cao độ không phải là lên xuống giọng tùy ý, mà có chức năng phân biệt ý nghĩa.
Tất nhiên, Morrone không phải nhà ngôn ngữ học theo nghĩa hiện đại. Nhưng những gì ông để lại cho thấy ông đã làm một công việc mà ngày nay chúng ta có thể nhận ra như một hình thức nghiên cứu và ghi chép về tiếng Việt. Điều đáng chú ý hơn nữa nằm ở chỗ đơn giản: ông đã chịu khó lắng nghe. Không có những phương tiện tra cứu tức thời như ngày nay, việc học một ngôn ngữ xa lạ đòi hỏi rất nhiều nghe, hỏi, quan sát và sửa sai. Ta có thể hình dung rằng đằng sau những từ ngữ được ghi lại ấy là tiếng nói của những người Việt mà Morrone đã nghe, đã hỏi và đã học từ họ.
Khi người dạy trở thành người học
Ở điểm này có một sự đảo chiều rất đẹp. Morrone là một linh mục có học thức đến từ châu Âu, mang theo một sứ điệp muốn rao giảng. Nhưng trước tiếng Việt, tất cả những điều ấy ông mang theo để phổ biến đã bị một nút chặn nhất thiết phải vượt qua: rào cản ngôn ngữ. Thiếu một ngôn ngữ để diễn đạt những điều muốn nói thì người biết cũng như người không biết. Ở đây, ông cần một loại hiểu biết khác: biết tiếng Việt.
Oái oăm thay, người biết tiếng Việt lại chính là những người mà ông đã đến để giảng dạy. Và một sự đổi vai ngoạn mục đã diễn ra: người đến để dạy phải chấp nhận trở thành người học. Đằng sau mỗi tập từ vựng hay cuốn từ điển cổ luôn có một hành trình khó nhọc mà ít ai nhìn thấy: có những người nói và những người cố gắng nghe, có rất nhiều lần nghe sai được sửa lại, và có những giờ khắc âm thầm tìm cách ghi lại và giữ lấy những âm thanh của tiếng Việt bằng chữ viết.
Những tập từ vựng Morrone trao cho White đã vượt Thái Bình Dương, sau đó trở thành tư liệu cho Du Ponceau suy nghĩ về những vấn đề lớn hơn liên quan đến tiếng Việt, tiếng Hán và bản chất chữ viết.[8][9] Chỉ trong một câu chuyện nhỏ đã có chuỗi những cuộc gặp nối tiếp nhau: một người Ý học tiếng Việt, trao hiểu biết của mình cho một thuyền trưởng Mỹ, để rồi những ghi chép ấy trở thành một phần của cuộc tranh luận học thuật ở cách xa nửa vòng trái đất.
Điều còn lại sau hai thế kỷ
Những gì còn lại về Morrone thật ra rất ít. Chúng ta không có hồi ký để biết ông nghĩ gì về những năm tháng sống giữa người Việt, cũng không biết ông đã học tiếng Việt với ai và việc ghi chép những tập từ vựng ấy diễn ra trong bao lâu. Nhưng có một điều mà chính những trang giấy còn lại cho phép chúng ta nhìn thấy: ông đã nghe tiếng Việt rất chăm chú. Qua đôi tai của một người truyền giáo phương Tây hơn hai trăm năm trước, tiếng Việt hiện ra như một ngôn ngữ có âm điệu gần với tiếng hát, với sáu thanh mà ông thậm chí đã thử ghi lại bằng nốt nhạc.
Hai tập từ vựng nhỏ bé của Morrone là dấu vết còn sót lại của cuộc gặp gỡ giữa một người đến từ rất xa và những người Việt bình thường sống quanh ông. Chúng ta không biết tên những người đã nói để Morrone nghe, đã giải thích cho ông hiểu hay sửa lại khi ông nói chưa đúng. Nhưng chính vì muốn nói với họ, ông đã phải đổi vai: người đến để giảng dạy trước hết phải trở thành người học.
Hai thế kỷ sau, có lẽ đó lại là điều đáng nhớ nhất trong câu chuyện về một nhà truyền giáo ít được nhắc đến trong lịch sử nghiên cứu tiếng Việt. Ông đến với một sứ điệp muốn trao cho người khác, nhưng để có thể trao được sứ điệp ấy, ông phải đến gần họ, nghe ngôn ngữ của họ và học từ họ.
Đọc lại mẩu chuyện nhỏ về Morrone hôm nay, khi thế giới vẫn đầy chiến tranh, bất ổn và những chia rẽ ngày càng sâu, câu chuyện ấy dường như còn gợi ra một điều rộng hơn. Con người ngày nay có rất nhiều phương tiện để cất tiếng và đưa tiếng nói của mình đi rất xa, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta hiểu nhau hơn. Giữa những tiếng nói ngày càng lớn và những lập trường ngày càng khó gặp nhau, khả năng dừng lại để nghe người khác, cố hiểu ngôn ngữ và thế giới của họ, có lẽ lại càng cần thiết.
Từ câu chuyện của một người đến để nói nhưng trước hết phải học ngôn ngữ của những người mình muốn nói với, ta có thể rút ra một điều rất đơn giản:
Trước khi cất tiếng, hãy lắng nghe.
—
Chú thích và nguồn tư liệu
[1] Ban Mục vụ Truyền thông Giáo xứ Chợ Quán, “Giáo xứ Chợ Quán 2019,” Tổng Giáo phận Sài Gòn, 26-11-2019. Bài viết của Tổng Giáo phận nhắc đích danh “Cha Joseph Marie de Morrone” và xác định ông là vị thừa sai Phanxicô cuối cùng coi sóc họ đạo Chợ Quán, kết thúc 115 năm hoạt động truyền giáo của dòng Phanxicô tại Đàng Trong.
[2] Về con đường những tư liệu ngôn ngữ gắn với Morrone đến Hoa Kỳ, xem “The Cochin-Chinese Language,” The North American Review 52, no. 111 (April 1841): 404–423, đặc biệt 407–408. Bài báo cho biết hai bản thảo từ vựng tiếng Đàng Trong thuộc East India Marine Society tại Salem do Captain John White trao tặng, và chính việc tiếp cận những bản thảo này đã dẫn Peter Stephen Du Ponceau đến việc nghiên cứu tiếng Đàng Trong.
[3]–[4] John White, A Voyage to Cochin China (Boston: Wells and Lilly, 1823), 303. Các mô tả “mild and unassuming,” “dignified yet conciliating,” “of erudition and great observation,” cùng câu “to him am I indebted for much of the information in this volume which relates to Cochin China” đều nằm trong phần White trực tiếp viết về Morrone.
[5] “The Cochin-Chinese Language,” 407–408. Bài báo năm 1841 thuật lại provenance của hai manuscript vocabularies từ White đến East India Marine Society và vai trò của chúng đối với nghiên cứu của Du Ponceau; đồng thời nhận xét rằng trước khi hai tập từ vựng này được công bố, “very little attention had been given by scholars to the Cochin-Chinese.”
[6] “The Cochin-Chinese Language,” 418. Bài báo trích ghi chú của Morrone: “When the Cochin-Chinese speak, they sing; and they have six tones in their pronunciation.” Morrone phân biệt sáu thanh, trong đó năm thanh có dấu riêng, còn thanh thứ nhất không có dấu và được ông mô tả như “the fundamental tone” hay “key note”.
[7] “The Cochin-Chinese Language,” 418–419. Phần ký âm này đã bị M. de la Palun chủ ý lược bỏ khi cho in phần còn lại của bản từ vựng; The North American Review cho rằng thử nghiệm của Morrone đáng chú ý nên đã phục hồi và in lại trực tiếp từ bản thảo gốc.
[8] “The Cochin-Chinese Language,” 407. Bài báo ghi rõ hai manuscript vocabularies được John White trao cho East India Marine Society tại Salem và đánh giá việc White đem chúng về Hoa Kỳ là “a most important service to the literature of his country.”
[9] “The Cochin-Chinese Language,” 407–412; Peter Stephen Du Ponceau, A Dissertation on the Nature and Character of the Chinese System of Writing (Philadelphia, 1838). Các tư liệu tiếng Đàng Trong trở thành một phần cơ sở để Du Ponceau bàn rộng hơn về quan hệ giữa ngôn ngữ nói và chữ viết, đặc biệt trong cuộc tranh luận về bản chất của chữ Hán.
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/vu-thi-phuong-anh/

