Tiếng Việt và chuyến hải hành đến Mỹ đầu thế kỷ XIX

by Tim Bui
Tiếng Việt và chuyến hải hành đến Mỹ đầu thế kỷ XIX

VŨ THỊ PHƯƠNG ANH

Tháng Tư năm 1841, The North American Review đăng một bài viết dài gần hai mươi trang với nhan đề “The Cochin-Chinese Language” — “Tiếng Đàng Trong.” [“Cochin-Chinese” là tên người phương Tây thời ấy quen gọi cả nước ta theo tên vùng Đàng Trong — nơi các giáo sĩ Pháp hoạt động lâu đời nhất — nên trong bài báo, cụm từ này thực chất dùng để chỉ chung tiếng Việt, không phải riêng giọng nói của một vùng.] Về hình thức, đây là một bài điểm hai công trình của Giám mục Jean-Louis Taberd vừa được xuất bản ba năm trước đó tại Serampore, Bengal: Dictionarium Anamitico-Latinum và Dictionarium Latino-Anamiticum.[1]

Nhưng người viết không dừng ở việc giới thiệu sách. Ông dành phần lớn bài viết để bàn về chính thứ tiếng mà ông gọi là Cochin-Chinese hay Anamitic: âm thanh, thanh điệu, từ vựng, ngữ pháp, cách xưng hô, rồi từ đó đi sang những vấn đề ngôn ngữ học rộng hơn.

Nhưng trước khi đi vào nội dung bài báo, chúng ta hãy nhìn kỹ hai chi tiết trên đầu bài báo: năm 1841, và The North American Review. Chỉ cần đặt hai chi tiết ấy trở lại đúng thời đại của chúng, câu chuyện đã trở nên khá ly kỳ.

Trước hết là năm 1841. Việt Nam lúc ấy còn là Đại Nam dưới triều Minh Mạng; đó cũng là năm cuối cùng của triều vua này. Còn Hoa Kỳ chỉ mới lập quốc được hơn sáu mươi năm, có 26 tiểu bang và lãnh thổ còn rất khác nước Mỹ ngày nay; California chẳng hạn vẫn còn thuộc Mexico.

Thử nghĩ mà xem: trong một thế giới mà đi từ Đông Nam Á sang bờ Đông nước Mỹ còn là một cuộc hải hành dài nhiều tháng, tiếng Việt đã trở thành chủ đề của một bài viết học thuật dài gần hai mươi trang viết ở Boston. Đúng là wow thật chứ!

Chi tiết thứ hai là nơi bài viết xuất hiện. The North American Review được thành lập tại Boston năm 1815, khi bản thân Hoa Kỳ cũng chưa đầy bốn mươi tuổi. Trong lịch sử hơn hai thế kỷ của tạp chí từng có những tên tuổi như Ralph Waldo Emerson, Harriet Beecher Stowe, Frederick Douglass, Edith Wharton, rồi về sau John Steinbeck, William Carlos Williams và Flannery O’Connor.[2]

Trải qua hơn 200 năm với những thay đổi và cả những giai đoạn gián đoạn, tạp chí vẫn còn xuất bản đến hôm nay và hiện được đặt tại University of Northern Iowa.[3]

Vậy tác giả bài viết về tiếng Việt ấy là ai? Bài báo không ký tên, và đến nay vẫn chưa có đủ căn cứ để xác định chắc chắn tác giả. Sự vô danh ấy lại tạo nên một nét thú vị: gần hai thế kỷ sau, ta có thể đọc ông như một độc giả Mỹ ở thế kỷ XIX đang đứng trước một ngôn ngữ rất xa lạ và chăm chú tìm hiểu nó.

Ông đọc Taberd, biết đến những bản thảo tiếng Đàng Trong đã được John White mang về Mỹ, theo dõi công trình của Peter S. Du Ponceau, đem các nguồn tư liệu ra đối chiếu với nhau và ghi lại những điều mình đã khám phá. Nhờ thế, người Việt hôm nay mới có một cái thú đặc biệt: được nhìn tiếng mẹ đẻ của mình qua đôi tai và con mắt của một người xa lạ cách đây gần hai trăm năm.[4]

“Khi người Đàng Trong nói, họ hát”


Một trong những điều khiến người viết năm 1841 chú ý là âm thanh. Ông dùng cụm từ “musical intonation” — một ngữ điệu có tính nhạc — và cho rằng đặc điểm ấy ở tiếng Đàng Trong nổi bật hơn trong các ngôn ngữ châu Âu. Ông cũng nhắc đến Đại úy John White, người thường ví tiếng nói của người Việt với recitative, lối hát ngâm nói trong opera Ý.[5]

Nhưng John White là ai thế? Đó là một sĩ quan hải quân và thuyền trưởng người Mỹ, từng đến Đàng Trong vào đầu thế kỷ XIX. Khi trở về, White đã tặng East India Marine Society ở Salem, Massachusetts hai bản thảo từ vựng tiếng Đàng Trong. Một trong những bộ từ vựng mà White có được là của Linh mục Morrone, và chính từ đây bài báo năm 1841 trích lại một câu rất đáng nhớ:[6]

When the Cochin-Chinese speak, they sing.” — Khi người Đàng Trong nói, họ hát.[7]

Morrone giải thích rằng người Đàng Trong có sáu thanh trong phát âm. Sáu thanh là điều quá quen thuộc với người Việt hôm nay, nhưng đầu thế kỷ XIX lại đủ lạ để những người phương Tây phải quan sát, ghi chép và thậm chí nghi ngờ. M. de la Palun, người từng giúp Du Ponceau đối chiếu những từ tiếng Đàng Trong với tiếng Trung Hoa, viết: “We can hardly believe that the Cochin-Chinese have six tones” – Thật khó mà tin được rằng người Đàng Trong có đến sáu thanh (haha). Bài báo sau đó đem nhận xét ấy đối chiếu với Taberd, người cũng ghi nhận về sự tồn tại của năm dấu và sáu thanh.[8]

Một kiến thức trẻ em Việt Nam ngày nay học rất sớm hóa ra đã từng khiến những người ở cách Việt Nam nửa vòng trái đất phải đem các nguồn tư liệu ra kiểm tra với nhau. Và qua đôi tai của những người lần đầu tiếp xúc với nó, tiếng Việt nghe gần như hát.

“Tôi dạy con” và “Con dạy tôi”


Âm thanh không phải điều duy nhất khiến người viết tò mò. Sang phần ngữ pháp, những ví dụ ông chọn đến nay đọc vẫn rất dễ hiểu. “Toi day con” (nghĩa là “tôi dạy con”); đảo lại sẽ thành “con day toi” (“con dạy tôi”). “Cha con” là “cha của con,” “con cha” là “con của cha”. Các từ hoàn toàn không không thay đổi hình thức, nhưng chỉ cần đổi vị trí thì quan hệ và ý nghĩa giữa chúng cũng thay đổi.[9]

Động từ của Tiếng Đàng Trong đem đến một điều khác lạ đối với một người quen với các ngôn ngữ châu Âu. Theo cách mô tả của bài năm 1841, Tiếng Đàng Trong không có conjugation, tức phép chia động từ theo nghĩa quen thuộc. Với động từ “mến,” người Việt có thể nói “tôi mến,” thêm “đã” thành “tôi đã mến,” thêm “sẽ” thành “tôi sẽ mến,” nhưng bản thân “mến” vẫn không thay đổi.[10]

Cách xưng hô của Tiếng Đàng Trong cũng khiến người viết phải dừng lại. Ông ghi “toi, may, no”  (tức tôi, mày, nó) nhưng ngay sau đó thêm rằng “politeness seldom permits the use of these forms”: phép lịch sự hiếm khi cho phép cứ sử dụng những hình thức ấy. Người ngang hàng có thể gọi là anh; với người trên phải dùng  “ông,” “người,” hoặc “ngài.”[11]

Đọc đến đây, người Việt hôm nay có lẽ sẽ mỉm cười. Chuyện gặp một người rồi phải biết tuổi tác, quan hệ hay vị trí của họ trước khi quyết định nên gọi là anh, chị, cô, chú, bác hay ông là điều vẫn diễn ra qua mỗi lần tiếp xúc hàng ngày, quá quen thuộc với chúng ta. Nhưng qua mắt một người xa lạ, nó bỗng trở thành những hiện tượng ngôn ngữ đáng để dừng lại quan sát.

Những chuyến đi xa của tiếng Việt


Bài báo năm 1841 cũng hé ra một câu chuyện khác: những hiểu biết về tiếng Việt ấy đã đi đến Mỹ bằng cách nào?

Một con đường đi qua hai cuốn từ điển của Taberd, in tại Serampore năm 1838. Chính Taberd cho biết công trình của mình nhằm giúp các nhà truyền giáo, người bản xứ và những người muốn học ngôn ngữ này. Ở cuối Dictionarium Latino-Anamiticum, ông còn đặt một Vocabularium Anglicum, Gallicum, Latinum et Cocincinense – một bộ từ vựng đặt English, French, Latin và tiếng Việt cạnh nhau – dành cho “lữ khách và thương nhân” cần dùng tiếng Việt. Chỉ ba năm sau khi được in ở Bengal, hai cuốn từ điển đã xuất hiện trong một bài review ở Bắc Mỹ vào năm 1841 mà ta đang nhắc đến. Đó thực là một dấu vết rất cụ thể cho thấy tri thức về tiếng Việt đã lưu chuyển ra ngoài không gian nơi nó được hình thành và biên soạn ra sao.[12]

Một con đường khác còn ly kỳ hơn, và cũng bắt đầu sớm hơn: đó là hai bản thảo về tiếng Việt (lúc ấy còn được gọi là Tiếng Đàng Trong) mà John White mang về Salem. Bài báo năm 1841 cho biết chúng được East India Marine Society lưu giữ, được Du Ponceau sử dụng trong nghiên cứu và còn thu hút sự chú ý của một số nhà Đông phương học Pháp.[13]

Du Ponceau đã dùng dữ liệu tiếng Việt trong những nghiên cứu rộng hơn về tiếng Trung Hoa và bản chất của chữ viết Trung Hoa. Có nghĩa là từ đầu thế kỷ XIX, Tiếng Việt đã không chỉ là một thứ tiếng người ngoại quốc muốn học để giao tiếp, mà trở thành dữ liệu trong những cuộc thảo luận học thuật.[14]

Chỉ riêng câu chuyện của John White và hai bản thảo ấy đã đủ tư liệu thú vị để có thể hình thành nên một (vài) bài viết khác. Ở đây chúng ta chỉ cần biết rằng East India Marine Society, thành lập năm 1799, về sau trở thành một trong những tổ chức tiền thân của Peabody Essex Museum. Phillips Library của bảo tàng ngày nay vẫn bảo tồn một kho lớn sách, bản thảo, bản đồ, nhật ký hàng hải và những tư liệu được tích lũy qua lịch sử của các thiết chế tiền thân.[15]

Trở lại hai bản thảo về Tiếng Đàng Trong mà John White trao cho East India Marine Society. Hiện nay ta chưa biết liệu chúng vẫn còn nằm trong kho hay đã đi qua một hành trình khác. Nhưng biết đâu một ngày nào đó, một nhà nghiên cứu Việt Nam sẽ đến tận Salem, lần theo catalogue và những hồ sơ cũ để tìm chúng. Nếu những trang giấy ấy vẫn còn, được tận mắt nhìn thấy những bản thảo đã mang tiếng Việt vượt đại dương đến Mỹ hơn hai trăm năm trước hẳn sẽ là một cuộc gặp gỡ rất đặc biệt.

“Hiểu nhiều, càng yêu thêm”

The Cochin-Chinese Language là một văn bản của năm 1841. Cách gọi Cochin-Chinese, những phạm trù ngữ pháp được sử dụng và một số nhận định trong bài đều mang dấu ấn tri thức của thế kỷ XIX. Nhưng gần hai trăm năm sau, đọc lại sự tò mò và chăm chú của người một người Mỹ vô danh trước tiếng Việt như một hiện tượng ngôn ngữ lạ lẫm, ta vẫn thưởng thức được nguyên vẹn sự thú vị của nó.

Câu chuyện tiếng Việt đi ra thế giới thật ra còn dài hơn rất nhiều. Chỉ riêng hành trình của John White và hai bản thảo Tiếng Đàng Trong mà ta đã đề cập nhiều lần trong bài viết này đã đủ có nhiều điều để lần theo; rồi còn Taberd, những cuốn từ điển, những người ngoại quốc đã học và mô tả tiếng Việt, và cả lịch sử chữ Quốc ngữ còn nhiều điều đáng khám phá. Đằng sau những công trình mang tên các giáo sĩ phương Tây hẳn cũng có những người Việt đã giải thích cách dùng, cung cấp ví dụ và tri thức về chính ngôn ngữ của mình, dù nguồn tư liệu hiện còn chưa cho phép nhận diện đầy đủ họ là ai. Đây cũng là giới hạn mà nghiên cứu về các công trình Taberd cần thừa nhận.[16]

Có lẽ cứ hiểu thêm một chút về tiếng Việt và những cuộc đời mà nó đã đi qua, người ta lại có thêm một lý do để yêu thứ tiếng mình vẫn nói mỗi ngày. Sáu thanh, đã, sẽ, cách ý nghĩa thay đổi theo vị trí của từ, cách người Việt gọi nhau — những điều quá quen thuộc với chúng ta đã từng khiến những người ở cách nửa vòng trái đất tò mò, ngạc nhiên và bỏ công tìm hiểu.

Hơn một thế kỷ sau bài báo ấy, Phạm Duy viết:

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…”

Đọc lại một bài báo cũ ở Mỹ năm 1841, bỗng thấy câu hát ấy có thêm một dư âm khác.

Dư âm vang lên từ một vùng đất “bốn ngàn năm ròng rã biển khơi”…

Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/vu-thi-phuong-anh/

Ghi chú


[1] “The Cochin-Chinese Language,” The North American Review 52, no. 111 (April 1841): 404–423. Bài viết mở đầu bằng việc điểm hai từ điển của Jean-Louis Taberd xuất bản tại Serampore năm 1838.

[2] The North American Review, “About,” https://northamericanreview.org/about. Trang lịch sử của tạp chí ghi nhận tạp chí được thành lập tại Boston năm 1815 và liệt kê nhiều tác giả nổi bật từng xuất hiện trên tạp chí.

[3] The North American Review, “About,” https://northamericanreview.org/about. Trang này cũng cho biết tạp chí hiện gắn với University of Northern Iowa.

[4] “The Cochin-Chinese Language,” 407–408, và các phần tiếp theo của bài. Bài viết thảo luận hai bản thảo từ vựng do John White trao cho East India Marine Society và nhiều lần đối thoại với công trình của Peter S. Du Ponceau.

[5] “The Cochin-Chinese Language,” 417–418. Bài viết mô tả tiếng Đàng Trong có “musical intonation” nổi bật hơn các ngôn ngữ châu Âu và nhắc so sánh của John White với recitative trong opera Ý.

[6] “The Cochin-Chinese Language,” 407–408. Bài viết cho biết hai bản thảo từ vựng tiếng Đàng Trong thuộc bộ sưu tập của East India Marine Society ở Salem và do Captain John White trao tặng.

[7] “The Cochin-Chinese Language,” 418: “When the Cochin-Chinese speak, they sing.”

[8] “The Cochin-Chinese Language,” 418–419. Bài viết trích Morrone về sáu thanh, nhận xét của M. de la Palun, rồi đối chiếu với Taberd về năm dấu và sáu thanh.

[9] “The Cochin-Chinese Language,” 414–415. Các ví dụ “toi day con / con day toi” và “cha con / con cha” được dùng để minh họa vai trò của trật tự và sự đặt cạnh nhau trong quan hệ ngữ pháp.

[10] “The Cochin-Chinese Language,” 415–416. Bài viết viết rằng “there is, properly speaking, no conjugation of the verb” và minh họa bằng men, toi men, toi da men, toi se men. Xem thêm Le, Quang Anh, “Vietnamese Tense Marking since the Seventeenth Century: A Historiographical Analysis,” Open Linguistics 10 (2024): 20240038.

[11] “The Cochin-Chinese Language,” 415. Phần Pronouns ghi toi, may, no và nhận xét “politeness rarely allows the use of these,” rồi nêu anh, ong, nguoi, ngai trong các quan hệ xã hội khác nhau.

[12] Jean-Louis Taberd, Dictionarium Anamitico-Latinum (Serampore: J. C. Marshman, 1838), “Monitum.” Taberd nêu mục đích giúp các nhà truyền giáo, học viên bản xứ và người muốn học ngôn ngữ này; đồng thời nói rõ việc bổ sung Vocabularium Anglicum, Gallicum, Latinum et Cocincinense “in viatorum et mercatorum utilitatem” (vì lợi ích của lữ khách và thương nhân).

[13] “The Cochin-Chinese Language,” 407–408. Bài viết cho biết hai bản thảo thuộc East India Marine Society, do John White trao tặng, và từng được một số nhà Đông phương học Pháp đề nghị cho xuất bản.

[14] “The Cochin-Chinese Language,” đặc biệt 407–413. Bài viết đặt dữ liệu tiếng Đàng Trong trong cuộc thảo luận với các luận điểm của Peter S. Du Ponceau về tiếng Trung Hoa và chữ viết Trung Hoa.

[15] Peabody Essex Museum, “Phillips Library,” https://www.pem.org/phillips-library. Trang giới thiệu thư viện trình bày lịch sử các bộ sưu tập và nguồn tư liệu hình thành qua các thiết chế tiền thân của bảo tàng.

[16] Về lịch sử hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ qua các tư liệu sớm, xem Nguyễn Thị Thu Vân, Il Quốc Ngữ: l’origine e l’evoluzione della scrittura romanizzata del Vietnam in tre documenti inediti dell’Archivio Segreto Vaticano (luận án tiến sĩ, Sapienza – Università di Roma, 2014–2015). Nhận định về những người Việt tham gia cung cấp tri thức ngôn ngữ trong các công trình giáo sĩ ở đoạn này được trình bày như một suy luận thận trọng của bài viết, không phải là việc nhận diện được các cá nhân cụ thể từ nguồn hiện có.

You may also like

Verified by MonsterInsights