Kim Salem, kỳ 11

by Tim Bui
Kim Salem – kỳ 11

CHU TẤT TIẾN

Chương mười về Sa Đéc

Tấn chuẩn bị bước lên xe đò. Lời

  Mày nhớ đưa cái cạc vi-dít này cho thằng Hiếu, nó sẽ lo cho mày chỗ ăn chỗ ở đầy đủ.

 Tấn e ngại:

 -Có chắc không? Em không quen ông ta. Nói ông ta đưa tiền, kỳ làm sao ấy!
  
Anh Huyền nhăn mặt: 
-Tao đã bảo mày là cứ đưa cái cạc của tao cho nó là xong. Trong cạc, tao đã viết đầy đủ rồi.

Rồi anh giỡn:

-Nó mà không lo cho mày thì tao cắt “dế” nó.

Không dám hỏi thêm nữa, Tấn cười trừ:


-Thì, em hỏi thế thôi. Bây giờ em đi ngay.

 
Ông anh họ gật gù:


-Ừ, mày đi cho kịp chuyến xe thơ 6 giờ sáng. Tới đó chừng 4 giờ chiều. Gặp nó là có ăn ngay.

 
Vậy là Tấn bước vào cuộc phiêu lưu mới. Không còn ăn cướp, không còn giật dọc nữa mà là làm thầy giáo. Anh Huyền, ông anh họ tốt bụng còn hơn anh ruột, đã từng cưu mang Tấn, từng đưa đồ cho Tấn để đi cầm, từ cây bút máy, từ chiếc đồng hồ, hay chiếc áo vét quý nhất của anh, nay tìm cho Tấn chỗ đi dạy học ở miền Tây.

Tuy chưa một lần dạy học, trừ lần làm cậu giáo cho hai đứa trẻ con nhà bán đồ thí nghiệm y khoa ở góc Cao Thắng chưa đầy bốn tháng, Tấn cũng hăm hở lên đường.

Làm thầy giáo tư thục ở tỉnh lẻ chẳng cần bằng cấp sư phạm gì, chỉ cần quen biết, mà anh Huyền vừa nhận làm Hiệu Trưởng ở trường đó, thì kéo thằng em mới vừa  mới đậu Tú Tài, vào dạy lớp đệ tứ cũng chẳng khó khăn chi.

Sau ngày gặp Kim-Sa-lem, ngủ ở nhà em một đêm đầy những giấc mơ đẹp, Tấn đến gặp anh Huyền vừa kịp lúc anh đang đi kiếm. Thế là lên đường sau khi đã chào tạm biệt Kim, hẹn sẽ về thăm em, anh lên đường, chấp nhận một bước ngoặt có nhiều thử thách mới. Dù anh Huyền chỉ cho Tấn đúng 60 đồng, vừa đủ mua chiếc vé 50 đồng, đi xe lôi 4 đồng,  còn lại đủ ăn cơm thố một bữa tối, Tấn cũng không đắn đo thêm, vì tin vào tài sắp xếp của ông anh.


Chiếc xe đò, gọi là “xe thơ” để dụ hành khách tin rằng xe chở thư thì chạy nhanh hơn, không ngừng dọc đường đón khách lung tung, ọc ạch bò ra khỏi bến.

Tấn lơ đãng ngắm đường xá vẫn còn ngái ngủ, xe cộ còn thưa thớt, mà lòng bồi hồi. Không biết bao giờ mới trở lại Saigon với Kim. Anh nhất định đi xa lập nghiệp vững chãi rồi mới về. Nhất định đến kiếm em ở Dancing Diamond, và sẽ không đứng nhìn em trả tiền xích lô mà không dám sờ túi. Nhất định đưa em đi ăn phở gánh ban đêm ở đường Phan đình Phùng. Hoặc ăn cháo gà, ăn chè táo xoọng, ăn bánh cuốn nóng ở góc Phan đình Phùng và Cao Thắng, nơi mà Trịnh đã từng đưa anh đi ăn khuya, sau khi hai thằng đã “làm một cú lấy đẹp” như lời Trịnh nói.

Tấn nhớ lại tất cả những nét đẹp não nùng của Kim, nét căng da thịt khi Kim quay người qua, cảm giác chạm vào đùi Kim khi hai đứa ngồi trên xích lô, rồi tiếng “nè,” tiếng “nha” nho nhỏ, thanh thoát và ngọt ngào như ly thạch trắng có xức dầu thơm ở quán Thạch Chè Hiển Khánh ngay cạnh rạp Casino Đakao.   

Ôi, sao mà giọng em ấm áp lạ thường, sao đôi mắt trong như ngọc, thăm thẳm như hồ thu, cặp môi nũng nịu mềm mại, mà Tấn ví như những gì tuyệt nhất trên đời. Tấn chưa từng yêu ai, chưa từng hôn ai, nên không thể so sánh, nhưng cứ tưởng tượng ra được hôn em một lần.. chắc chết quá! Anh rùng mình, khoanh hai tay lại thật chặt, xuýt xoa một mình.

Mặt trời từ từ lên. Nhà cửa vùn vụt lướt qua. Rồi sông, rồi rạch, rồi “Bắc” Mỹ Thuận.

Tiếng trẻ con rao quà, tiếng mấy bà hàng chào mời làm Tấn chóng mặt. Anh đang đói cồn cào, nhưng ráng nhịn. ” Mận đây, một chục mười sáu đơi, mua dô đi bà con! Mãng cầu không hột đơi, chú ơi! Thơm đây, này chú coi, thơm của con ngọt như đường, chú ăn thử miếng coi.”, “Cà lem đơi, ai ăn cà lem cây không? Cà lem ngọt như đường cát, mát như đường phèn đơi!” Thôi, lờ đi, tối nay thể nào cũng ăn bù.

Tấn quay mặt nhìn ra xa, nơi bờ sông có những con đò nhỏ chèo tay song song với chiếc phà khổng lồ. Từng đợt sóng từ chiếc phà chồm lên con đò con đầy người làm Tấn hãi hùng, nhưng người đi đò và người chèo đò vẫn tỉnh bơ, họ đã quen với sóng, với nước, với số phận rồi. Anh không thấy ai có vẻ bôn chôn mỗi khi con đò chòng chành muốn chao nghiêng. Tấn thích thú và thấy lạ nhất là những người con gái đứng  hai tay hai chèo, nhịp nhàng như múa. Anh cứ dán mắt vào đấy, làm như say mê, nhưng một phần cũng để làm ngơ không nghe thấy, không nhìn thấy những đứa trẻ giơ lên ngay trước mặt những sâu chim quay đỏ úa. “Chim cu quay đơi, chú ơi! Chú mua chim cho con đi chú!”, “Chú vào ăn cơm tôm, cơm trứng đi chú! Cơm chim quay, gà quay, dịt quay đơi, tôm chiên, cá chiên, trứng chiên đơi, chú ơi!” Chữ “chiên” biến thành “chiêng”, chữ “đây” biến thành chữ “đơi,” rồi chữ “ơi!” được mấy đứa bé kéo dài, ngân nga làm Tấn nuốt nước bọt liên tục. Từ tối hôm qua, ăn cơm ở nhà anh Huyền tới giờ, Tấn chưa có gì bỏ bụng. Còn 10 đồng phải thủ, lỡ không có cơm tối mà ăn thì khổ. Tấn nhất định nghiến răng bỏ qua cơn cám dỗ quá hấp dẫn của những mùi thơm ngào ngạt, đợi giờ phà cập bến.

Phà trôi xình xịch trên một nhánh sông Cửu. Anh nhìn theo những chùm lục bình chầm chậm lướt qua với những bông hoa trắng mập mạp làm gợi nhớ đến những cô gái Nam Kỳ với áo cánh trắng, quần đen, dịu dàng, thon thả, đầy đặn, và cặp má căng phồng. Những cô gái hiền lành, chân chất, chỉ thoáng nhìn qua mấy chàng trai lạ rồi vội quay mắt đi như chạm phải điện.

Phà ngừng lại sau khi dập vào bờ cái “ình.” Anh theo dòng người xuống bắc, lên xe lôi về tỉnh lỵ. Ở đây thịnh hành hai loại xe lôi; một loại đạp, thay vì người đạp ngồi  phía đằng sau như xích lô, lại ngồi phía đằng trước, lôi theo một cái thùng trên có hai, ba người, loại kia gắn bằng máy xe “Gơben,” mạnh hơn ngựa.

Tấn theo hai người khác đi chung một xe máy lôi. Phong cảnh của vùng phụ cận Sa đéc làm anh thấy háo hức quá. Hai bên đường là những bụi dừa hay bình bát, loại giống như trái mãng cầu nhưng không ăn được, chỉ cầm mút mút. Những mái nhà tranh, tôn thấp thoáng sau hàng dậu. Những con rạch nhỏ chạy ngang dọc, sâu tuốt vào tận chỗ nào đó, mà Tấn bồi hồi muốn đi theo. Những chiếc xuồng ba lá nhỏ gắn máy đuôi tôm chạy xành xạch, xành xạch, lướt sóng vì vèo dưới những chiếc cầu khỉ bắt bằng mấy thân cây cong queo. Xe chạy qua Nha Mân, qua một cây cầu sắt. Tấn nhìn quanh tìm bóng dáng những  người con gái mà anh Huyền có tả: “gái Nha Mân trông mòn con mắt,” nhưng chỉ thấy những người lao động gánh gồng ngược xuôi và những bà cụ móm mém nhai thuốc, nhổ những bãi xuống đất đỏ quẹt. Trong một giây lát, khi óc anh gợi  tới câu ví von đó, Tấn lại nhớ đến người con gái bán ba tên Kim, người đã làm anh hụt thở, đã làm trái tim anh đập thiếu nhịp. Kim ơi! Bây giờ em đang ngồi bên cạnh những tên háo sắc, những thằng bặm trợn hay đang đi lang thang một mình như hôm nào, anh gặp em? Kim có nhớ tới anh không hay chỉ coi anh như một gã giang hồ bất chợt đến, bất chợt đi khỏi đời em, như những cơn mưa Sài Gòn, ào ạt đổ xuống trong vài phút rồi lại khô ráo ngay? Tấn thở dài, hồi này anh hay thở dài, còn nhiều hơn cả lúc nhịn đói cả hai, ba ngày.


Tấn bồi hồi bước xuống xe, nhìn quanh quất. Một ngôi nhà thờ nằm gần ngay cây cầu sắt dẫn vào tỉnh lị. Bên này cầu là trung tâm chợ búa và bến xe lôi. Bức tường cổng chợ được xây từ hồi nào đó xưa lắm rồi, nay đã loang lổ, dơ hầy. Tượng con cọp nổi đắp trên tường đang nhe nanh  múa vuốt hù dọa người mới đến. Tấn tà tà đi sâu vào trong chợ. Nhà lồng chợ dài hun hút, chứa cả ngàn người chen chúc nhau bên những gánh cá còn tươi. Mấy con cá lóc nằm trong khay nhôm cứ long tong nhẩy ra ngoài. Cá trê sắp hàng nằm dài trên thớt đợi người mua xong là bị chặt “bụp.” Tôm tép bầy cạnh những rổ cà chua, cà rốt. Khu hàng thịt bớt ồn hơn với những bà bán thịt tay lăm lăm con dao to bản, sắc lẻm. Một tiệm cơm thố ở đầu chợ bầy một chồng những mẹt cơm được nén chặt trong những chiếc chén. Ông chủ tiệm người Hoa, ngực trần, bụng phệ, rốn lòi ra ngoài, tay ve vẩy chiếc chổi lông gà đuổi ruồi. Tấn nhìn hết phong cảnh chợ xong mới đi ra tìm đường tới trường học Nguyễn bá Học, nơi Tấn sẽ là thầy giáo. Trường cũng không khó tìm. Từ đầu chợ đi thẳng ra bờ sông, quẹo trái, đi thêm một đỗi nữa, qua một cái đình, là thấy Trường là ngôi nhà dài, nằm sát văn phòng có hai lầu. Cạnh văn phòng là một căn nhà độc, thấp, cửa đóng kín, không thấy nóc, loại nhà nóc bằng cũ kỹ. Kế đó là một nóc nhà ba gian, cổ điển, sơn tróc ra từng mảng.

Đứng nhìn các cửa trường đóng kín, văn phòng đóng kín, Tấn bối rối mãi không biết làm sao, đành bước tới căn nhà ba gian kia, gõ cửa. Từ trong có tiếng vọng ra:

-Chờ chút.

Chừng hai phút sau, có tiếng guốc mộc lọc cọc. Cánh cửa nặng nề mở ra. Từ bên trong, một ông lão quắc thước, ngực trần nổi múi, mặc quần cụt, bước ra ngoài, nhìn Tấn, thắc mắc:

-Cậu hỏi chi?

Tấn lúng búng trong miệng:

-Dà, tôi hỏi thăm về trường học.

Ông cụ soi mói:

-Trường học chi?

Chỉ tay về phía trường, Tấn lắp bắp:

-Trường này đó, trường Nguyễn bá Học đó.


Ông cụ bắt đầu gắt:

-Thì ai hổng biết đó là trường Nguyễn bá Học. Tui ở đây từ hồi mới mở lận.

Tấn bắt đầu đỏ mặt:

-Dạ, dạ, tôi muốn hỏi thăm… về một ông thầy ở đây. Không biết văn phòng ở chỗ nào và làm sao gặp được.

-Thầy nào? Cậu cứ nói đi, tui chỉ cho.

-Thầy Hiếu. Tôi muốn gặp thầy Hiếu. Bác làm ơn chỉ giùm.

Ông già nheo nheo mắt:
-Mờ, gặp thầy Hiếu làm chi?

Lúng túng hơn, Tấn chỉ vào ngực mình:

-Tôi.. tôi là thầy giáo. Muốn tìm thầy Hiếu.

Suy nghĩ một chút, ông lão mới “à” lên một tiếng, có lẽ không tin đây là một thầy giáo “con nít:”

-Thầy đây là thầy giáo mới hả? Tui hổng biết trước. Thầy giáo Hiếu dề rồi.

 
-Về? Về đâu? Tấn chới với.

-Dề Sè goòng chứ dề đâu nữa! Thẩy dề hồi chiều lận!


Tá hỏa tam tinh, Tấn không tin tai mình nữa:


-Thật không, bác? Thầy Hiếu về Sàigon rồi hả?

Vẻ mặt ông già cau lại:

-Tui nói thầy hổng tin thì thui.

Rồi ông với tay, muốn  đóng sập cửa lại. Tấn vội giữ tay ông già:


-Xin lỗi, tôi không muốn nói vậy. Ai nói không tin bác đâu. Tôi chỉ hỏi vậy thôi.


Ngẫm nghĩ một lúc, Tấn hỏi tiếp:


-Vậy, hôm nào thầy Hiếu mới lên lại?


-Tui hổng rõ ạ. Chiện của mấy thầy, tui chỉ biết tới đó thui.


-Vậy, vậy, thầy Hiếu thường hay ở đâu? Có chỗ ở trong trường không?


-Có chứ! Thầy muốn hỏi chỗ ở hả? Sao hổng nói đại đi cho rồi?


Giơ tay chỉ về phía một căn nhà độc lập sát cạnh văn phòng trường, ông già nói:


-Đó, ở chỗ đó đó. Thầy muốn, thì tui đưa chìa khóa cho thầy. Tui cho thầy mượn cái đèn luôn. Thầy chờ tui.


Ông già quày quả quay vào trong. Một lát sau thì ra với một cái chìa khóa to, một cây đèn dầu lớn và một hộp diêm:


-Thầy cầm lấy. Chừng nào thầy cần cái chi thì cứ gọi tui. Tui là ông Mười, gác dan cái trường này.


Chỉ tay ra phía trường, ông nói tiếp:


-Chỗ đi cầu ở phía sau trường. Thầy đi qua văn phòng, quẹo trái, ra cái cổng sau, qua một cái vườn chuối, qua cây cầu nhỏ, thì thấy dẫy cầu tiêu đó. Thầy đừng có đái bậy ở bờ sông, cũng đừng có ỉa ở sau nhà, thúi rùm, học trò nó kiện cho.

Coi bộ ông già này khi dễ mình, nhìn tướng tá còn nét thư sinh, quần áo tầm thường, chắc ông già chê mình thầy giáo nghèo, mới ra lò, nên nói huỵch toẹt “đái, ỉa” tỉnh bơ. Cóc cần. Kệ nó. Đời mà! Có chỗ để ngủ qua đêm không phải lo tiền là tốt rồi. Cám ơn trời.

  
Tấn nhìn kỹ lại toàn bộ khung cảnh căn nhà và trường học. Đây thuộc về một nơi gọi là tỉnh, y hệt như những tỉnh lỵ khác. Điểm mở đầu tỉnh là một cây cầu sắt. Qua cầu là tới một ngôi chợ y hệt kiểu trong các tác phẩm tả về tỉnh lỵ ngày xưa, nghĩa là một cái khung nhà cao, có nhiều cột, trong đó, người ta bày bán đủ mọi thứ đồ ướt. Trừ quầy bán thịt, người bán hàng thường ngồi trên ghế hoặc trên xạp, người mua hay ngồi xổm xuống trả giá. Trước cửa chợ, một bức tường có khảm con cọp hoặc con lân đứng chào đón. Hai bên ngôi nhà chính là những dãy nhà bán tạp hóa, bán đồ khô. Qua dẫy tạp hóa là các tiệm ăn, đa số là hủ tiếu, cơm thố, cà phê “xây chừng” tức là cà phê đen, không có đường. Dân uống cà phê ở đây thích uống kiểu cầm ly cà phê đổ ra cái đĩa, rồi húp tại đĩa hơn là uống trong ly. Qua chợ là tới một con đường dẫn ra bờ một con sông nhỏ mà nếu gọi là lạch cũng đúng vì có nhiều cây cầu bắc qua sông cho người đi chợ. Cầu thường làm bằng khung sắt, ván gỗ. Đi qua cầu thường nghe tiếng rít rít dưới chân, tiếng kêu khẹt khẹt của những tấm ván gỗ trở mình.

Đường vào trường học nơi mà Tấn sẽ dạy học là một con đường tráng nhựa nhưng vì lâu quá không tu sửa, nên vỡ lung tung. Đi bộ một khoảng chừng mười lăm phút sẽ tới trường là một kiến trúc dài một tầng với mái ngói cũ nâu, không có tường bao quanh. 


Tấn mỉm cười chờ đợi một tương lai mới không bảo đảm.

Chương mười một

Chuẩn bị bắt cóc

Từ hồi chiều Ba Lẹm đã tỏ ra bực mình, đứng ngồi không yên. Tay luôn luôn vê vê điếu thuốc đỏ rực, vì Ba Lẹm hít liên tục nhưng lại nhả ra ngay. Những làn khói thuốc tràn ngập căn phòng làm mấy tên đàn em ho húc hắc không ngừng. Tư Đầu Đinh, mặt lỗ chỗ như những lỗ đầu đinh, cười cầu tài:


-Đại ca hôm nay hít thóc như chơi kèn xắc xô.


Ba Lẹm quắc mắt:

-Đ. m! mày nói cái gì? Mày nói tao thổi kèn hả?

Tên đàn em sợ hãi, líu lưỡi:


-Dạ, dạ.. em nói giỡn mà! Em nói đại ca hút thuốc như Lu-I Am Rong.


Câu nói càng làm cho Ba Lẹm nổi nóng:


-Lui I  là cái thằng chó gì?Thằng tây lai Vua chôm đồ ở Chợ Dân Sinh hả?


Tư Đầu Đinh tái mặt:


-Hổng phải, đại ca! Lui I Am Rong là “dua” chơi kèn xắc xô ở Mỹ đó. “Dua” nhạc “Da” mà đại ca!


Nghe đàn em nịnh mình ngang với “dua” nhạc “da”  thì Ba Lẹm nhẹ người đi. Hắn hậm hừ:


-Đ.m! Một chữ Mỹ bẻ làm đôi không được mà bày đặt “nhạc da,” nhạc thịt. Thôi! dẹp đi mày!


Cả bọn câm như hến. Mãi một lúc sau, Út Lé mới dám lên tiếng:

-Bộ… bộ… đại ca hôm nay có chiện không dui hả?


Đực Thỏ Đế nhân tiện nhào dô, ăn ké:


-Tụi em thấy đại ca không dui, tụi em cũng không dui.


Không trả lời, Ba Lẹm chỉ “hừ”  một tiếng trong miệng. Lũ côn đồ lại im. Chập sau, Tư Đầu Đinh mới lên tiếng:


-Thằng nào, con nào mà dám làm cho đại ca buồn, tụi em dợt nó cho, đại ca.


Lúc đó, Ba Lẹm mới nhìn lên:


-Mày dám chơi ngon không?


Được đại ca hỏi tới, Tư Đầu Đinh hất hàm, hãnh diện:


-Ngon chứ, đại ca! Đại ca cứ nói đi, tụi em mần cho.


Hút một hơi thuốc xong, Ba Lẹm mới thủng thẳng nói:


-Tao dư biết tụi bây ngon. Nhưng mà tao còn ngại tụi bây không ngon cho trót.

Cả ba đứa du đãng cùng đồng thanh chồm tới:

-Đại ca nói đi, tụi em chơi tới cùng luôn.

Tư Đầu Đinh còn khuỳnh hai tay ra, gồng bắp thịt lên, biểu diễn:


-Hông ngon hổng phải Tư Đầu Đinh đâu, đại ca.

Hai đứa kia cũng hít hơi, nắm tay. Út Lé bĩu môi:

-Chưa chắc ai đã hết mình vì đại ca. Còn tụi em, tụi em hết lòng vì đại ca.

Ba Lẹm mỉm cười, hả dạ:

-Tao biết tụi mày đứa nào cũng ngon hết á. Nhưng mà chỉ khi chưa gặp dịp thôi. Gặp cớm là bỏ chạy có cờ luôn.

Cả ba đứa côn đồ đều hăng máu:

-Dỡn hoài, đại ca! Em đâu có nhát hít dậy.

Ỡm ờ, Ba Lẹm búng tay cái “chóc:”

-Để coi đứa nào nhát hít hay không thì biết.

Rồi Ba Lẹm xuống giọng:

-Ngồi sát lại đây, tụi bay.

Lũ du đãng xích lại, mở to mắt, há mồm, chờ đợi.

Ba Lẹm nghiến răng lại rồi mới nói:

-Tụi bay biết con Kim Salem ở ba Mây Hồng không?

Tụi đàn em nhau nhau lên:

-Biết chứ, Đại ca!

Gật gật đầu, tên trùm du đãng tiếp:

-Tụi bay biết tao thích nó chớ! Con nhỏ hấp dẫn quá chứ, tao chịu hết nổi mà nó cứ làm bộ làm tịch, õng ẹo, không chịu đi với tao.

Tư Đầu Đinh lanh miệng:

-Ậy, đại ca tính lượm nó dề đây hả?


Ba Lẹm lườm thằng đàn em:


-Mày, cái miệng tài lanh, coi chừng có ngày cớm nó dợt mày té cứt trong quần đó!


Tư Đầu Đinh mắc cỡ:

 
Em… em chỉ đoán dậy thôi.


Tên đại ca mỉm cười:

 
-Coi vậy mà mày nói trúng đó. Tao định xớt nó về đây mấy bữa.


Nghiêm nét mặt lại, Ba Lẹm nhìn từng đứa đàn em một:


-Tụi bây có dám giúp tao không? Mà.. nhớ rằng, có thể bị cớm nó dợt cho te tua, tụi bây chịu không? Thằng nào chịu thì giơ tay, thằng nào thỏ đế thì rút, tao không ép.

Ba tên du đãng nhìn nhau trong hai phút rồi cùng giơ tay lên:


-Em.. tụi em chịu theo đại ca tới cùng.

  
Đực Thỏ đế nắm tay lại, giơ lên cao:


-Chịu chơi, chơi chịu!


Ba Lẹm đập tay vào vai Đực thỏ Đế:


-Tao biết mà! Coi vậy chớ mày đâu có thỏ đế đâu. Tụi bây đứa nào cũng ngon. Rồi! đi theo tao ra ngoài tiệm, tao cho tụi bây nhậu một chầu gẫy gọng luôn.


Mấy tên đàn em hớn hở, vỗ tay. :


-Đã đời nghe, đại ca!


Út Lé lắc lắc cái đầu:


-Nhậu đã rồi tới khu chị Ba Lượm nghe, đại ca!


Tên đầu sỏ “hừ” một tiếng:


-Mẹ! mày lại muốn thăm con Thắm chớ gì!


Rồi cười hăng hắc:

-Coi chừng nó cho mày hai cái hột xoài nữa thì chết mẹ! Năm hũ “pêni” mới trị được đó.

 
Cả lũ cười ầm ầm, khoái chí. Tư Đầu Đinh xoa tay:

 
-Mới năm ngoái nó bị hai cái hột xoài, đi cà nhắc cả tháng trời mà chưa tởn.


Út Lé cười gượng:


-Đâu phải con nhỏ đó, đại ca! Em nghi con Liên Bù Loong  nó hại em đó, chứ con Thắm này dân quê mà, mới ở miệt vườn Thủ Thiêm lên mà, làm sao có hột xoài được!


-Để coi, mầy! Nó không cho mày hột xoài thì lại làm cho mày đái ra máu thì càng chết mẹ!

 
Mấy tên du đãng cười vang rồi kéo nhau đi.

  
Xóm lao động lại tiếp tục những tiếng con nít khóc la, tiếng bố mẹ chửi mắng, tiếng chó sủa gâu gâu, tiếng đục, tiếng búa loong coong, lách cách.

 
Chiều tối xuống. Vài nhà đã bắt đầu lên đèn.

(Còn tiếp)

You may also like

Verified by MonsterInsights