LENA HỒ
Ông mất ngày 14 tháng Mười năm 2025 tại Nam California. Ông lấy tên thật Doãn Quốc Sỹ làm bút hiệu cho toàn các tác phẩm. Trừ quyển Đi.
Thuở còn là thanh niên, ông từng tham gia Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Sau đó, khi phong trào này để lộ bộ mặt cộng sản, ông rời bỏ kháng chiến. Ông lập gia đình với bà Hồ Thị Thảo, ái nữ nhà thơ trào phúng Tú Mỡ – Hồ Trọng Hiếu.
Năm 1954 theo làn sóng di cư vào Nam sinh sống cùng vợ và con.
Ông có hai sự nghiệp song song, một là nhà văn và một là nhà giáo. Ông vẫn thường nói rằng: “nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Trong cương vị nhà giáo, ông đã dạy tại các trường: Trung học Công Lập Nguyễn Khuyến (Nam Định 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội), Hồ Ngọc Cẩn (Sài Gòn 1961-1962), Trường Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Ông cũng từng là hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên (1960-1961) và từng đi tu nghiệp về sư phạm tại Hoa Kỳ (1966-1968).
Vào năm 1956, với cương vị nhà văn, ông đồng sáng lập nhà xuất bản Sáng Tạo, và tạp chí văn nghệ cùng tên với Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh và Ngọc Dũng. Ông vẫn ưu ái gọi nhóm văn nghệ của mình là “Thất Tinh”. Ông cũng có những bài viết được đăng trên các tạp chí văn nghệ như Sáng Tạo, Văn Nghệ, Bách Khoa, Văn Học, Nghệ Thuật …
Gần một năm sau ngày miền Nam thất thủ (30/04/1975), hầu hết các nhà văn miền Nam bị bắt đi học tập cải tạo. Doãn Quốc Sỹ cùng các văn nghệ sĩ như Trần Dạ Từ, Thanh Thương Hoàng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế, Chóe… bị giam tại trại Gia Trung, cách thành phố Pleiku 25 cây số.
Đến năm 1980, ông được thả tự do nhờ sự can thiệp của nhiều tổ chức quốc tế. Trong thời gian chờ đợi được con gái là Doãn thị Ngọc Thanh bảo lãnh đi Úc, ông tiếp tục viết thêm nhiều tác phẩm nữa, trong đó có quyển Đi, được ký với bút hiệu Hồ Khanh. Ông đã gửi tác phẩm này sang Pháp để xuất bản tại hải ngoại. Cũng vì lý do này, ông đã bị bắt lần thứ hai vào tháng Năm năm 1984, chỉ vài tháng trước ngày đi Úc. Cùng bị giam với ông trong đợt này có ca sĩ Duy Trác, nhà báo Dương Hùng Cường, hai nhà văn Hoàng Hải Thủy và Lý Thụy Ý… Ông bị kết án mười năm tù và mãn hạn tù lần thứ hai vào tháng Mười Một năm 1991.
Năm 1995, ông được con trai là Doãn Quốc Thái bảo lãnh để di dân sang Houston, Hoa Kỳ. Đến năm 2011, khi cụ bà Hồ Thị Thảo mất, ông chuyển sang Quận Cam sống cho đến cuối đời. Nơi đây có những năm người con vây quanh chăm sóc ông.
Doãn Quốc Sỹ và Tạp chí Sáng Tạo
Nếu lấy đề tài “Doãn Quốc Sỹ và Tạp chí Sáng Tạo” ra để lên bàn cho những người sinh sau đẻ muộn chúng ta suy ngẫm và bàn bạc thì có nhiều chuyện để nói lắm.
Thứ nhất là Doãn Quốc Sỹ và văn phong của ông. Thứ hai là hai chữ “Sáng Tạo” của tờ báo mà ông đã cùng cộng tác với các bạn Mai Thảo, Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Nguyễn Sỹ Tế được gọi là “Thất Tinh”. Số khởi đầu con số một được ghi vào tháng Mười năm 1956, tờ cuối cùng đếm đến số 31 vào tháng Chín năm 1959 thì bị đình bản.
Doãn Quốc Sỹ được nhiều bạn văn trong đó có Võ Phiến, Nguyễn Văn Quảng Ngãi thương tặng mà bình rằng “Đọc văn Doãn Quốc Sỹ mà thấy thơm tho cả tâm hồn.” hay “Doãn Quốc Sỹ: một tâm hồn thanh thản, đôn hậu, và cao thượng.” Ông trao vào tâm hồn độc giả một cảm giác êm đềm khi đọc văn của mình. Vì văn ông mềm, chữ ông đẹp một cách nhẹ nhàng. Ngay cả những đoạn ông lột tả cái độc ác, tàn nhẫn của cộng sản mà văn của ông cũng không chát chúa. Nhờ vậy mà độc giả thấy nhẹ nhàng, thanh thản khi đọc văn Doãn Quốc Sỹ.
Doãn Quốc Sỹ thường lấy những đức tính đôn hậu, trong sáng của người dân quê chân chất làm yếu tố dẫn dắt độc giả đi suốt câu chuyện. Dân ở thôn làng họ quê mùa thật đó nhưng họ không thiếu tính thông minh và nhạy bén đâu nhé. Mà cái hay hơn nữa là họ không biết mình thông minh thì mới thật là sự “thông minh.” Nhân vật Cò Đùm trong quyển Cò Đùm là thí dụ điển hình. Người đọc yêu quý liền nhân vật Cò Đùm vì cái thông minh một cách hồn nhiên mà tác giả đã phơi bày lên trang giấy.
Độc giả thấy “thơm tho” tâm hồn khi đọc Doãn Quốc Sỹ vì còn nhận được cả tính “cao thượng” trong các nhân vật được ông gầy dựng lên. Như nàng Miên, trong “Người đàn bà bên kia vĩ tuyến,” đã nhường chàng Kha cho nàng Vân một khoảng không gian và một thoáng thời gian trước cuộc di cư vào Nam năm 1954. Nàng hy sinh để xác quyết lần cuối tình yêu của chàng và của mình trước khi bước vào cuộc sống mới nơi đất mới. Tính cao thượng là một trong nhiều đức tính cần thiết để trở thành người đàng hoàng trong xã hội. Khi đạt được rồi, người ta có thể thõng tay vào chợ mà không còn sợ bị hôi tanh xú uế đánh bại.
Trong ngót trên dưới bốn mươi tập truyện được phát hành, độc giả chúng ta đọc các thể loại tiểu thuyết, kịch, truyện cổ tích, nghiên cứu, dịch thuật. Và nếu độc giả đọc đầy đủ các tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ, có chăng một nhận xét là “cổ”? Cổ như văn phong các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn? Doãn Quốc Sỹ không “sáng tạo” như tinh thần của tờ Sáng Tạo?
Mai Thảo đã có bài viết và phê bình Doãn Quốc Sỹ như thế này: “Ông là một trong bảy thành viên tạo lập nhóm tạp chí Sáng Tạo nhưng ông lại ít sáng tạo!”. Bảy thành viên sáng lập ra Sáng Tạo gồm có Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Trần Thanh Hiệp và Doãn Quốc Sỹ. Doãn Quốc Sỹ với những đặc thù tâm tính “đôn hậu, cao thượng đến thanh thản” thì chả trách ông phát triển thành lối viết “cổ” như thế. Độc giả quý mến văn Doãn Quốc Sỹ đành phải thốt lên như vậy!?
Lại thêm nữa, có bạn văn nói Doãn Quốc Sỹ đi hai hàng khi sáng tác. Ông chưa dứt được “cổ” và chưa hoàn toàn “mới.” Nói cách khác ông chưa có dáng vẻ “sáng tạo” hay đột phá để thoát ra đường mòn lối cũ của nhóm văn học đàn anh Tự Lực Văn Đoàn. Có chăng trong nhóm Sáng Tạo, có hai ngòi bút Thanh Tâm Tuyền và Mai Thảo. Một người làm mới văn vần và một người làm mới văn xuôi. Mai Thảo, người có kỹ thuật dùng chữ, dùng câu, dùng dấu phẩy dấu chấm rất lạ trong những bài tạp ghi, tạp bút của ông. Được ví như “những hạt vàng” lóng lánh là vậy. Thơ Thanh Tâm Tuyền là một đột phá trong “vần, vận và ý.” Thơ của Ông vẫn có vần và vận nhưng phải tùy thuộc vào ý được truyền đạt trong bài. Ý ngắn câu thơ ngắn, ý dài kéo dài câu thơ. Thanh Tâm Tuyền lôi độc giả vào thế giới nhiều màu sắc, nhiều cảm xúc và nhiều tình tiết vô bờ bến.

Tạp chí Sáng Tạo và nhóm sáng lập Thất Tinh ghi vào nền văn học nghệ thuật Miền Nam Việt Nam một điểm sáng. Nếu đem điểm sáng này ra ngoài thế giới so sánh thì có lẽ nền văn học Việt Nam không thua kém chút nào!
Hay quá, hay quá! Nhận xét việc đi “hai hàng” của Doãn Quốc Sỹ làm người viết này bừng tỉnh và đồng ý hoàn toàn với nhận xét trên. Vì người xưa nói “văn là người” thì chả trách văn phong ông Sỹ “cũ” hay “cổ” chỉ vì văn phong của ông là vậy, tính cách nhân vật của ông ấy là thế!
Chỉ trừ hai truyện Sầu Mây và Dấu Chân Cát Xóa là chúng ta thấy Doãn Quốc Sỹ hết “cổ và cũ!” Ông đã làm cách mạng trong văn và cả nhân vật trong truyện của ông.
Thấy được sự đổi mới như vậy, người viết này thường hay hô hào các bạn hãy đọc Sầu Mây và Dấu Chân Cát Xóa bên cạnh những Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Dòng Sông Định Mệnh, Khu Rừng Lau… để thấy Doãn Quốc Sỹ có thay đổi. Ông thay đổi sau khi đi tu nghiệp ngành giáo dục từ Hoa Kỳ về. “Turning point” “điểm biến chuyển” trong Doãn Quốc Sỹ kể từ đấy!
Con người ta cứ ở lì một chỗ, không gian bất biến, thời gian dài đều đặn, người thì xưa cảnh thì cũ thì con người khó đổi “mới!”
Doãn Quốc Sỹ có một cú thay đổi ngoạn mục nơi xứ sở Hoa Kỳ rộng lớn. Nước Mỹ với đủ loại địa hình đồi núi, sông ngòi, sa mạc. Con người của nơi đây với tâm tính phóng khoáng rộng mở hơn người Đông phương của ông, đã làm ông bừng tỉnh!
Người dân Hoa Kỳ sống phơi phới từ đời sống vật chất đến tinh thần. Doãn Quốc Sỹ cảm nhận ra được nó. Cộng thêm đời sống sinh viên du học, ông trở lại thành chàng thanh niên tuổi đôi mươi tươi trẻ đầy sức “sáng tạo.”
Ở thập niên một chín bảy mươi Doãn Quốc Sỹ ở tuổi 43, văn phong ông thay đổi vì tâm thức ông bừng sáng đổi mới. Người làm Văn thay đổi!
Chỉ ở vài tác phẩm cuối của dòng sáng tác, Doãn Quốc Sỹ chưa kịp đánh động nhận thức độc giả rằng tôi đang thay da đổi thịt đây. Thời gian chưa đủ dài. Rồi đến biến cố 30 tháng Tư, 1975 cả một sự sụp đổ từ vật chất đến tinh thần tại miền Nam Việt Nam. Độc giả chưa kịp thấy Doãn Quốc Sỹ “mới” trong “sáng tạo”. Khoai sắn, học tập, ở tù, chết tù, vượt biên, chết vượt biên chôn vùi tất cả miền Nam Việt Nam nói gì đến văn chương thi phú!? Người ta chọn sự sống còn, miếng ăn hằng ngày, và trốn thoát ách cộng sản trong tương lai. Cái đổi mới lớn của toàn xã hội lấn át cái đổi mới nhỏ của cá nhân Doãn Quốc Sỹ. Chả trách!
Ghi nhớ và ghi lại rằng lằn ranh thời gian trước và sau 1967 mà ta có Doãn Quốc Sỹ “cũ và cổ” và Doãn Quốc Sỹ “mới” là thế đấy! Thế thì… Doãn Quốc Sỹ có đổi mới đấy, nhưng trễ những tám năm sau khi tờ Sáng Tạo đóng cửa. Sự thay đổi để thích hợp với tên gọi một tạp chí “Sáng Tạo” đã có. Có mà chậm còn hơn không!
Nay, ngày 14 tháng Mười năm 2026 nhân dịp giỗ đầu cụ Doãn Quốc Sỹ, những dòng này được viết xuống bởi lòng tri ân và hồi tưởng đến ông và những văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam đã một thời làm rạng ngời nền Văn học Nghệ thuật của nước Việt Nam. Một nền văn học phương Đông chỉ được thành hình vào đầu thế kỷ 20, khi chữ Quốc Ngữ xuất hiện và hoàn thiện khoảng chừng non thế kỷ. Không biết nên có sự so sánh ngang bằng với nền văn học phương Tây có nền tảng lâu đời nhiều thế kỷ trước, như Albert Camus, Francois Mauriac, Andre Gide, Edgar Allan Poe, James Joyce, William Faulkner, Ernest Hemingway… hay không?
Vì là người Việt, chúng ta đồng ý là nền Văn Học Nghệ Thuật – Việt Nam thế kỷ 20 rất “sáng tạo” và phát triển rất nhanh theo với trào lưu thế giới!
Similar articles: https://www.toiyeutiengnuoctoi.com/category/doi-song/nhan-vat/

