CHU DU
Có những chuyến đi mà khi khởi hành, người ta chỉ đơn giản nghĩ rằng mình sẽ đến một nơi, tham dự một sự kiện rồi trở về, nhưng đến khi chuyến đi kết thúc mới nhận ra rằng trên đường đi đã vô tình thu nhặt được biết bao câu chuyện vui, hồi hộp, cả chuyện bực bội lúc xảy ra nhưng sau này nhớ lại lại thấy buồn cười, và cũng có những khoảnh khắc rất bình thường mà càng nghĩ càng thấy quý giá.
Chuyến đi châu Âu lần này của gia đình tôi bắt đầu với một mục đích rất rõ ràng: sang Lisbon để dự lễ cưới của con gái vào ngày 30/9/2026. Vì đã đi một quãng đường khá xa từ San Diego sang châu Âu, chúng tôi quyết định ghé London trước hai ngày, rồi sau đám cưới sẽ sang Barcelona ở thêm hai đêm trước khi trở về Mỹ.
Đoàn chúng tôi cuối cùng gồm sáu người lớn và hai đứa trẻ, trong đó có vợ chồng tôi, hai con gái nhỏ, người em kết nghĩa Kevin cùng người bạn gái và một đôi bạn thân của gia đình.
Nếu nhìn trên bản đồ, hành trình chỉ gồm ba thành phố và thời gian ở mỗi nơi đều không dài, nhưng chính trong quãng thời gian ngắn ngủi ấy lại xảy ra đủ mọi chuyện để sau khi trở về, tôi cảm thấy đây không chỉ là một chuyến đi dự cưới mà gần như là một chương nhỏ của đời sống gia đình, trong đó niềm vui đoàn tụ trộn lẫn với những bất ngờ, tiếng cười, phút lo lắng và cả những bài học mà nếu không trực tiếp trải qua thì có lẽ khó cảm nhận hết.
London và một bài học rất đời thường
Chiều thứ Sáu ngày 25/9, chúng tôi rời San Diego trên chuyến British Airways BA264 lúc 4 giờ 45 và dự kiến tới Heathrow vào 11 giờ 30 sáng hôm sau.
Máy bay đến sớm hơn gần nửa giờ, thủ tục nhập cảnh cũng khá nhanh, hành lý đầy đủ và người tài xế của Airport Pickups London đã đứng chờ sẵn, vì vậy lúc chất xong sáu vali lớn cùng bốn hành lý xách tay lên chiếc van tám chỗ, mọi người đều nghĩ chuyến đi mở đầu rất thuận lợi.
Nhưng điều mà một người mới tới London như tôi chưa lường trước được là giao thông ngày thứ Bảy. Quãng đường từ Heathrow vào trung tâm đáng lẽ chỉ mất độ 40 phút lại kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ, thành ra khi đến The Lincoln Suites trên đường Kingsway, cả nhóm đã mệt lả sau một đêm bay dài cộng thêm mấy tiếng ngồi xe.
Khoảng ba giờ chiều chúng tôi mới nhận được phòng đầu tiên, phòng thứ hai phải đợi tới bốn giờ. Kế hoạch ban đầu là gửi hành lý rồi đi ăn trưa ở Covent Garden, nhưng nhìn vẻ mặt mệt mỏi của mọi người, nhất là hai đứa nhỏ, cả nhóm quyết định bỏ chương trình. May mà từ San Diego chúng tôi đã mang theo vài chiếc sandwich gà tây để dự phòng, nên mọi người ăn tạm rồi nằm xuống nghỉ, ngủ một mạch đến gần sáu giờ chiều.
Sau khi thức dậy, tắm rửa và lấy lại đôi chút sức lực, chúng tôi đi bộ về phía Covent Garden rồi ăn tối tại Chuan Young Chinese Restaurant. Ban đầu đã sang Anh thì ai cũng nghĩ nên thử ngay fish and chips hay một món truyền thống nào đó, nhưng sau gần một ngày di chuyển, một tô súp nóng và vài món Trung Hoa quen miệng lại trở nên hấp dẫn hơn nhiều.
Tối hôm ấy, cả nhóm chia nhau đi hai chiếc Uber tới Big Ben. London về đêm rất đẹp, nhưng ngay tại một trong những nơi nổi tiếng nhất thành phố, tôi lại bắt đầu khám phá ra một chuyện mà trước chuyến đi chưa từng nghĩ tới: tìm một nhà vệ sinh công cộng ở London đôi khi khó hơn tìm một nhà hàng. Tôi hỏi quanh khu Big Ben nhưng những nơi gần đó đều nói không có restroom công cộng. Một ông già “háo đái’ như tôi, trong tình thế này thật là khó xử.
Sáng hôm sau, khi tới Tower Bridge, tình hình cũng chẳng khá hơn; một quán cà phê nói họ không có toilet, còn một nhà vệ sinh gần đó lại yêu cầu trả một bảng Anh mà lúc ấy tôi không có tiền mặt. Đến Borough Market thì có restroom nhưng hàng người đứng chờ dài đến mức tôi phải chụp lại một tấm hình làm kỷ niệm.
Sau hai ngày ở London, tôi rút ra được một kinh nghiệm rất thực tế: ở đâu thấy restroom thì nên tranh thủ đi ngay, đừng đợi tới lúc thật sự cần rồi mới bắt đầu tìm.

Một bữa sáng đáng chờ hai mươi phút
Sáng Chủ nhật, chúng tôi đi bộ tới Drury Covent Garden để ăn sáng. Trước cửa quán đã có một hàng người đứng đợi và nhóm tám người như chúng tôi phải chờ khoảng hai mươi phút mới có bàn, nhưng may thay bữa sáng hôm ấy hoàn toàn xứng đáng với thời gian chờ.
Cà phê ngon, đồ ăn được trình bày đẹp, nước trái cây tươi, các món trứng, toast và pancake đều hợp khẩu vị cả người lớn lẫn trẻ con, vì vậy mọi người bắt đầu ngày mới trong tâm trạng khá vui vẻ.
Sau bữa sáng, chúng tôi đi Tower of London, Tower Bridge rồi sang Borough Market. Hôm ấy là Chủ nhật nên khu chợ đông nghẹt người, trong khi hai đứa nhỏ lại đang bị jet lag, mắt cứ díp xuống. Vì buổi sáng đã ăn khá nhiều, cả nhóm quyết định bỏ bữa trưa ở chợ, gọi Uber về khách sạn, nấu mì ăn tạm rồi ngủ một giấc đến khoảng năm giờ chiều.
Tối đó chúng tôi đi Covent Garden và Leicester Square, nhưng trời bắt đầu mưa nhẹ nên mọi người ghé Mother Mash để ăn thử một bữa đúng kiểu Anh với mashed potatoes, gravy và sausages. Thành thật mà nói, món ăn không hợp khẩu vị chúng tôi lắm, nhưng nhìn chung quanh thấy nhà hàng rất đông và nhiều người ăn ngon lành, tôi lại nghĩ rằng chuyện ẩm thực vốn tùy thuộc rất nhiều vào thói quen và ký ức; món mình chỉ thấy bình thường đôi khi lại là món người khác đã ăn từ nhỏ và gắn với cả một đời sống văn hóa.
Chúng tôi trở về khách sạn khá sớm vì sáng hôm sau phải thức lúc 3 giờ 30 để ra Heathrow, chuẩn bị cho chuyến bay 7 giờ 15 sang Lisbon.
Lisbon – Khi đám cưới thành một cuộc hội ngộ
Chúng tôi đến Lisbon khoảng 10 giờ 30 sáng ngày 28/9 và gặp người tài xế đã đặt trước vào khoảng 11 giờ 30. Cũng tại đây, tôi gặp lại một người bạn thân từ thuở nhỏ cùng vợ anh từ Munich bay sang. Hai chúng tôi đã quen nhau từ nhiều chục năm trước nhưng gần mười năm chưa gặp lại vì mỗi người sống một nơi, anh hiện làm chủ một nhà hàng nhỏ tại Munich nên chuyện nấu nướng đối với anh vừa là nghề vừa là một niềm vui.
Đến Haws Lisboa vào khoảng 1 giờ chiều, chúng tôi may mắn được cho check-in sớm. Nhân viên khách sạn giới thiệu Marisqueira Do Lis, một nhà hàng hải sản chỉ cách chỗ ở chừng hai phút đi bộ, và đây cũng trở thành bữa ăn đầu tiên của chúng tôi ở Bồ Đào Nha.
Hải sản khá ngon, bia lạnh, nhưng điều làm bữa ăn ấy đáng nhớ nhất không phải thức ăn mà là việc được ngồi lại với người bạn thân sau gần mười năm xa cách, vừa ăn vừa nhắc chuyện cũ và hỏi thăm cuộc sống của nhau. Có những lúc ấy mới thấy rằng thức ăn chỉ làm nên một phần của bữa ăn, còn người ngồi chung bàn với mình mới quyết định bữa ăn ấy có trở thành kỷ niệm hay không.

Sau bữa trưa, mọi người trở về khách sạn nghỉ đến khoảng 4 giờ 30 rồi đi dự Tea Party trước ngày cưới. Tối hôm ấy, nhóm chúng tôi nhập với một số anh chị em và bà con từ Mỹ sang, tổng cộng khoảng 23 người, rồi cùng nhau đi ăn tại Concha D’Ouro. Vài chai vang đỏ được mở ra, các món ăn lần lượt mang tới, tiếng nói cười quanh bàn bắt đầu cho thấy chuyến đi này từ đây không còn chỉ là du lịch nữa mà đã trở thành một cuộc hội ngộ gia đình.
Nhưng cũng chính trong buổi tối ấy, một chuyện không may bắt đầu xảy ra.
Chiếc iPhone biến mất giữa Lisbon
Vợ tôi đến nhà hàng sau tôi, đi cùng hai đứa nhỏ và một vài người trong nhóm. Khi xuống Uber, nàng đeo ba lô sau lưng, tiện tay bỏ chiếc iPhone vào túi bên hông rồi dùng hai tay dắt hai đứa trẻ, vì thế cả nhóm cứ thế vội vàng đi từ chỗ xe thả xuống đến nhà hàng.
Đang ăn giữa bữa, nàng mới chợt nhớ tới điện thoại, đưa tay tìm thì chiếc iPhone đã biến mất.
Phản ứng đầu tiên của mọi người là nghĩ bị móc túi, bởi trước chuyến đi chúng tôi đã nghe khá nhiều lời cảnh báo về chuyện này tại các khu du lịch đông người ở châu Âu. Tuy vậy, tôi vẫn hy vọng nàng chỉ vô tình làm rơi trên đoạn đường từ Uber tới nhà hàng.
Sáng hôm sau, tôi cùng một người em gọi Uber trở lại khu vực cũ rồi dùng Life360 để lần theo vị trí điện thoại. Chúng tôi đi lại gần như đúng tuyến đường mà vợ tôi đã đi tối trước, vừa bước vừa nhìn xuống vỉa hè, các góc đường và trước cửa hàng nhưng hoàn toàn không thấy gì.
Life360 lại chỉ chiếc điện thoại đang ở đâu đó phía sau một tiệm McDonald’s.
Đi vòng ra phía sau, chúng tôi gặp một khu apartment có khoảng ba bốn chục căn hộ và theo bản đồ thì chiếc điện thoại dường như nằm đâu đó bên trong. Lúc ấy chỉ có hai trường hợp: hoặc vợ tôi thật sự bị móc túi và người lấy điện thoại đang ở khu đó, hoặc nàng làm rơi rồi có người nhặt được mang về.
Có người đề nghị báo cảnh sát, nhưng nghĩ kỹ thì tôi thấy không khả thi, vì định vị chỉ cho biết một khu vực chứ không thể cho biết chính xác chiếc điện thoại nằm trong căn hộ nào, mà một khu có mấy chục căn thì cảnh sát cũng không thể chỉ vì một chiếc iPhone mà đi gõ cửa hoặc khám xét từng nhà.
Cuối cùng, dù tiếc, chúng tôi đành bỏ.
Điều đáng lo hơn lúc ấy là trong điện thoại có lưu một số thẻ tín dụng, nên chúng tôi lập tức gọi các ngân hàng và công ty thẻ để khóa hoặc hủy những thẻ liên quan, đề phòng trường hợp điện thoại rơi vào tay người xấu.
Chúng tôi cứ tưởng đó chỉ là một sự cố riêng lẻ, nhưng sau đó mới biết trong đoàn người thân sang dự đám cưới còn xảy ra thêm hai chuyện khác, thậm chí táo bạo hơn.
Người “nhân viên Airbnb” không ai mời
Một nhóm người thân khác khoảng 11 người từ San Diego, Phoenix và Tampa Bay cũng sang Lisbon dự cưới và thuê một Airbnb gần downtown. Khi mới tới, ba chiếc Uber thả cả nhóm xuống gần một siêu thị bên kia đường, mọi người kéo vali băng qua đường rồi vào một tòa nhà nhiều tầng có cổng sắt phải nhập mã mới mở được.
Căn Airbnb của họ nằm ở tầng một theo cách gọi của châu Âu, tức tương đương tầng hai ở Mỹ, và gồm nhiều phòng ngủ đủ cho cả nhóm ở chung.
Trong lúc mọi người đang bận mang hành lý vào và chia phòng, có một người đàn ông da trắng, ăn mặc rất lịch sự, đi theo vào rồi tự giới thiệu mình là nhân viên Airbnb đến xem khách đã ổn định hay chưa và có cần giúp đỡ gì không. Vì cách ăn mặc cùng thái độ của anh ta rất tự nhiên nên không ai nghi ngờ; anh ta còn đi vào từng phòng như đang kiểm tra mọi thứ rồi mới lịch sự chào mọi người ra về.
Chỉ ít phút sau, một cô em dâu của tôi phát giác ra chiếc túi xách nhỏ đã biến mất.
Trong túi có một điện thoại, khoảng 90 euro tiền mặt và vài chiếc nhẫn. Cô không nói giá trị số nhẫn ấy bao nhiêu, nhưng tôi nghĩ người ta sang châu Âu dự đám cưới mà mang nhẫn theo thì khó có thể là món đồ không đáng kể.
Lúc ấy mọi người mới hiểu rằng người đàn ông lịch sự kia có lẽ chẳng phải nhân viên Airbnb nào cả.
Bàn tay đang mở chiếc ba lô
Chuyện vẫn chưa hết.
Ngày hôm sau, cũng nhóm người thân ấy đi xuống khu cảng tham quan. Khoảng 6–7 giờ chiều, đường khá vắng và 11 người đi hơi rải rác. Người em thứ bảy của tôi thường là người đi đầu dẫn đoàn, nhưng hôm ấy thấy đường vắng vẻ không có gì đáng lo nên anh lại đi phía sau.
Có hai ba thanh niên lạ mặt đi cùng hướng, rồi khi tới một đoạn đường nhỏ, một người trong số đó áp sát vào nhóm.
Người em tôi bất chợt nhìn thấy bàn tay anh ta đang mở khóa chiếc ba lô của Hùng, người em út, nên lập tức la lớn: “Hùng ơi! Nó đang mở ba lô của Hùng đó!”
Vợ Hùng quay lại, mấy người kia liền tản ra như chưa hề có chuyện gì xảy ra.
May mắn lần này không ai mất gì.
Sau khi nghe cả ba câu chuyện xảy ra trong cùng một chuyến đi, tôi nói đùa với mọi người rằng Bồ Đào Nha ngoài “đặc sản” hải sản ra hình như còn có thêm một thứ “đặc sản” khác là móc túi.
Đó tất nhiên chỉ là một câu đùa để kể chuyện, bởi không thể vì một vài sự việc mà đánh giá cả một thành phố hay một đất nước, nhưng đằng sau câu nói ấy vẫn là một bài học rất thực tế: ở những nơi đông khách du lịch, nhất là khi mình lạ đường lạ nước, chỉ một phút thiếu cảnh giác cũng có thể trở thành cơ hội cho người xấu.

Một Lisbon rất đẹp sau những câu chuyện không vui
Sáng hôm sau, chúng tôi chọn Pastelaria Capri để ăn sáng theo kiểu địa phương. Nhóm sáu người lớn cùng hai đứa nhỏ gọi năm combo gồm bánh, cà phê, nước cam tươi và một vài món nhẹ, mọi thứ đơn giản nhưng ngon và vừa đủ, khác hẳn những bữa brunch lớn kiểu Mỹ.
Sau đó cả nhóm đi tham quan các khu phố cổ, ngắm Castelo de São Jorge, Miradouro de Santa Luzia và Portas do Sol. Từ những nơi cao nhìn xuống, Lisbon hiện ra với mái ngói đỏ, những con đường lát đá, những căn nhà cũ nhiều màu sắc và dòng Tagus ở phía xa, khiến tôi hiểu vì sao thành phố này hấp dẫn du khách đến vậy.
Tuy nhiên, vẻ đẹp ấy cũng đi kèm một khó khăn mà khách lớn tuổi hoặc người có vấn đề đầu gối cần lưu ý: Lisbon có rất nhiều dốc. Người bạn thân của tôi vốn bị đau đầu gối nên có lúc chúng tôi phải bỏ ý định tiếp tục đi bộ và thuê tuk-tuk, nhờ vậy mới thấy rằng khi lập chương trình cho một nhóm nhiều lứa tuổi, khoảng cách trên bản đồ chưa chắc phản ánh đúng độ khó của đoạn đường.

Chiếc Uber màu xám và 25 euro đáng nhớ
Sau Welcome Party chiều 29 tháng 9, khoảng 36 người trong gia đình và bạn bè cùng nhau đi ăn tối tại nhà hàng Gaucha. Với số người đông như vậy, phải gọi khoảng bảy tám chiếc Uber, trong khi khu vực trước nơi tổ chức party lại không tiện cho xe đậu lâu nên chiếc nào tới thì khách gần như phải nhanh chóng lên xe.
Nhóm chúng tôi có sáu người và đã gọi một chiếc Uber sáu chỗ. Thấy một chiếc van màu xám sáu chỗ chạy tới, cả nhóm vội vàng leo lên rồi tài xế cũng lập tức chạy đi.
Đi được một đoạn, người tài xế hỏi tên người đặt xe và lúc ấy mới phát hiện booking trên xe không phải của chúng tôi mà là của con rể tôi.
Anh tài xế lập tức không muốn tiếp tục chuyến đi nữa.
Tôi phải năn nỉ và đề nghị rằng nếu anh chịu chở chúng tôi đến nhà hàng thì tôi sẽ trả 20 euro tiền mặt. Sau một hồi anh đồng ý.
Khi gần tới nơi, anh lại dừng xe ở một khu khá tối rồi nói rằng chỉ cần đi qua một con hẻm trước mặt là tới nhà hàng. Một người trong nhóm chạy vào kiểm tra nhưng không thấy gì, trong khi tôi gọi cho người em đang đứng chờ trước nhà hàng thì hai bên cũng không nhìn thấy nhau.
Lúc ấy tôi bắt đầu lo nên hỏi tài xế có chắc đã đưa chúng tôi tới đúng địa chỉ hay không, nhưng anh chỉ nói booking của anh kết thúc ở đây.
Tôi bèn bảo rằng nếu anh chở chúng tôi tới đúng cửa nhà hàng thì tôi sẽ trả tổng cộng 50 euro.
Nghe vậy, anh nổi nóng và nói đại ý rằng lúc trước tôi hứa 20 euro mà ngay cả tiền cũng chưa có sẵn để trả, vậy bây giờ 50 euro lấy đâu ra.
Tôi giải thích rằng người em tôi đang chờ tại nhà hàng sẽ trả và nếu anh không chịu chở chúng tôi tới nơi thì cuối cùng anh cũng chẳng nhận được gì.
Dù còn bực bội, người tài xế cuối cùng vẫn lái tiếp.
Hóa ra nhà hàng chỉ cách nơi anh vừa thả chúng tôi vài chục mét, nhưng nằm phía bên kia đường, sáng sủa, rộng rãi và hoàn toàn khác với con hẻm tối mà anh vừa chỉ.
Khi em tôi chạy ra, tôi bảo trả tài xế 50 euro, nhưng em tôi nhìn trên Uber thấy giá chuyến xe chỉ hơn mười euro nên không đồng ý. Sau khi nghe kể sơ câu chuyện, em tôi hỏi thẳng người tài xế muốn bao nhiêu và anh ta suy nghĩ một lúc rồi nói: “Thôi, cho tôi 25 euro.”
Thế là một chuyến Uber bắt đầu bằng một booking nhầm, đi qua 20 euro, leo lên 50 euro rồi cuối cùng kết thúc ở 25 euro.
Vào tới nhà hàng, mọi căng thẳng cũng nhanh chóng tan biến. Rượu vang đỏ được rót ra, mọi người vừa ăn vừa kể chuyện, rồi theo đúng thói quen của người Việt, mỗi lần nâng ly cả bàn lại cùng hô: “Một, hai, ba… vô!”
Sau vài lần như vậy, chẳng còn ai nhắc tới chiếc Uber màu xám nữa.

Ngày cưới trong vườn nho
Sáng ngày cưới trời có mưa nên người bạn thân từ Munich đề nghị cả nhóm đừng ra ngoài ăn sáng mà để anh đi mua bánh ngọt và cà phê về apartment. Chính vì thế, buổi sáng hôm ấy trở thành một khoảng thời gian rất thư thả và đáng nhớ; chúng tôi ngồi uống cà phê, ăn bánh rồi nhắc chuyện thời thơ ấu, sau đó nói sang cuộc sống ở Đức, ở Mỹ và những gì mỗi người đã trải qua trong nhiều chục năm xa cách.
Người bạn vốn làm nhà hàng nên sau đó bắt đầu trổ tài nấu nướng và buổi trưa mang ra một món spaghetti Ý nhưng chế biến theo kiểu của một đầu bếp đang sống ở Đức, thành ra đối với chúng tôi cũng có một hương vị khá lạ.
Ăn xong, mọi người nghỉ ngơi rồi tắm rửa, thay quần áo đẹp để chuẩn bị cho đám cưới.
Đúng 3 giờ chiều, hai chiếc shuttle do con gái tôi sắp xếp tới đón. Xe chạy khoảng một tiếng mới đến nơi tổ chức, là một khu trồng nho đồng thời cũng sản xuất rượu.
Tôi từng dự nhiều đám cưới ở Mỹ nhưng chưa bao giờ dự một đám cưới trong khung cảnh như vậy, nên ngay từ lúc bước xuống xe đã cảm thấy khá thú vị. Khoảng 70–80 người tham dự, buổi lễ tổ chức theo phong cách Mỹ nhưng diễn ra trên đất Bồ Đào Nha, còn rượu dùng để chiêu đãi khách lại là rượu do chính nơi tổ chức sản xuất.
Nếu so với những đám cưới nhà hàng Hoa mà người Việt ở Mỹ thường quen, bữa ăn hôm ấy thật ra không cầu kỳ, chỉ gồm một khay khai vị với vài món địa phương, tiếp theo một món cá, một món steak rồi kết thúc bằng phần dessert nhỏ.
Nhưng điều khiến tôi nhớ về đám cưới ấy không phải thực đơn mà chính là bầu không khí gia đình.
Chú rể là người Mỹ sinh trưởng ở Mỹ, cha mẹ lớn tuổi nên không tiện sang Bồ Đào Nha, vì vậy phía nhà trai chỉ có chú rể và một vài người bạn, trong khi bên gia đình chúng tôi lại có khá đông người thân từ nhiều nơi tụ họp về.
Đặc biệt, vợ cũ của tôi cùng những người anh em trong gia đình trước đây cũng có mặt. Mặc dù cuộc đời mỗi người đã thay đổi, tôi đã lập gia đình mới và có những đứa con nhỏ, nhưng tình cảm giữa chúng tôi với những người thân cũ vẫn còn rất gần gũi. Bình thường mọi người sống rải rác ở nhiều thành phố, tiểu bang và thậm chí nhiều quốc gia nên hiếm khi có dịp ngồi lại với nhau, thành ra đám cưới lần này vô tình trở thành một cuộc reunion lớn.
Mọi người gặp lại nhau, ôn chuyện cũ, hỏi thăm con cái, cùng nâng ly, chụp hình và kể cho nhau nghe những gì đã xảy ra trong nhiều năm không gặp.
Bữa tiệc có thể không xa hoa theo tiêu chuẩn của những đại tiệc mà chúng tôi từng thấy, nhưng lại có một thứ quý hơn nhiều, đó là tình thân.
Khoảng 10 giờ tối, các shuttle đưa mọi người trở về Lisbon. Khi về đến khách sạn đã gần nửa đêm, ai cũng mệt nhưng vui vì mục đích quan trọng nhất của chuyến đi đã hoàn thành.
Một bữa sáng chưa kịp nấu và mười phút còn lại ở gate
Sáng hôm sau, chúng tôi phải bay từ Lisbon sang Barcelona khoảng 11 giờ. Người bạn đầu bếp biết tôi thích một món ăn Đức nên từ tối hôm trước đã nhất quyết nói rằng sáng sớm anh sẽ đi mua nguyên liệu rồi nấu một bữa sáng chia tay cho cả nhóm.
Tôi đã nhắc đi nhắc lại rằng chuyến bay lúc 11 giờ thì khoảng 9 giờ phải có mặt ở sân bay, nghĩa là chậm nhất 8 giờ phải ăn và 8 giờ 30 phải rời khách sạn.
Anh cười bảo chẳng có vấn đề gì vì làm nhà hàng đã quen dậy sớm.
Thế nhưng đến 8 giờ sáng vẫn chưa thấy anh về.
Mọi người bắt đầu sốt ruột, lấy thức ăn còn lại ra ăn tạm rồi pha cà phê uống. Mãi tới 8 giờ 30, người bạn mới xuất hiện với những thứ vừa mua.
Tôi đành nói: “Thôi, anh mua gì thì đưa hết đây cho tụi tôi mang theo, bây giờ mà còn chờ anh nấu thì chắc chắn trễ máy bay.”
Mọi người bắt tay chia tay, kéo hành lý xuống lobby rồi lên Uber đi thẳng ra sân bay.
Sau đó mới thấy quyết định ấy hoàn toàn đúng, bởi khi làm xong thủ tục và tới cổng lên máy bay thì chỉ còn khoảng mười phút. Nếu còn nấn ná ở khách sạn thêm mười lăm hay hai mươi phút, có lẽ cả nhóm đã lỡ chuyến.
Sau này tôi còn nghe kể một người cháu cũng sang dự đám cưới đã ra sân bay hơi trễ, lại gặp lúc kiểm tra an ninh kéo dài và cuối cùng lỡ luôn chuyến bay về Mỹ.
Từ chuyện ấy tôi rút ra thêm một kinh nghiệm: trong du lịch, đôi lúc phải biết dứt khoát từ bỏ một bữa ăn ngon hay một chương trình mình đã dự tính, bởi máy bay không vì sự tiếc nuối của mình mà chờ thêm vài phút.
Barcelona – Một bất ngờ dễ chịu
Chuyến bay từ Lisbon sang Barcelona khá đơn giản. Khi tới nơi, tôi hơi ngạc nhiên vì không thấy thủ tục nhập cảnh như khi từ Mỹ sang châu Âu, sau này mới hiểu vì Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đều thuộc khu vực Schengen nên chặng Lisbon–Barcelona về mặt biên giới gần giống một chuyến bay nội địa.
Nhóm tám người lấy hai chiếc Uber về Casagrand Luxury Suites và nơi ở này trở thành một trong những bất ngờ dễ chịu nhất chuyến đi.
Căn apartment có bốn phòng ngủ, ba phòng tắm, phòng khách rộng, sạch sẽ, đẹp và đầy đủ tiện nghi. Những ngày trước đó chúng tôi từng ở những nơi giá bốn năm trăm đô một đêm mà vẫn chưa cảm thấy thoải mái bằng căn apartment này, nên vừa bước vào mọi người đều có cảm giác cuối cùng đã tìm được một nơi thật sự có thể nghỉ ngơi.
Sau khi tắm rửa, chúng tôi đi Sagrada Família. Vì quyết định quá trễ nên không còn vé online để vào trong, cả nhóm chỉ có thể đi quanh ngắm công trình của Gaudí từ bên ngoài, nhưng ngay cả như vậy cũng đủ khiến chúng tôi ngạc nhiên trước kiến trúc khác thường của nhà thờ.
Hai đứa nhỏ thì dĩ nhiên quan tâm đến quán kem gần đó hơn là Gaudí.
Tối hôm ấy, chúng tôi ăn paella tại một nhà hàng gần Sagrada Família. Ban đầu nhân viên có vẻ không vui vì chúng tôi mang hai phần McDonald’s vào cho trẻ con, nhưng sau khi giải thích và đặc biệt sau khi tôi khen đồ ăn của họ ngon, thái độ phục vụ thay đổi hẳn, từ hơi lạnh lùng trở nên rất niềm nở và chu đáo.
Một lần nữa tôi thấy rằng trong những tình huống có chút bất đồng, đôi khi một lời khen chân thành có thể thay đổi không khí nhanh hơn cả một cuộc tranh luận.

Ngày cuối cùng và một bữa tối tự nấu
Sáng hôm sau, chúng tôi chọn một café/pastisseria để ăn sáng theo kiểu địa phương. Tôi ăn một loại bánh mềm, xoắn tròn và phủ đường bột mà lúc ấy không biết tên, sau này mới biết đó là ensaïmada, một loại bánh rất phổ biến ở Tây Ban Nha và đặc biệt nổi tiếng ở Mallorca. Tôi còn nói với mọi người rằng nó khiến tôi nhớ tới almond croissant mà Starbucks ở Mỹ từng bán.
Sau bữa sáng, chúng tôi đi dọc Passeig de Gràcia, xem Casa Batlló và những công trình kiến trúc của Gaudí, rồi tiếp tục xuống La Rambla và Mercat de la Boqueria.
Boqueria là một khu chợ rất sống động, đầy màu sắc với đủ loại thịt nguội, hải sản, trái cây và những quầy ăn nhỏ. Chúng tôi chọn một quán bên trong chợ để ăn trưa và thử món entrecot với French fries, một miếng steak bò khá dày ăn cùng khoai tây chiên.
Buổi chiều trời bắt đầu mưa, thấy thời tiết không thuận lợi để tiếp tục đi chơi, chúng tôi quyết định mua một ít hải sản cùng vài chai rượu rồi trở về Casagrand.
Tối hôm ấy, thay vì ra nhà hàng, cả nhóm tự nấu ăn trong apartment, ngồi quanh bàn vừa ăn hải sản, uống rượu, trò chuyện rồi cụng ly như để đánh dấu ngày cuối cùng của cuộc hành trình.
Không có nhà hàng sang trọng, cũng không có một thắng cảnh nổi tiếng nào, nhưng có lẽ chính vì vậy mà buổi tối ấy lại trở thành một trong những khoảng thời gian dễ chịu nhất chuyến đi.
Sáng hôm sau, khoảng 4 giờ, chúng tôi thức dậy chuẩn bị ra sân bay, bắt chuyến Barcelona–London rồi từ Heathrow nối chuyến trở về San Diego.
Điều còn lại không phải là số thành phố đã đi qua
Nếu nhìn trên bản đồ, đây không phải một chuyến đi du lịch châu Âu. Chúng tôi chỉ ghé ba thành phố London, Lisbon và Barcelona, thời gian tại mỗi nơi đều ngắn và còn rất nhiều thắng cảnh chưa kịp đặt chân tới.
Nhưng nếu đo một chuyến đi bằng những câu chuyện mang về thì hành trình này lại khá phong phú. Chúng tôi đã có những bữa ăn ngon và những món chỉ cần thử một lần cho biết; đã gặp mưa, kẹt xe, jet lag, chuyện tìm restroom ở London, đã đi nhầm Uber, mất iPhone, gặp móc túi và suýt trễ máy bay, nhưng đồng thời cũng có những bữa ăn gia đình, những chai rượu vang được mở ra giữa tiếng cười, một người bạn mười năm mới gặp lại và một đám cưới đã đưa những người thân đang sống cách nhau hàng ngàn cây số về chung một nơi.
Đặc biệt, chuyến đi khiến tôi nhận ra rằng tình cảm giữa con người đôi khi bền hơn những thay đổi của hoàn cảnh. Những người từng thuộc về một gia đình cũ, dù cuộc sống mỗi người đã bước sang những chặng đường khác nhau, vẫn có thể gặp nhau, ngồi cạnh nhau, nhắc chuyện xưa rồi vui vẻ chúc phúc cho thế hệ tiếp theo.
Cuối cùng, điều đáng nhớ nhất không phải là tôi đã nhìn thấy bao nhiêu thắng cảnh nổi tiếng của châu Âu, mà là trên những con đường từ London tới Lisbon rồi Barcelona, tôi đã gặp lại những người mình thương quý, được chứng kiến ngày vui của con gái và mang về một hành trang đầy những kỷ niệm mà có lẽ nhiều năm nữa vẫn còn được nhắc lại.
Và giữa những kỷ niệm ấy, chắc chắn sẽ còn vang đâu đó tiếng cả bàn cùng nâng ly: “Một, hai, ba… vô!”. Có lẽ đó mới chính là món quà quý nhất mà chuyến đi này để lại.
Similar articles: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/doi-song/du-lich/

