PHƯƠNG ANH
Tôi nhớ ngay đến lời cảnh báo này của Julius Fučík sau khi tình cờ đọc được một bài báo đăng trên tờ Financial Times gần đây.
Julius Fučík là ai, câu trả lời xin khất đến cuối bài. Còn tờ Financial Times thì quá nổi tiếng, chắc ai cũng biết rồi. Nhưng có lẽ không phải ai cũng để ý rằng thỉnh thoảng tờ báo chuyên về kinh tế và tài chính này lại có những bài viết mang tính triết học sâu sắc.
Vâng, vào ngày Bảy tháng Mười vừa qua, tờ báo có tên nghe rất thực dụng này đã đăng một bài chẳng ăn nhập gì đến tài chính cả: How AI tempts the lazy mind – dịch nôm na là AI cám dỗ một bộ óc lười biếng như thế nào.
Là một người thường xuyên dùng AI trong việc viết lách, lại cũng là một người có bộ óc khá lười biếng, tựa bài báo đã làm tôi tò mò ngay lập tức. Nhưng câu chuyện ở đầu bài báo lại còn thú vị, hấp dẫn hơn cả cái tựa nữa.
Jack Clark, một trong những người sáng lập Anthropic, công ty đứng sau Claude, trong một cuộc nói chuyện với chương trình Planet Money của NPR đã nhắc đến The Screwtape Letters của C. S. Lewis.
Clark nhớ rằng trong cuốn sách được viết “cách đây một trăm năm” ấy có chuyện một con quỷ hí hửng mừng vui báo tin rằng “con người” mà nó đang tìm mọi cách để cám dỗ đã sắm được một phát minh mới gọi là điện thoại. Từ nay, con quỷ không cần phải vắt óc ra suy nghĩ xem phải cám dỗ anh ta bằng cách nào nữa. Vì mỗi khi anh ta có cơ hội một mình thinh lặng suy nghĩ về kiếp nhân sinh rồi đến gần Thiên Chúa hơn, đã có sẵn chiếc điện thoại ở đấy để cám dỗ anh ta rồi.
Đến đây tôi muốn tìm ngay The Screwtape Letters để đọc. Vì không thể ngờ từ cả trăm năm trước ông đã suy nghĩ về tác động của công nghệ lên con người theo cách gần với những điều chúng ta đang lo lắng ngày hôm nay đến thế.
Có điều, khi Tim Harford, tác giả bài viết trên Financial Times, xem kỹ lại thì thấy một chuyện khá buồn cười: Clark đã nhớ sai gần hết.
Trước tiên, The Screwtape Letters không được viết cách đây một trăm năm mà xuất bản năm 1942. Rồi những bức thư trong sách cũng không phải của một con quỷ cấp dưới viết báo cáo cho cấp trên, mà ngược lại: Screwtape, một con quỷ lão luyện, viết thư hướng dẫn cho Wormwood, đứa cháu còn non nghề đang tập cám dỗ một con người.
Và quan trọng nhất: trong The Screwtape Letters chẳng có cái điện thoại nào cả.
Chương trình Planet Money sau đó có thêm lời đính chính, nói rằng Lewis quả có viết về tiếng ồn như một thứ làm con người xao lãng, và ở một văn bản khác ông cũng có nói về những thiết bị như radio.
Harford tò mò đi tìm tiếp.
Ông gặp một câu khá nổi tiếng được gán cho Lewis, đại ý rằng nếu muốn tránh gặp Thiên Chúa thì hãy tránh sự im lặng, tránh cô tịch, cứ bận tâm đến tiền bạc, tình dục, địa vị, sức khỏe và những điều làm mình bất mãn; hãy cứ bật radio lên, sống giữa đám đông và đừng để mình có khoảng trống để suy nghĩ.
Nghe quả thật rất gần với câu chuyện Clark vừa kể.
Nhưng câu ấy Lewis viết ở đâu?
Harford đem câu đó đi tìm trên Google. Và trước cả những kết quả tìm kiếm thông thường, Gemini nhanh nhảu trả lời rằng ông đang trích hoặc diễn ý C. S. Lewis trong The Screwtape Letters.
Lại The Screwtape Letters!
Và lại sai.
Câu ấy thực ra nằm trong một bài viết của Lewis nhiều năm sau, The Seeing Eye, xuất bản năm 1963.
Đọc đến đây tôi bật cười vì tôi cũng từng bị Gemini cho một vố gần giống như vậy. Vài tháng sau khi Đức Giáo hoàng Leo XIV được bầu, tôi hỏi Gemini về một bài nói chuyện của ngài. Nó trả lời bằng thông tin về Đức Leo XIII và khẳng định không hề có Giáo hoàng Leo XIV; vị Giáo hoàng hiện tại đang là Đức Phanxicô! Chỉ khi tôi mắng nó và bắt nó tìm lại, nó mới xin lỗi vì thông tin chưa được cập nhật.
Chuyện cũng chẳng có gì ghê gớm. Tôi biết Gemini có thể sai, cũng như bây giờ chắc hầu hết những người thường xuyên dùng AI đều biết ChatGPT, Gemini hay Claude có thể sai.
Nhưng câu chuyện của C. S. Lewis lại khiến tôi nhớ đến một điều tôi đã suy nghĩ khá nhiều trong thời gian gần đây.
Công nghệ từ xưa đến nay vẫn thế. Mỗi khi cho con người thêm một khả năng, nó cũng có thể làm cho một khả năng khác của chúng ta ít được sử dụng hơn.
Có xe hơi, chúng ta đi nhanh hơn và xa hơn. Một quãng đường tổ tiên chúng ta phải đi bộ cả ngày thì bây giờ chúng ta chỉ cần ngồi lên xe. Nhưng cũng vì thế mà chúng ta đi bộ ít hơn, vận động ít hơn, sức khỏe kém đi, bụng to ra. Sau đó chúng ta lại phải dành riêng một giờ trong ngày để đi bộ hoặc đến phòng gym để chạy bộ, tức là tập làm lại chính cái việc mà trước kia cuộc sống bắt chúng ta phải làm.
Chẳng ai vì thế mà bảo phải bỏ xe hơi.
Cho nên nếu C. S. Lewis lo rằng tiếng ồn, radio và những tiện nghi của đời sống hiện đại có thể lấy mất những khoảng im lặng khiến con người suy nghĩ, tôi không nghĩ như thế là ông chống công nghệ. Công nghệ đem lại cho chúng ta những điều kiện sống tốt hơn, đồng thời thay đổi cách chúng ta sống. Có những thứ mất đi rất dễ nhìn thấy, nhưng cũng có những thứ chỉ đến một lúc nào đó chúng ta mới giật mình nhận ra.
Và bây giờ chúng ta có AI.
Điều Tim Harford lo lắng trong bài viết của mình là chúng ta biết AI thỉnh thoảng vẫn nói xạo, nhưng nó tiện quá nên ta vẫn dùng.
Nói cho công bằng, ngoài việc lâu lâu bị sai, thường thì AI vẫn mang lại rất nhiều lợi ích. Nếu lần nào hỏi nó cũng nói sai thì ta đã bỏ nó từ lâu. Nhưng chính vì nó thường trả lời đúng, lại nhanh, rõ ràng và vô cùng tiện lợi nên chúng ta bắt đầu tin nó. Một lần đúng, hai lần đúng, một trăm lần đúng. Đến lần thứ một trăm lẻ một, rất có thể ta chẳng còn buồn kiểm tra nữa. Dù biết là nó thỉnh thoảng vẫn sai.
Tôi hiểu nỗi lo ấy. Nhưng từ kinh nghiệm bản thân, tôi nghĩ còn có một nguy cơ khác đáng ngại hơn.
Không phải chỉ khi AI làm sai thì mới nguy hiểm. Có khi chính lúc nó làm quá tốt mới nguy hiểm.
Khi AI nói sai, ít ra vẫn còn một cái gì đó khiến ta có thể giật mình và kiểm tra lại. Nhưng nếu nó luôn có sẵn và luôn đúng thì chẳng có tín hiệu nào báo động cả. Ta chỉ thấy công việc của mình bỗng nhẹ đi rất nhiều.
Đó chính là lúc ta cần tự hỏi: phần việc vừa nhẹ đi ấy có phải là phần mà mình vẫn cần tự làm hay không?
Tôi nhận ra điều này khá rõ trong quá trình viết một bài nghiên cứu của mình về đánh giá giáo dục trong thời đại AI. Câu hỏi ban đầu của bài khá đơn giản: ngày nay sinh viên có thể dùng AI để làm bài, vậy nhìn vào một bài làm rất tốt, làm sao chúng ta biết được năng lực thể hiện trong bài ấy thực sự thuộc về người sinh viên đứng tên trên đó?
Chẳng hạn một sinh viên nộp một bài luận tiếng Anh rất hay. Trước đây, ít nhất chúng ta có thể tương đối yên tâm rằng bài viết cho thấy khả năng tiếng Anh, khả năng lập luận và kiến thức của em ấy. Bây giờ thì chưa chắc. Một người có năng lực tiếng Anh kém nhưng có sử dụng AI vẫn có thể nộp một bài tiếng Anh gần như hoàn hảo.
Vấn đề của đánh giá ngày nay không chỉ là bài làm tốt đến đâu, mà còn là năng lực thấy được trong bài ấy thực sự thuộc về ai.
Tôi bắt đầu bài nghiên cứu với câu hỏi dành cho sinh viên. Rồi trong khi viết, tôi khám phá ra câu hỏi ấy cũng dành cho chính mình.
Tôi cũng luôn dùng AI.
Phải nói thật là từ ngày có AI, công việc nghiên cứu và viết lách của tôi dễ hơn rất nhiều. Tôi có thể yêu cầu nó tìm những hướng nghiên cứu liên quan, giải thích một khái niệm, so sánh hai lý thuyết, phản biện một lập luận, sắp xếp lại một đoạn đang lộn xộn. Có những việc trước đây mất cả buổi thì bây giờ chỉ mất vài phút.
Thậm chí nhiều khi tôi mới nói một ý chưa thành hình, nó đã viết ra thành một đoạn hoàn chỉnh. Đọc xong thấy hay quá. Đúng quá. Chính là điều mình muốn nói.
Và đây mới là lúc phải coi chừng.
Bởi vì lấy một sản phẩm nhận thức do AI tạo ra thì dễ hơn rất nhiều so với việc lấy ý tưởng trong tác phẩm của người khác làm của mình. Khi lấy của người khác, tôi biết mình phải trích dẫn. Tên tác giả nằm ngay trước mắt tôi.
Còn AI thì vô danh. Nó đưa cho tôi một ý tưởng hay, một lập luận chặt chẽ, một đoạn văn đẹp. Tôi đọc đoạn văn, gật gù, đây đúng là điều mình đang nghĩ, rồi đặt vào bài viết và để tên mình lên trên.
Nhưng ý tưởng ấy có thực sự là của tôi không? Nếu có người chất vấn, tôi có bảo vệ được nó không? Nếu họ hỏi tại sao tôi đi từ lập luận này đến lập luận kia, tôi có giải thích được không? Nếu không còn AI bên cạnh, tôi có tiếp tục phát triển được ý tưởng ấy không?
Hay tôi chỉ giống một cậu học trò lười, nhờ người khác làm bài rồi mang đến trường nộp để lấy điểm?
Và xin đừng nghĩ chỉ những người dốt hoặc những sinh viên lười mới có nguy cơ ấy. Người có học vị, có chức vụ, có tên tuổi cũng có thể rơi vào tình trạng để AI làm thay quá nhiều phần việc trí tuệ của mình.
Tôi cũng chẳng dám cho rằng mình miễn nhiễm.
Trong quá trình viết chính bài nghiên cứu nói trên, đã có lúc tôi nhận ra AI đang đi nhanh hơn mình. Nó đưa ra những cách diễn đạt, những liên hệ, thậm chí những hướng lập luận mà tôi thấy rất hay. Nếu cứ thế nhận lấy thì bài của tôi có thể hoàn thành nhanh hơn nhiều.
Nhưng đến một lúc thì tôi nhận ra mình cần dừng lại.
Tôi cần quay về đọc tài liệu gốc, tự hỏi xem mình có thực sự đồng ý với điều vừa được viết ra hay không, bỏ đi những đoạn tuy rất trôi chảy nhưng không phải cách tôi suy nghĩ, rồi viết lại. Cũng có những ý ban đầu do AI gợi ra, nhưng sau khi tôi vật lộn với nó, phản đối nó, sửa nó, đem nó đối chiếu với những điều mình đã đọc và với kinh nghiệm của mình, cuối cùng tôi cũng có thể nói: được, bây giờ tôi hiểu điều này và tôi có thể nhận đó là của tôi.
Việc bỏ thời gian để vật lộn với ý tưởng và chữ nghĩa đó chính là một kiểu “tập gym”cho bộ não của mình. Đó là điều mình cần làm cho mình, chứ không phải vì AI làm dở mà mình mới phải làm.
Đến đây tôi mới thấy cái tựa How AI tempts the lazy mind của Tim Harford thật đắt. AI không ép chúng ta lười. Nó chỉ cám dỗ chúng ta.
Cám dỗ thì bao giờ chẳng hấp dẫn. AI hấp dẫn vì nó quá hữu ích, quá nhanh, quá tiện, ngày càng làm được những việc mà trước đây chúng ta phải mất rất nhiều năm học hành mới làm được.
Cho nên điều đáng sợ có lẽ không phải là AI làm sai hoặc nói xạo. Mà là nó ngày càng trở nên quá tốt.
Tốt đến mức chúng ta sẵn sàng giao cho nó những việc mà có lẽ mình vẫn cần phải tự làm, vì chính trong lúc tự làm những việc ấy, chúng ta mới thực sự trở thành con người, “những cây sậy có tư tưởng” (Pascal).
Trước khi kết thúc, vẫn còn một bất ngờ cuối cùng dành cho bạn. The Screwtape Letters được xuất bản năm 1942. Cũng năm ấy, trong nhà tù của Gestapo ở Praha, nhà báo Tiệp Khắc Julius Fučík đang viết những trang hồi ký mang tính phóng sự mà sau này được xuất bản dưới cái tựa Viết dưới giá treo cổ. Vâng, ông chính là tác giả của câu nói mà tôi dùng làm tựa bài báo này.
Nguyên văn đầy đủ của câu nói ấy là:
“Hỡi loài người, tôi yêu các bạn! Hãy cảnh giác!”
Hai câu chuyện hoàn toàn không liên quan. Và lời nói của Fučík được viết trong một hoàn cảnh xem ra khốc liệt hơn rất nhiều so với những điều tôi đang nói ở đây.
Nhưng đứng trước một công nghệ vừa hữu ích vừa có sức cám dỗ lớn như AI, có lẽ cũng cần một lời cảnh báo có sức nặng tương tự.
Vậy, xin mượn lời Fučík để kết thúc bài này:
Hỡi loài người, hãy cảnh giác!
Đọc thêm
- Tim Harford, How AI tempts the lazy mind, Financial Times, 7/10/2026:
https://www.ft.com/content/f5d01c83-6133-4a01-a9c7-f8a2067b7c32 - C. S. Lewis, The Screwtape Letters (xuất bản lần đầu năm 1942), Google Books:
https://books.google.com/books/about/The_Screwtape_Letters.html?id=WOu8ZKUAgpEC - Julius Fučík, Notes from the Gallows (Viết dưới giá treo cổ), Open Library:
https://openlibrary.org/works/OL3168703W/Report_from_the_gallows
Cùng một tác giả: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/tac-gia/a-to-h/vu-thi-phuong-anh/

